Welcome, Guest
You have to register before you can post on our site.

Username
  

Password
  





Search Forums

(Advanced Search)

Forum Statistics
» Members: 6
» Latest member: MaiThao
» Forum threads: 547
» Forum posts: 549

Full Statistics

Online Users
There are currently 2 online users.
» 0 Member(s) | 2 Guest(s)

Latest Threads
Chúa Nhật XII Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
11 hours ago
» Replies: 0
» Views: 1
Chúa Nhật Lễ Kính Mình và...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
06-15-2017, 07:14 AM
» Replies: 0
» Views: 18
Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
06-08-2017, 08:08 PM
» Replies: 0
» Views: 14
Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh T...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
06-01-2017, 05:09 PM
» Replies: 0
» Views: 24
Chúa Nhật VII Phục Sinh N...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
05-26-2017, 04:09 AM
» Replies: 0
» Views: 21
Chúa Nhật VI Phục Sinh – ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
05-18-2017, 05:00 PM
» Replies: 0
» Views: 20
Chúa Nhật V Phục Sinh – N...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
05-11-2017, 06:29 PM
» Replies: 0
» Views: 26
Chúa Nhật IV Phục Sinh – ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
05-04-2017, 04:27 PM
» Replies: 0
» Views: 24
Chúa Nhật III Phục Sinh –...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
04-27-2017, 12:59 AM
» Replies: 0
» Views: 34
Chúa Nhật II Phục Sinh – ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
04-21-2017, 01:51 AM
» Replies: 0
» Views: 38

 
Information Chúa Nhật XII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 11 hours ago - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Đừng Sợ!

Giữa bao nỗi sợ của cuộc sống hằng ngày, người tín hữu sẽ tìm được nơi ẩn náu nhờ sự phó thác cậy trông vào Chúa. Nhờ ơn nâng đỡ của Ngài, chúng ta không còn sợ hãi. Nhờ phúc lành của Chúa, những lo lắng ưu sầu của cuộc sống sẽ biến thành niềm vui và hy vọng.

Cuộc sống xung quanh chúng ta có biết bao nỗi sợ. Từ trong nhà ra ngoài phố, chúng ta có thể gặp nguy hiểm bất kỳ lúc nào. Ngoài những nỗi lo cơm áo gạo tiền, con người còn phải lo sợ trước sự bon chen, mưu mô, thủ đoạn của người đời. Trước những lo sợ bủa vây tứ phía, người ta đối phó bằng nhiều cách khác nhau: có những người buông xuôi phó mặc cho dòng đời trôi dạt, hoặc thỏa hiệp với sự dữ, làm điều bất chính. Có những người can đảm vững tâm, vượt thắng mọi sợ hãi, thanh thoát giữa đời. Người tín hữu chúng ta được Chúa Giêsu trấn an khích lệ: "Đừng sợ!".

Ông Bà ta thường nói: "Cây ngay không sợ chết đứng". Điều này có nghĩa là chúng ta cứ sống theo sự thật, vì sự thật sẽ giải thoát và minh oan cho chúng ta. Một cuộc sống gian dối, bao che sẽ đến lúc phơi bày ra ánh sáng. Ngôn sứ Giêrêmia là một người công chính, nhưng ông bị bách hại, đe dọa và vu khống đủ điều. Những kẻ thù ghét ông đã gọi ông là "Lão tứ phía kinh hoàng". Tuy vậy, ông vẫn một lòng cậy trông vào Chúa. Ông tin rằng, Chúa sẽ phù trợ ông. Ngài cũng sẽ minh oan cho ông, vì ông sống ngay thẳng. Bài đọc I là lời cầu nguyện của ngôn sứ Giêrêmia trong cơn bách hại. Đó cũng là lời khuyên những ai sống công chính mà bị ghen ghét, hãy cậy trông vào Chúa và hãy sống ngay lành trong bất kỳ hoàn cảnh nào. "Đức Chúa hằng ở bên con, như một trang chiến sĩ oai hùng...". Thiên Chúa là Đấng phán xét công minh. Ngài thấu hiểu lòng dạ con người. Ngài thương xót và cứu vớt những ai sống ngay lành thánh thiện. Những ai cậy trông Chúa, Ngài chẳng bỏ rơi bao giờ.

Chúa Giêsu tiếp nối giáo huấn của Cựu ước. Người khuyên chúng ta đừng sợ những người chỉ giết được thân xác mà không giết được tâm hồn. Chúa nhắc chúng ta, "hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục". Đấng ấy chính là Thiên Chúa. Tuy vậy, sự "sợ hãi" này không giống như sợ hãi trước sự đe dọa khủng bố hoặc bách hại. Sự sợ hãi mà chúng ta dành cho Chúa đi kèm với sự "kính mến", nên chúng ta còn gọi đó là sự "kính sợ". Sự kính sợ này không làm cho chúng ta xa cách Chúa, trái lại, giúp chúng ta vững chí cậy tin. Vì vậy, liền sau đó, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy nhận ra sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa, đồng thời phó thác trọn vẹn cuộc sống của chúng ta nơi Ngài, để Ngài dẫn dắt và che chở chúng ta trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Hai hình ảnh được Chúa Giêsu nêu để chứng minh sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa, đó là con chim sẻ và sợi tóc trên đầu. Những vật xem ra là tầm thường và vô giá trị, mà cũng được Chúa quan tâm. Con người chúng ta đáng giá bội phần, vì mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa, có ý chí, tự do và trách nhiệm về những hành vi cử chỉ của mình.

Sự kính sợ Chúa còn dẫn chúng ta đến việc mạnh dạn tuyên xưng đức tin nơi Ngài. Người tín hữu là người tuyên xưng đức tin trong mọi lãnh vực, mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Việc mạnh mẽ can đảm tuyên xưng đức tin như một điều kiện "nhân - quả" cho hạnh phúc đời sau. Bởi lẽ, nếu chúng ta tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu, thì chính Người sẽ "bảo lãnh" cho chúng ta trước tòa Chúa Cha. Thánh Phaolô quảng diễn điều này khi so sánh Đức Giêsu với ông Ađam. Do ông Ađam mà sự chết thống trị. Nhờ Đức Kitô mà thế gian được sống. Đức Kitô là nguồn ân sủng dồi dào của Thiên Chúa. Những ai đón nhận Người, thì được ngụp lặn trong nguồn ân sủng phong phú đó. Nhờ đó, họ không còn sợ hãi, nhưng vững lòng cậy tin (Bài đọc II).

Giữa bao nỗi sợ của cuộc sống hằng ngày, người tín hữu sẽ tìm được nơi ẩn náu nhờ sự phó thác cậy trông vào Chúa. Nhờ ơn nâng đỡ của Ngài, chúng ta không còn sợ hãi. Nhờ phúc lành của Chúa, những lo lắng ưu sầu của cuộc sống sẽ biến thành niềm vui và hy vọng. Thực tế đã chứng minh cho chúng ta, người tin tưởng vào Chúa luôn lạc quan, vì họ xác tín rằng Chúa luôn đồng hành với họ trên mọi nẻo đường. Khi khích lệ chúng ta: Đừng sợ! Chúa cũng sai chúng ta lên đường để kể lại những điều lạ lùng Chúa đã và đang làm cho mỗi chúng ta. Như thế, chúng ta sẽ góp phần giảm thiểu những nỗi sợ hãi đang ám ảnh nhiều người trong cuộc đời.

Sống ngay lành và thánh thiện; vững vàng phó thác và cậy trông nơi Chúa quan phòng, đó chính là thông điệp mà Lời Chúa hôm nay muốn gửi đến chúng ta.

"Quyền lực có hai dạng: một sinh ra từ nỗi sợ hãi bị trừng phạt, và một sinh ra từ những hành động yêu thương. Quyền lực dựa trên tình yêu hàng nghìn lần hiệu quả và lâu dài hơn quyền lực dựa trên sợ hãi" (Mahatma Gandhi).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Biết Sợ

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 10, 26-33

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Có những người quá nhát sợ. Gặp con dán hay con chuột cũng co rúm người, mặt cắt không còn giọt máu. Có những người, trái lại, chẳng biết sợ là gì. Coi mạng sống nhẹ như tơ. Lên xe là phóng như bay. Liều lĩnh thường thiệt mạng. Nhút nhát quá đâm hỏng việc. Một đàng bất cập, một đàng thái quá. Vì thế vấn đề không phải là sợ hay không sợ. Vấn đề là phải biết phân định. Biết những gì nên sợ và những gì không nên sợ. Hôm nay Chúa Giêsu giúp ta phân định để biết sợ và không biết sợ.

Trước hết, Người dạy ta biết phân định giá trị. Sự sống là quí giá ta phải trân trọng. Mất sự sống là mất tất cả. Tuy nhiên sự sống có nhiều cấp độ. Có sự sống thân xác nhưng cũng có sự sống linh hồn. Có sự sống đời này nhưng không có sự sống đời sau. Sự sống đời này là chóng qua. Sự sống đời sau vĩnh cửu. Sự sống thân xác mau tàn. Sự sống linh hồn bất diệt. Ta phải yêu quí cả hai sự sống. Nhưng khi không thể giữ gìn vẹn toàn cả hai thì phải biết chọn sự sống cao quí, vĩnh cửu, đó là linh hồn, là sự sống đời sau.

Người cũng dạy ta phân định thời cơ. Thời cơ chỉ đến một lần. Lỡ thời sẽ không bao giờ tìm lại được nữa. Lỡ thời có thể hỏng cả cuộc đời. Có thời cơ để rao giảng Lời Chúa. Hiện nay, Lời Chúabị che giấu, chỉ thì thầm bên tai, còn nhiều người chưa biết. Ta được cơ hội đóng góp phần mình vào việc rao truyền Lời Chúa. Nhưng sẽ đến ngày mọi sự kín đáo sẽ tỏ lộ. Lời Chúa sẽ được mọi người nhận biết. Bấy giờ cơ hội sẽ hết. Có thời cơ tuyên xưng danh Chúa. Khi còn ở trần gian, giữa những người chưa biết Chúa, giữa những thế lực thù địch, trong cơn gian nan, chính là cơ hội cho ta tuyên xưng danh Chúa. Khi cuộc đời trần gian chấm dứt, cơ hội đó sẽ không còn.

Và sau cùng là phân định nguyên lý. Thiên Chúa là chủ mọi loài. Thiên Chúa nắm quyền sinh tử. Thiên Chúa an bài mọi sự. Con người chỉ là quản lý của Chúa trong một thời gian, trong một vài lĩnh vực. Khi thời gian chấm dứt, chính Thiên Chúa xét xử và thưởng công, trừng phạt.

Khi đã có những phân định rõ ràng ta sẽ biết sợ và biết không sợ.

Biết sợ Chúa là Chủ tể mọi loài, mọi sự. Không những làm chủ thân xác mà còn làm chủ cả linh hồn. Không những làm chủ đời này mà còn làm chủ cả cuộc đời sau.

Biết sợ mất linh hồn. Linh hồn là món quà cao quí nhất Thiên Chúa tặng cho con người. Sự sống của linh hồn là sự sống Thiên Chúa ban, hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa. Mất linh hồn là mất tất cả. Như Chúa Giêsu vẫn nhắc nhở: "Được lời lãi cả thế gian mà phải mất linh hồn thì nào được ích gì?".

Biết sợ lỡ thời cơ. Hãy biết làm việc khi còn ban ngày, khi trời còn sáng, khi ta còn sống. Thời cơ chỉ đến một lần, nếu ta không tận dụng sẽ lỡ cả một đời. Như những cô trinh nữ khờ dại chỉ còn đứng ngoài cửa Thiên đàng mà than khóc. Như người đầy tớ lười biếng chôn giấu nén bạc phải khóc lóc nghiến răng.

Khi đã biết sợ như thế, ta sẽ không sợ người đời, vì người đời chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Ta sẽ không sợ mất mạng sống, vì sự sống thân xác nay còn mai mất, chẳng tồn tại lâu dài. Ta sẽ không sợ hình khổ hạ thân xác, vì khổ hình rồi cũng sẽ qua.

Nói không sợ cũng không đúng hẳn. Đau đớn khổ cực ai mà không sợ. Nhưng như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu, dù sợ vẫn cứ bước vào cuộc khổ nạn, Người môn đệ vẫn can đảm tuyên xưng danh Chúa, vẫn kiên trì rao giảng Lời Chúa, chấp nhận tất cả những khó khăn hiểm nguy đe doạ, rình rập, chấp nhận những đau đớn thua thiệt chóng qua đời này, với niềm tin vững chắc rằng chính Thiên Chúa là Cha nhân lành an bài mọi sự, Người sẽ ban thưởng cho ta phần thưởng không gì so sánh được, đó là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Amen.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU
  1. Bạn đã từng bị những nỗi sợ nào đè nặng. Những nỗi sợ đó có chính đáng không?
  2. Sống đạo là chấp nhận thiệt thòi. Bạn có dám chấp nhận thiệt thòi vì Chúa không?
  3. Muốn trung thành với Chúa, bạn làm cách nào để tránh được những nỗi sợ do người đời đem đến?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Huế





Print this item

Information Chúa Nhật Lễ Kính Mình và Máu Chúa Kitô Năm A
Posted by: LongHai - 06-15-2017, 07:14 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Tấm Bánh Tình Yêu

Mỗi khi chiêm ngắm Thánh Thể Chúa, tôi không ngừng ngỡ ngàng trước tình yêu của Người. Tình yêu ấy vô cùng cao cả nhưng lại rất đỗi đơn sơ. Đơn sơ như hình ảnh tấm bánh.

Tấm bánh, tình yêu gần gũi.

Sao Chúa không hoá thân làm viên kim cương quý giá mà lại làm một tấm bánh? Tấm bánh bình thường, quen thuộc quá. Từ khi kinh tế phát triển, bánh càng ngày càng xuống giá, bớt được quý trọng.

Tuy bình thường, nhưng bánh vẫn là lương thực cần thiết cho con người. Cũng như khí trời, như nước, bánh đi vào sinh hoạt hằng ngày của con người. Bình thường lắm nhưng không có không được.

Chúa trở thành tấm bánh để gần gũi với loài người, để đi vào sinh hoạt đời thường của con người. Con người có thể đến với Chúa dễ dàng, không e ngại, sợ sệt. Chỉ là một tấm bánh vừa tầm tay mọi người. Chỉ là một tấm bánh sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của con người. Thật khiêm nhường mà đầy ý nhị.

Thật đơn sơ nhưng cũng thật sâu xa vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến.

Tấm bánh, tình yêu tự hiến.

Bánh sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu chỉ để trưng bày cho người ta chiêm ngắm. Bánh chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng. Được sử dụng là bị bẻ ra, bị nghiền nát, bị tan biến, bị tiêu hoá. Vì thế, trở thành tấm bánh là chấp nhận chịu đau đớn, chịu huỷ hoại. Đây không phải là một chấp nhận bất đắc dĩ, vì tấm bánh bao giờ cũng mời mọc tiêu thụ.

Khi xưng mình là bánh bởi trời, Chúa Giêsu bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, tan biến, chịu chết cho nhân loại. Chúa chịu chết cho ta được sống. Chúa chịu huỷ hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa bé nhỏ đi cho ta được lớn mạnh.

Tấm bánh bị tiêu hoá để thực hiện một tình yêu hiệp thông.

Tấm bánh, tình yêu hiệp thông.

Chúa Giêsu tha thiết với sự hiệp thông. Người không ngừng mời gọi con người đến sống thân mật với Người. Người tự nhận mình là cây nho và mời gọi mọi người hãy trở thành cành nho gắn kết với cây nho.

Hôm nay, Người còn chủ động trở thành tấm bánh để hoà vào từng giòng máu, từng thớ thịt của con người trong một kết hiệp sâu xa. Người tự tiêu huỷ mình để trở thành thịt máu của con người. Không còn sự kết hợp nào sâu xa khăng khít hơn nữa.

Tấm bánh gợi lên một bàn tiệc tại đó anh em quây quần trong tình thương, chia sẻ lương thực và chia sẻ tâm tình. Không còn gì đẹp hơn. Chính Chúa Kitô tự hiến mình để quy tụ chúng ta. Chính Chúa Kitô bị bẻ ra để cho tình huynh đệ nhân loại được mặn mà thắm thiết.

Với những gợi ý như thế, Chúa hướng dẫn tôi trong tình yêu mến, trong cử hành và trong cách sống Bí tích Thánh Thể.

Yêu mến Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là trở nên hiền lành khiêm nhường, sống gần gũi với những người nhỏ bé nghèo hèn?

Cử hành Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là chấp nhận hao mòn, quên mình, thiệt thòi vì Chúa và vì anh em?

Sống Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là xây dựng tình đoàn kết, tình huynh đệ với những người sống quanh ta, trong mọi môi trường cuộc sống?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con cảm tạ tình yêu vô biên của Chúa. Con chúc tụng ngợi khen Chúa muôn đời. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Khi dâng lễ, tấm bánh có gợi lên cho bạn điều gì về tình yêu của Đức Giêsu không?
  2. Khi bạn rước lễ, bạn có cảm nghiệm được tình yêu của Chúa không?
  3. Phép Thánh Thể thôi thúc bạn làm gì?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


"Thịt và Máu"

Khi cử hành trọng thể lễ kính Mình và Máu Đức Kitô, Giáo Hội mời gọi chúng ta đừng quên sự hiện diện huyền nhiệm của Chúa Giêsu trong Bí tích cực trọng này. Trong bảy bí tích Chúa Giêsu đã thiết lập, bí tích Thánh Thể được gọi là "Bí tích rất thánh – Sancti – Saint Sacrement".

Thịt và máu là hai yếu tố căn bản làm nên một thân xác con người. Thịt và máu cũng là biểu tượng của sự gắn bó liên kết. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể, tức là làm cho bánh trở nên Thịt Người và rượu trở nên Máu Người. Qua bí tích này, Chúa muốn ở lại với nhân loại, để đồng cam cộng khổ với con người của mọi thời đại. Cũng qua bí tích này, Chúa cho phép con người được gắn bó với Chúa, nhờ ăn uống Thịt và Máu Người, là lương thực thần linh. Lương thực này vừa ban sức sống thiêng liêng cho con người khi còn tại thế, vừa là bảo đảm cho họ được sự sống đời đời.

Bí tích Thánh Thể là sự kết hợp thiêng liêng với Chúa Giêsu. Trong cuộc tranh luận với người Do Thái, Chúa Giêsu đã khẳng định: "Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy". Nhờ việc rước lễ, người tín hữu được ở trong Chúa Giêsu. Hơn thế nữa, một cách nào đó, họ được trở nên chính Chúa, để rồi họ có thể nói như Thánh Phaolô: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là chính Chúa Giêsu sống trong tôi" (Gl 2, 20). Khi ta ăn uống lương thực và thực phẩm, thì các loại lương thực và thực phẩm ấy được biến hóa trở nên máu thịt làm cho thân xác ta được khỏe mạnh và tràn đầy sức sống. Nhưng khi chúng ta lãnh nhận Mình và Máu Đức Giêsu, chúng ta được biến đổi dần dần để nên giống như lương thực mà chúng ta đã ăn, để trở nên đồng hình đồng dạng với Con Thiên Chúa. Đây là sự khác biệt giữa lương thực vật chất và lương thực thiêng liêng.

Manna trong Cựu ước và phép lạ nhân bánh trong Tân ước chỉ là hình bóng của Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu thiết lập trong bữa tiệc ly. Nếu người Do Thái vẫn còn in đậm trong trí nhớ phép lạ Manna, thì Chúa Giêsu quả quyết với họ, chính là Chúa Cha ban cho họ lương thực huyền nhiệm đó, đồng thờ Chúa nêu sự khác biệt giữa Manna với Thánh Thể: Manna chỉ là lương thực vật chất để nuôi sống thân xác; Thánh Thể chính là lương thực thần thiêng để nuôi sống tâm hồn. Manna chỉ là lương thực đời này; Thánh Thể là bảo đảm cho con người được hưởng sự sống đời sau.

Khi cử hành trọng thể lễ kính Mình và Máu Đức Kitô, Giáo Hội mời gọi chúng ta đừng quên sự hiện diện huyền nhiệm của Chúa Giêsu trong Bí tích cực trọng này. Trong bảy bí tích Chúa Giêsu đã thiết lập, bí tích Thánh Thể được gọi là "Bí tích rất thánh - Sancti - Saint Sacrement". Bởi đây là sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu. Trong bí tích Thánh Thể, "có trọn vẹn linh hồn và thể xác, thiên tính và nhân tính của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể" như Công đồng Tridentinô đã xác quyết và định tín. Vì vậy, theo truyền thống của Giáo Hội Công giáo, sau thánh lễ này, thường có cuộc rước trọng thể để tôn vinh sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Hình Bánh và Hình Rượu. Sự hiện diện này không chấm dứt khi thánh lễ kết thúc, như một số giáo phái Kitô khác chủ trương.

Bí tích Thánh Thể cũng là lời mời gọi sống yêu thương và hiệp thông với nhau như máu với thịt. Mối hiệp thông này có hai chiều kích: Hiệp thông chiều dọc và hiệp thông chiều ngang. Hiệp thông chiều dọc là gắn bó với Chúa Giêsu để nhờ Người mà chúng ta được gặp gỡ Chúa Cha. Hiệp thông chiều ngang là tình liên đới cảm thông với anh chị em mình. Thánh Phaolô nhấn mạnh đến sự hiệp thông chiều ngang này khi Ngài viết cho giáo đoàn Côrinhtô: "Bởi vì chí có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể" (Bài đọc II). Qua hình ảnh một thân thể, vị Tông đồ dân ngoại muốn nhắc chúng ta sống liên kết và yêu thương nhau. Bởi lẽ tất cả đều được nuôi dưỡng bằng một lương thực thần thiêng là Mình và Máu Đức Giêsu. Lương thực ấy liên kết chúng ta thành một thân thể là Giáo Hội. Người Việt Nam chúng ta thường nói: "Máu chảy ruột mềm". Hình ảnh này muốn nói lên tình tương thân tương ái giữa mọi thành viên trong gia đình với nhau và còn vươn rộng hơn là tình đồng loại, để gia tay cứu giúp những ai hoạn nạn khổ đau và những người bất hạnh.

"Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra" (Bài đọc I). Ông Môi-sen nhắc nhở dân Do Thái hồi tưởng lại những việc kỳ diệu Chúa đã làm, để tôn vinh quyền năng cao cả của Chúa, cũng là để cảm tạ tình thương bao la của Ngài. Tôn thờ Thánh Thể cũng là tôn thờ quyền năng cao cả của Chúa. Bởi lẽ như chúng ta đọc trong "Kinh Cám ơn thông dụng" của Mùa Chay: "Chúa trọng vô cùng cả và trời đất chứa chẳng đủ, mà rầy muốn ở trong một Hình Bánh nhỏ làm vậy…". Thiên Chúa cao cả ẩn mình trong bí tích Thánh Thể vì yêu thương con người. Qua Bí tích này, Chúa cũng dạy chúng ta bài học khiêm nhường, sống và hy sinh vì tha nhân, như Chúa đã trở nên của ăn của uống cho con người.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi
Posted by: LongHai - 06-08-2017, 08:08 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Mầu Nhiệm Tình Yêu

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm tình yêu thương.

Từ đời đời, Chúa Cha yêu Chúa Con. Tình yêu ấy lớn lao đến nỗi Chúa Cha đã sinh ra Chúa Con giống hệt như mình. Con là hình ảnh hoàn hảo, nguyên tuyền của Cha. Con là chính Cha, nên Đức Giêsu nói: "Ai thấy Thầy là thấy Cha" (Ga 14, 9). Cha có gì thì ban tất cả cho Con. Nên sau này Đức Giêsu đã nói: "Tất cả những gì của Cha đều là của Con" (Ga 16, 15). Tình Cha yêu Con thật lớn lao, kỳ diệu. Tình Con đáp lại tình Cha cũng nồng nàn tha thiết không kém. Những gì Con nhận được do tình yêu của Cha thì Con dâng lại cho Cha tất cả. Đức Giêsu vì yêu mến Chúa Cha, nên đã vui lòng xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại. Trọn cuộc đời, Người luôn tìm thánh ý Chúa Cha để thi hành. Người luôn tâm niệm: "Lương thực của Thầy là làm theo ý Đấng sai Thầy" (Ga 4, 34). Người từ bỏ hết ý riêng mình để chỉ làm theo ý Chúa Cha. Người nên một với Đức Chúa Cha trong tâm tình, trong tư tưởng, trong hành động. "Cha ở trong Con và Con ở trong Cha" (Ga 14, 10). Trong giờ hấp hối, dù sợ hãi cái chết đến độ mồ hôi máu tuôn ra, nhưng Đức Giêsu vẫn luôn vâng theo ý Chúa Cha: "Lạy Cha, nếu có thể được, thì xin cho Con khỏi uống chén này. Xin đừng theo ý Con, nhưng theo ý Cha mà thôi" (Mt 26, 39). Thánh Phaolô đã tóm tắt về cuộc đời Người: "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự" (Phil 2, 6-8). Tất cả thái độ vâng phục nói lên sự dâng hiến trọn vẹn cho Chúa Cha. Tình yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con là Chúa Thánh Thần.

Ba Ngôi là lò lửa tình yêu lúc nào cũng ngùn ngụt cháy. Ba Ngôi là nguồn mạch tình yêu không bao giờ vơi cạn. Cuộc trao đổi cho đi và nhận lãnh làm cho tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa ngày càng sung mãn dồi dào. Tất cả mọi tình yêu đều bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi. Tất cả mọi tình yêu muốn trung thực và bền vững đều phải học theo khuôn mẫu tình yêu Chúa Ba Ngôi. Hạnh phúc là ta được tham dự vào bầu khí yêu đương của Chúa Ba Ngôi. Hạnh phúc sẽ đến khi mọi người biết yêu thương nhau trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi.

Hôm nay, khi truyền cho ta đi rửa tội cho mọi người nhân danh Chúa Ba Ngôi, Đức Giêsu muốn ta đem tình yêu rửa sạch những oán ghét hận thù đang tàn phá thế giới. Người mong ta đem ngọn lửa tình yêu thắp sáng những góc tối tăm chiến tranh, chia rẽ. Người mong ta đem mưa tình yêu tưới gội những vùng đất khô cằn vì thiếu vắng tình thương tha thứ. Người muốn cho tình yêu lên ngôi ngự trị trong hết mọi tâm hồn.

Phần ta, những môn đệ của Chúa, mỗi khi ta làm dấu Thánh giá nhân danh Chúa Ba Ngôi, ta hãy xin Ba Ngôi Thiên Chúa in tình yêu thánh thiện của Người vào tâm hồn ta. Xin cho ta được tham dự vào tình yêu vô cùng sung mãn của Người. Xin cho ta trở nên một đốm lửa trong lò lửa yêu thương của Người. Được cháy trong lò lửa tình yêu Chúa Ba Ngôi, ta sẽ trở nên giống như Người, luôn biết cho đi, luôn biết dâng hiến, luôn mưu tìm hạnh phúc cho tha nhân.

Kiểm Điểm Đời Sống
  1. Khi cầu nguyện, Đức Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha. Bạn có cảm thấy Thiên Chúa là người Cha yêu thương và gần gũi không?
  2. Bạn có mong muốn được tham dự vào luồng tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa không?
  3. Thiên Chúa dựng nên bạn giống hình ảnh Người. Bạn đã thực sự là hình ảnh tình yêu thương của Chúa đối với những người chung quanh chưa?
  4. Sau khi đã hiểu rõ mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, bạn sẽ có thái độ nào đối với Chúa và đối với anh em?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội


Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần

Với người công giáo, còn gì gần gũi thân quen cho bằng làm dấu thánh giá trên mình cùng với lời đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Ấy thế mà mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi dường như lại thật xa lạ và trừu tượng. Có chăng những từ ngữ "ngôi vị" và "bản tính", vốn rất cần thiết để minh định tín điều, lại là bước cản cho sự gặp gỡ Đấng Thiên Chúa sống động? Có chăng những suy tư thần học về Ba Ngôi thật phong phú về tư duy nhưng lại thiếu tiếp cận mục vụ và linh đạo? Từ góc độ thực hành của đời sống đức tin, xin gợi ý về lời đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" như một cảm nghiệm gặp gỡ Đấng Thiên Chúa duy nhất và là Đấng ở trên, ở với và ở trong con người cũng như lịch sử.

Đấng Thiên Chúa ở trên, ở với và ở trong

Cảm nghiệm đầu tiên của con người về Thiên Chúa: Ngài là Đấng "ở trên", "Ông Trời", "Ông Thiên". Thánh Phaolô tuyên xưng chỉ mình Thiên Chúa là "Đấng trường sinh bất tử, ngự trị trong ánh sáng siêu phàm, Đấng không một người nào đã thấy hay có thể thấy" (1Tim 6, 16). Vì Thiên Chúa vượt lên trên vũ trụ và nhân loại nên "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi" (Mt 16, 23). Nếu ai nói rằng mình hiểu được Thiên Chúa thì chắc chắn vị Thiên Chúa ấy không còn là Thiên Chúa đích thực nữa.

Những khám phá khoa học ngày nay không những không làm tiêu hao niềm tin vào Thiên Chúa mà trái lại, càng làm cho chúng ta cảm nhận rõ hơn tính bất khả đạt thấu của Thiên Chúa. Ngân hà mà trái đất chúng ta là một thành phần đã là vĩ đại rồi, nhưng nó chìm nghỉm trong hằng tỉ giải ngân hà của vũ trụ. Chính sự vĩ đại ấy của vũ trụ lại càng làm nổi bật tính vô biên và bất khả đạt thấu nơi Thiên Chúa: "Chúng ta không thể khám phá Thiên Chúa đang điều khiển thế giới cách ngây ngô như trước. Chúng ta không thể làm thế, không phải vì Thiên Chúa đã chết, nhưng vì Ngài là Đấng vĩ đại hơn nhiều, Đấng không thể gọi tên, Đấng bất khả đạt thấu, Đấng là nền tảng mọi sự" (Karl Rahner, Science as a Confession, 389).

Cảm thức về tính bất khả đạt thấu nơi Thiên Chúa giúp các Kitô hữu tránh được nguy cơ rơi vào tình trạng mà một nhà tư tưởng phê phán: "Không phải Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, nhưng chính con người đã làm nên Thiên Chúa theo hình ảnh của mình". Một trong những điều răn đầu tiên Thiên Chúa ban bố là: "Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ" (Xh 20, 4). Dân Chúa trong thời Cựu Ước lại chẳng rơi vào tình trạng đó sao khi họ lấy vàng đúc thành con bê rồi sụp lạy tung hô: "Đây là vị thần đã đưa chúng ta ra khỏi đất Ai Cập" (Xh 32, 7)? Và cơn cám dỗ ấy vẫn không ngừng tái diễn trong lịch sử dưới nhiều hình thức khác nhau.

Thiên Chúa là Đấng "ở trên" nhưng đồng thời lại là Đấng "ở với" loài người. Đây là mạc khải trung tâm và độc đáo của Kitô giáo. Kinh Thánh tràn ngập cụm từ "ở với". Hầu như khi sai bất cứ ai đi thi hành sứ mạng, Thiên Chúa cũng chỉ hứa điều quan trọng nhất là: "Ta ở với ngươi". Từ Môsê đến Đức Maria đều thế cả (Xh 3, 12; Lc 1, 28). Cho đến thời của Hội Thánh, lời hứa của Chúa Kitô Phục sinh dành cho các môn đệ vẫn là: "Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 20).

Danh thánh Thiên Chúa mạc khải cho Môsê (Xh 3, 14) được dịch nhiều cách: "Ta là Đấng hằng hữu", "Ta là Đấng hiện hữu", "Ta là Đấng Ta là". Nhưng cũng có một cách dịch khác mang tính hiện sinh hơn: "Ta là Đấng hằng ở với anh em" (trong mọi hoàn cảnh, mọi bước đường, mọi biến cố). Lời hứa "ở với" ấy đã vươn đến cao điểm trong Đức Giêsu Kitô, Đấng được gọi là Emmanuel, Thiên Chúa-ở-với-chúng ta (Mt 1, 23). Thiên Chúa ở với loài người không những bằng sự hiện diện mà còn chia sẻ phận người, kể cả những trạng huống bi thảm nhất, để trong mọi hoàn cảnh, kể cả sự chết, ta có thể cảm nhận được tiếng nói: Cha ở với con.

Ratzinger có trang sách đẹp về trải nghiệm sự chết khởi đi từ hình ảnh đứa bé bị lạc lối trong rừng sâu và màn đêm buông xuống. Cùng với bóng tối vây bủa chung quanh là nỗi hoang mang sợ hãi tràn ngập tâm hồn. Trong giây phút ấy, điều mà cậu bé mong chờ nhất không phải là bài học địa lý về cánh rừng hoặc bài hướng dẫn khoa học tìm tọa độ. Điều mong chờ nhất chỉ là có một bàn tay chạm lấy và tiếng nói bên tai: "Cha đây, nào chúng ta đi". Không có giây phút nào con người cảm nhận nỗi cô đơn tột cùng cho bằng khi đối diện với sự chết. Kể cả những người thương yêu ta nhất cũng không thể đồng hành. Mọi lý thuyết về thế giới mai sau dường như vô nghĩa. Điều mong đợi duy nhất là sự hiện diện và đồng hành của một ai đó trên con đường tăm tối. Và Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã kinh qua sự chết và đã sống lại, chính là Đấng duy nhất đáp trả nỗi ước mong sâu thẳm về một bàn tay nắm lấy và tiếng nói bên tai "Ta đây, nào chúng ta cùng đi". Thiên Chúa ở với.

Thiên Chúa không chỉ ở với con người mà còn ở trong họ. Theo quan điểm công giáo, lương tâm là "tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa, và tiếng nói của Ngài vang dội trong lòng họ" (Hiến chế Vui Mừng và Hi Vọng, số 16).

Tin Mừng Gioan, Tin Mừng của đời sống chiêm niệm, tràn ngập cụm từ "ở trong": "Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình yêu của Ngài" (15, 9-10); "Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí Sự Thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Ngài. Còn anh em biết Ngài vì Ngài luôn ở giữa anh em và ở trong anh em" (14, 16-17).

Có chuyện kể về một guru đánh mất chìa khóa vào nhà và quanh quẩn đi tìm chìa khóa ở bãi cỏ trước nhà. Đám học trò thấy thế bèn hỏi, "Thưa thầy, thầy tìm gì vậy?" "Thầy mất chìa khóa vào nhà rồi". "Để chúng con tìm giúp". Thế là ai nấy hăng hái bới từng gốc cây, lật từng ngọn cỏ để tìm. Tìm mãi không thấy, một học trò sốt ruột hỏi: "Thầy có nhớ loáng thoáng là đánh rơi ở đâu không?" "Có chứ, thầy nhớ rõ là mình để quên ở trong phòng rồi sập cửa lại". Đám học trò la lên: "Trời ơi, sao bây giờ mới nói, mất chìa khóa trong nhà mà lại tìm ở ngoài này, làm sao thấy được!" Ông thầy có dịp cho học trò một bài học để đời: chúng ta đánh mất chìa khóa của ngôi nhà hạnh phúc. Chìa khóa ấy ở trong tâm hồn nhưng chúng ta lại mải tìm ở ngoài. Tìm đủ thứ, chiếm hữu đủ thứ, hưởng thụ đủ thứ... mà hạnh phúc vẫn biệt tăm. Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc, ở thâm sâu lòng người, nhưng chúng ta mải tìm ở thế giới bên ngoài.

Đúng là "Chúa ở trong con sâu hơn chính con" và "Con đi tìm Chúa bên ngoài mà quên mất rằng Chúa ở trong con". Không chỉ là cảm nghiệm của các nhà thần bí mà còn là trải nghiệm của mỗi người nếu chân thành nhìn lại chính mình.

Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần

Hội Thánh có sứ vụ giới thiệu và loan báo cho con người Đấng Thiên Chúa ở trên, ở với và ở trong con người cũng như lịch sử. Nghĩa là phải loan báo Thiên Chúa trong tính toàn thể. Xem ra không dễ dàng giữ được sự quân bình và tính toàn thể ấy. Có khi người Kitô hữu nhấn mạnh đến Thiên Chúa ở trên (chiều kích siêu việt) và ở trong (chiều kích nội tại) mà không quan tâm đến Thiên Chúa ở với phận người, nên bị người ta chê trách là lãng quên những thực tại trần thế. Lại có khi nhấn mạnh đến Thiên Chúa ở với (chiều kích dấn thân xã hội) mà quên Thiên Chúa ở trên và ở trong, nên biến Hội Thánh thành cộng đoàn xã hội thuần túy với chân trời và đường lối hành động không khác gì những tập thể xã hội khác. Làm thế nào để giữ được sự quân bình và tính toàn thể của mầu nhiệm Thiên Chúa, để có thể "ở trong thế gian mà không thuộc về thế gian" (Ga 17, 14-16), để là "muối cho đời và ánh sáng cho trần gian" (Mt 5,13-16). Sẽ mãi là một thách đố, nhưng ít ra ý thức được điều ấy cũng đã là lời nhắc nhở cần thiết cho sứ vụ, lời nhắc nhớ mỗi ngày khi làm dấu thánh giá trên mình và đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Trích từ nguồn: Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội


Thiên Chúa Yêu Thế Gian

Khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, Phụng vụ nhắc nhớ chúng ta tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Tình yêu ấy thể hiện qua công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa. Phụng vụ cũng nhắc nhớ chúng ta, Thiên Chúa Ba Ngôi là đích điểm của đời sống Kitô hữu.

Nói đến Chúa Ba Ngôi là chúng ta nói đến đời sống nội tại của chính Thiên Chúa. Thật vậy, khi cử hành các mầu nhiệm khác như Giáng sinh, Phục sinh, là chúng ta tôn vinh những điều Chúa đã làm vì yêu thương con người; còn khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, là chúng ta tìm hiểu và suy tư xem Chúa là ai và Ngài như thế nào. Lý trí con người hữu hạn, nên chỉ có thể suy tư về Chúa, dựa trên những kinh nghiệm trần gian. Chúng ta có thể hiểu phần nào về Chúa Ba Ngôi, từ những lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Trong cuộc đàm đạo với ông Nicôđêmô, một thành viên của Công nghị Do Thái, Chúa Giêsu đã khẳng định sứ mạng của Người là Đấng Thiên Sai. Việc Người đến trần gian là bằng chứng về tình yêu Thiên Chúa. Quả thật, Thiên Chúa yêu thế gian. Vì thế Ngài đã tạo dựng thế gian và sai Con của Ngài đến cứu thế gian (Bài Tin Mừng).

Lòng yêu thương của Chúa cũng là một điểm nhấn quan trọng trong giáo huấn của Cựu ước. Vì tình yêu thương, Ngài đã dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập. Ngài đã chăm sóc họ như một người cha. Ngài bao dung tha thứ khi họ lỗi lầm. Qua trung gian ông Môisen, Ngài còn ban cho họ lề luật để giúp họ sống theo đường ngay nẻo chính (Bài đọc I). Tất cả những gì Chúa đã làm trong lịch sử là bằng chứng tình yêu thương vô bờ của Ngài.

Lời Chúa Giêsu trong Ga 3, 16 được coi như tóm lược toàn bộ nội dung của Tin Mừng Thánh Gioan. Bởi lẽ nó diễn tả chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện qua Đức Giêsu Kitô. Câu Tin Mừng này cũng diễn tả cho chúng ta đời sống phong phú nơi Ba Ngôi Thiên Chúa. Khác với giáo lý của Do Thái giáo và của Hồi giáo, cũng là hai tôn giáo độc thần, Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi mà duy nhất. Đó là sự duy nhất không đơn độc. Trong khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu nói về Chúa Cha, là Đấng đã sai Người đến thế gian. Chúa Giêsu cũng nói về Chúa Thánh Thần, là Thần Chân Lý, sẽ đến để tiếp tục công việc Người đã khởi đầu, tức là hướng dẫn Giáo Hội để Giáo Hội loan báo giáo huấn của Chúa Giêsu. Tất cả những hoạt động của Thiên Chúa, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đều xuất phát từ tình yêu của Ngài đối với thế gian.

Khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, Phụng vụ nhắc nhớ chúng ta tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Tình yêu ấy thể hiện qua công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa. Phụng vụ cũng nhắc nhớ chúng ta, Thiên Chúa Ba Ngôi là đích điểm của đời sống Kitô hữu. Điều đó có nghĩa, nếu chúng ta gắn bó với Chúa Giêsu và tuân giữ lời Người, chúng ta sẽ được hòa mình vào dòng chảy hiệp thông của Chúa Ba Ngôi, ngay khi chúng ta còn sống ở đời này. Đó cũng là bảo đảm chắc chắn rằng, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa Ba Ngôi trong hạnh phúc vĩnh cửu, như lời Chúa Giêsu đã hứa.

Lời chào của thánh Phaolô đối với cộng đoàn tín hữu Côrinhtô (Bài đọc II) đã diễn tả những điều kỳ diệu thiêng liêng của Giáo Hội: "Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em". Lời chào này đã trở thành công thức mở đầu thánh lễ. Là thành viên của Giáo Hội, mỗi người tín hữu đang sống trong ân sủng của Chúa Giêsu, trong tình yêu của Chúa Cha và trong sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chúng ta được bao bọc bởi tình yêu Chúa Ba Ngôi. Nhờ đó, cuộc sống của chúng ta không còn buồn chán thất vọng hay lầm lạc tội lỗi. Chúa Ba Ngôi không chỉ là một lý thuyết xa vời, nhưng rất cụ thể trong đời sống chúng ta, gần gũi với chúng ta như hơi thở, nước uống, khí trời và những nhu cầu khác. Thánh Phaolô cũng nói đến điều kiện để được Chúa Ba Ngôi che chở, đó là luôn đồng tâm nhất trí và hòa thuận với nhau. Một cộng đoàn được liên kết bằng mối giây yêu thương sẽ có Chúa Ba Ngôi hiện diện. Hơn nữa, chính Chúa Ba Ngôi là mối dây yêu thương này.

"Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Mỗi ngày, chúng ta làm dấu thánh giá nhiều lần, mà ít khi ý thức đây là lời tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Đây cũng là một lời cầu nguyện ngắn. Dấu thánh giá vừa nhắc cho chúng ta: Thiên Chúa yêu thương thế gian; vừa mời gọi chúng ta: hãy nhân danh Chúa Ba Ngôi trong mọi hành xử, suy nghĩ, nói năng và trọn vẹn cuộc đời. Nếu thực sự "nhân danh Chúa Ba Ngôi" trong cuộc sống, chúng ta sẽ tiến dần tới sự hoàn thiện, nhờ đó, sự thánh thiện của Chúa tỏa sáng nơi cuộc đời chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống
Posted by: LongHai - 06-01-2017, 05:09 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Lửa Thánh Thần

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã nhiều lần hứa sẽ gửi Thánh Thần đến an ủi các môn đệ. Quả thật, các ngài không phải chờ đợi lâu. Vào ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần xuống đầy tràn trên các ngài. Ơn Chúa Thánh Thần thật mãnh liệt. Chúa Thánh Thần đã đụng chạm đến các ngài. Chúa Thánh Thần như nguồn nhựa sống thấm tẩm vào từng chân tơ kẽ tóc làm cho các ngài thay đổi da thịt, trở thành con người mới. Các ngài đã cảm nghiệm được sự tác động ấy. Đó là cảm nghiệm về một ngọn lửa.

Chúa Thánh Thần là ngọn lửa thanh luyện

Giống như ngọn lửa thanh luyện vàng và kim loại khỏi các tạp chất, ngọn lửa Thánh Thần tẩy sạch con người cũ của các tông đồ. Trước kia các tông đồ là những người nhỏ nhen ích kỉ, ham hố danh vọng, thường tranh nhau chỗ cao chỗ thấp. Nhưng khi nhận được ơn Chúa Thánh Thần, các Ngài trở nên quảng đại, hy sinh quên mình, chỉ nghĩ đến phục vụ Nước Chúa. Trước kia các Tông đồ là những người nhút nhát, dễ thay đổi. Nhưng khi nhận được ơn Chúa Thánh Thần, các Ngài đã trở nên cam đảm, trung thành làm cho Chúa đến nỗi dám hy sinh mạng sống để làm chứng cho Chúa. Hơi ấm của Chúa Thánh Thần băng bó những vết thương làm cho tâm hồn các Ngài liền da liền thịt, sạch hết mặc cảm, trở nên những con người hoàn toàn mới.

Chúa Thánh Thần là ngọn lửa soi sáng

Ai đã có lần đi trong hang động tối tăm mới hiểu được nỗi khổ của người mò mẫm lần từng bước dò đường đi. Những tảng đá lởm chởm, những thú vật độc ác, những vực sâu hiểm nghèo đang rình chờ cướp mạng sống của người mạo hiểm. Hạnh phúc biết bao khi có ánh sáng tới. Đường đi xuất hiện rõ ràng. Khách bộ hành an tâm mạnh dạn tiến bước.

Trước kia, các Tông đồ giống như người đi trong đêm tối, không biết đường biết hướng về đâu. Lửa Chúa Thánh Thần đến soi sáng trí khôn biến những bác ngư phủ quê mùa trở nên sáng suốt thông minh, hiểu biết Lời Chúa. Lửa Chúa Thánh Thần soi sáng đường đi, biến những môn đệ mất Thầy như bầy ong vỡ tổ trở nên những người lãnh đạo dẫn đường cho một đoàn dân mới tiến về Quê Trời.

Chúa Thánh Thần là ngọn lửa sự sống

Sau ngày Chúa Giêsu chịu chết, các Tông đồ sợ hãi tản lạc tứ phía. Các ngài phải trốn chạy. Các ngài phải ẩn nấp, Các ngài sống trong sợ sệt lo âu. Các ngài phải đóng kín cửa nhà vì sợ người Do thái. Các ngài sống như tựa như đã chết. Các ngài giống như cái xác không hồn. Nhưng sau khi nhận được ơn Chúa Thánh Thần, các ngài nhận được nguồn sống. Các ngài bừng tỉnh như sau một giấc ngủ. Các ngài mạnh mẽ như người hồi phục sau cơn trọng bệnh. Sự sống mãnh liệt trào tuôn khiến các ngài không còn có thể bó gối ngồi một chỗ, nhưng mạnh mẽ mở cửa ra đi rao giảng Lời Chúa. Sự sống mãnh liệt trào tuôn khiến các cộng đoàn phát triển mau chóng. Ngọn lửa Chúa Thánh Thần đã đem lại sự sống, sự sống lại và là sự sống mới cho các Tông đồ, cho các tín hữu.

Ngày nay chúng ta cảm ơn Chúa Thánh Thần hơn bao giờ hết. Trong bản thân cũng như trong cộng đoàn chúng ta có nhiều tì tích hoen ố. Chỉ có ngọn lửa của Chúa Thánh Thần mới có thể thanh luyện tâm hồn chúng ta. Thế giới hôm nay đầy những bóng tối. Chỉ có ngọn lửa Chúa Thánh Thần mới có thể soi sáng cho chúng ta biết đường lối mà đi. Thế giới hôm nay chứa đầy văn minh sự chết, đưa con người tới huỷ diệt. Chỉ có ngọn lửa Chúa Thánh Thần mới hồi phục, đưa ta vào sự sống mới trong Đức Kitô.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con. Amen.

Kiểm Điểm Đời Sống
  1. Ngọn lửa Thánh Thần có tác dụng gì trên các Tông đồ, làm cho các ngài thay đổi mãnh liệt?
  2. Bạn có cảm nhận được Chúa Thánh Thần trong đời bạn không?
  3. Để mình bị biến đổi, để mình bị thúc đẩy trên đường dấn thân làm việc phục vụ, dễ hay khó?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Ra Đi – Tha Thứ

Khi nói về Chúa Thánh Thần, ta thường nghĩ đến bảy ơn Người ban qua bí tích Thêm Sức. Ta như người lãnh nhận một cách thụ động. Và những ơn Người ban chẳng ảnh hưởng gì đến đời sống ta. Đó thực là một quan niệm sai lầm tai hại. Thực ra, Đức Chúa Thánh Thần là nguồn sự sống mãnh liệt, là sự trẻ trung của Giáo Hội, là năng lực đổi mới thế giới. Hãy đọc lại bài đọc I, ta sẽ thấy sức mạnh đổi mới của Người mãnh liệt như thế nào. Người như luồng gió cường tráng. Người như ngọn lửa bừng bừng. Luồng gió và ngọn lửa ấy đã khơi dậy nguồn năng lực tiềm ẩn nơi những bác thuyền chài thất học, biến họ thành những con người thay đổi thế giới. Nhận lãnh ơn Đức Chúa Thánh Thần là nhận lãnh sứ mạng hành động. Hôm nay, Chúa Giêsu tóm tắt sứ mạng hành động đó qua 2 nhiệm vụ: Ra đi và Tha thứ.

Nhiệm vụ thứ nhất mà Đức Giêsu trao cho các môn đệ khi ban Thánh Thần cho các ông, đó là RA ĐI: "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nhận lãnh Chúa Thánh Thần là được sai đi. Chúa Thánh Thần là sức mạnh hành động. Người không thể bị giam hãm trong những căn phòng đóng kín cửa. Người không ưa thích những tâm hồn khép kín trong ủ rũ điêu tàn. Người đến đâu là mở tung cửa nhà ra đến đấy. Mở ra để đón lấy những luồn gió mới tươi mát. Mở ra để đón nhận mọi người đến với mình. Và nhất là mở ra để mình đến với mọi người. Một cuộc sống không giao tiếp sẽ trở nên nghèo nàn, tàn lụi. Một tâm hồn chỉ quy hướng về bản thân sẽ chẳng khác một vũng ao tù, ô nhiễm. Ra đi sẽ giúp ta nên phong phú, mạnh mẽ. Ra đi không phải là lang thang không mục đích, nhưng là đi đến những địa chỉ Thánh Thần muốn gửi ta đến. Những địa chỉ Thánh Thần muốn ta đến đó là "loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa" (Lc 4,18-19). Chúa Thánh Thần sẽ mở tung cánh cửa ích kỷ. Người sẽ phá tan cánh cửa hẹp hòi. Người sẽ củng cố những tâm hồn nhút nhát. Người sẽ quét sạch mọi lớp bụi bặm rêu phong. Người sẽ đổ tràn vào hồn ta nguồn nhựa sống mới giúp ta hăng hái lên đường.

Nhiệm vụ thứ hai mà Đức Giêsu trao cho các môn đệ khi ban Thánh Thần cho các ông, đó là THA THỨ: "Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha". Tha thứ, hoà giải luôn là một vấn đề lớn của thế giới. Trên thế giới, những cuộc chiến tranh, chia rẽ, xung khắc xảy ra hầu như hằng ngày. Con người là bất toàn, nên sống chung là có bất đồng, xung khắc. Nếu cứ mỗi lần có xung khắc, ta loại trừ đi một người bạn, thì có lẽ cuối cùng ta sẽ chẳng còn người bạn nào. Người ta không thể sống một mình. Mỗi người đều cần đến người khác. Sống chung với nhau là một nhu cầu. Vì thế, việc tha thứ, hoà giải là vô cùng cần thiết. Hoà giải hệ tại ở hai động tác: xin lỗi và tha lỗi. Hai việc đều khó làm. Vì con người đầy tự ái. Dù biết mình lỡ lầm, nhưng ít có ai đủ can đảm nhận lỗi và xin lỗi. Xin lỗi đã khó, tha lỗi còn khó hơn. Chính vì thế, việc hoà giải cần rất nhiều ơn Chúa Thánh Thần, ở đây, ta phải nhìn vào Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô như tấm gương sáng chói. Người là tấm gương sáng về sự ra đi. Cuộc đời Người là một cuộc ra đi không biết mệt mỏi. Dù tuổi cao sức yếu, nhưng Người vẫn lên đường đi đến với mọi dân tộc, mọi đất nước. Người tiếp xúc với tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, chính kiến, mầu da, chủng tộc, ngôn ngữ. Người đi đến với cả những kẻ chống đối, bất hoà và thù nghịch với Người. Để chuẩn bị đón mừng Năm Thánh, Người đã làm một cử chỉ ngoạn mục chưa từng có trong lịch sử Giáo Hội. Đó là Người công khai nhìn nhận những lỗi lầm của Giáo Hội để xin mọi người tha thứ. Đây quả là một hoạt động của Chúa Thánh Thần để thanh tẩy Giáo Hội. Đức Thánh Cha đã được ơn Chúa Thánh Thần nên đã ra đi làm hoà với mọi người. Chính cử chỉ khiêm nhường ấy đã giúp đổi mới Giáo Hội, đem đến cho Giáo Hội một khuôn mặt mới trẻ trung hơn, một sức sống mới dồi dào hơn, một phong cách hiện diện mới dễ thương dễ mến hơn.

Ta hãy biết noi gương Đức Thánh Cha. Hãy biết ra đi, không chỉ là đi hành hương viếng nhà thờ để lãnh ơn toàn xá, nhưng còn là ra đi đến với những người bé nhỏ, nghèo hèn, những người bị bỏ rơi, những người kém may mắn ở đời, những người ta không ưa thích, những người chống đối ta, cả những người làm hại ta nữa. Nhất là hãy gieo rắc sự tha thứ. Tha thứ cho anh em để anh em cũng tha thứ cho ta, để chúng ta xứng đáng trở thành con Thiên Chúa. Đức Chúa Thánh Thần muốn đổi mới Giáo Hội. Nhưng việc đổi mới phải bắt đầu từ mỗi tâm hồn. Đức Chúa Thánh Thần sẽ canh tân bộ mặt thế giới, nhưng việc canh tân phải khởi đi từ mỗi con người. Ta hãy mở rộng tâm hồn đón nhân ơn Chúa Thánh Thần và hăng hái cộng tác với chương trình của Người.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đổi mới tâm hồn con.

Kiểm Điểm Đời Sống
  1. Đức Chúa Thánh Thần mời gọi bạn ra đi đến với người khác. Bạn có thường đi thăm viếng những người nghèo hèn, nhất là những người bạn không có cảm tình không?
  2. Bạn có muốn tha thứ, làm hoà với người khác không? Bạn đã có cố gắng nào để làm hoà trong Năm Thánh?
  3. Bạn nghĩ gì về việc Đức Thánh Cha xin lỗi?
  4. Bạn có sẵn sàng để Đức Chúa Thánh Thần biến đổi bạn không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


"Các Con Hãy Nhận Lấy Thánh Thần..."

Trong những năm gần đây phong trào canh tân đoàn sủng phát triển mạnh trong Giáo Hội Tin Lành và trong giáo Hội Công Giáo, có người gọi đó là mùa xuân của Giáo Hội đang là sức sống mới. Nhưng cũng có ngừơi đang nhìn phong trào này với thái độ cảnh giác. Họ sợ rằng nó sẽ đi xa đường lối của Giáo Hội. Tôi không có ý phân tích phê phán, nhưng theo tôi phong trào có một điểm mà chúng ta có thể ghi nhận. Phong trào giúp cho ta ý thức hơn về vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời Kitô Hữu. Một vai trò mà nhiều khi chúng ta lãng quên. Có lẽ phần nào nó cũng giống như một nhà khoa học ở trong phòng thí nghiệm. Ông ra sức nghiên cứu về không khí như là một vật thể và mô tả không khí bằng những công thức khoa học có vẻ phức tạp mà ông quên rằng từng giây từng phút mình đang được ngủ lặng trong không khí mà đôi khi mình quên hít thở. Cho nên sự sống thân xác của mình mỗi lúc mỗi tàn tạ.

Tôi xin lấy một hình tượng quen thuộc trong Kinh Thánh để diễn tả về Chúa Thánh Thần. Thánh Luca mô tả: Vào ngày lễ ngũ tuần các môn đệ tề tựu cầu nguyện. Khi ấy có những lưỡi như lưỡi lửa rải rác đậu xuống trên mỗi người. Lửa là hình tượng Kinh Thánh dùng để diễn tả về Chúa Thánh Thần trong chúng ta.

Hôm nay tôi xin nhắc lại và đào sâu hơn hình tượng Thánh Gioan Thánh Giá sử dụng. Ngài là người có kinh nghiệm thần bí sâu sắc đồng thời là một nhà thơ cho nên ngài đã vận dụng ngôn ngữ thi ca để diễn tả kinh nghiệm thần bí đó. Đó là hình ảnh của lửa, của củi.

Chúng ta thử tưởng tượng cảnh mùa đông băng giá ở Châu Âu, ngoài vườn có một khúc củi nằm cô đơn giữa tiết trời băng giá. Cái lạnh làm cho làn da của nó xần xùi, xấu xí. Thế rồi nó được ông chủ nhà đem vào quăng vào lò sưởi. Hơi nóng làm khúc củi cảm thấy ấm áp, hạnh phúc. Nó cảm nhận được đầy sự an ủi không tả được.

Nhưng tiếc rằng sự sung sướng kéo dài chẳng được bao lâu. Trong khỏanh khắc ngọn lửa ôm chặt lấy nó. Sức nóng của lửa nung nấu khiến cho nhựa cây rỉ ra bên ngoài làm thành một lớp da sần sùi như da cóc. Nó tỏa ra một mùi thật khó chịu. Khúc củi quằn quại trong than hồng một thời gian. Cuối cùng nó trở nên một với lửa. Nó không còn là củi mà chỉ là lửa. Lửa đem ánh sáng, lửa đem hơi ấm cho những người trong phòng.

Gioan Thánh Giá dùng hình ảnh tuyệt vời ấy để diễn tả về tác động của Chúa Thánh Thần trong đời sống chúng ta. Hình ảnh ấy giúp chúng ta thấy được đâu là cùng đích của đời sống trong Thánh Thần. Cái cùng đích ấy là Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta được nên một với Thiên Chúa. Như Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu nói: "Ta trở thành một giọt nước hoà trong đại dương". Sự nên một ấy chỉ trở thành trong đời sống vĩnh cữu cho những người mà Chúa ban cho kinh nghiệm thần bí, những người cảm nghiệm được sự nên một hồng phúc với Thiên Chúa.

Chúng ta chưa có được kinh nghiệm huyền bí đó. Nhưng tôi nghĩ: Nếu chúng ta thực hiện đúng những bí tích mà Giáo Hội cử hành là chúng ta đã đi đúng mục đích của Giáo Hội, dẫn ta đến chỗ nên một với Thiên Chúa. Khi ta rước mình Thánh Chúa và để Máu Thánh Chúa hoà vào máu thịt ta để ta nên một với Ngài.

Sự nên một xét trên một bình diện mà người ta gọi là hữu thể học đó hoàn toàn có thật nhưng không ai thấy được. Sự nên một ấy phải diễn tả qua cuộc sống bên ngoài theo kiểu nói của thánh Phaolô. "Anh em hãy mang trong anh em những tâm tư như đã có trong Chúa Giêu Kitô". Cho nên khi nào chúng ta nên một với Chúa thật thì ta sẽ suy nghĩ như Chúa Giêsu, phản ứng như Chúa Giêsu, cảm xúc, yêu thương như Chúa Giêsu. Đấy là dấu chỉ cụ thể. Đấy là cùng đích.

Nhưng để đạt được tới cùng đích nên một trong Thiên Chúa ấy thì chúng ta phải trải qua một hành trình thanh tẩy của Thánh Thần. Hành trình này khởi đầu bằng một niềm an ủi ngọt ngào. Có một số kinh nghiệm nói lên điều ấy. Có anh chị em dự tòng nói với tôi: "Thưa Cha, con xin gì Đức Mẹ cũng cho con hết". Những tu sinh hoặc những nữ tu mới chập chững bước vào đời sống tận hiến: "Thưa Cha, con cảm thấy hạnh phúc vô cùng.". Những lúc ấy ai cũng ca ngợi Chúa, cảm thấy rất ư là dễ thương. Chúa yêu ta vô cùng.

Thưa anh chị em. Đấy chỉ là giai đoạn đầu. Sớm hay muộn gì chúng ta cũng được Chúa Thánh Thần dẫn vào giai đoạn thanh tẩy, giai đoạn đau đớn, giai đoạn này sẽ giúp chúng ta trưởng thành hơn. Vì nó đau đớn cho nên ta không muốn bước vào, không dễ chấp nhận.

Tôi nghĩ có hai lý do chính và cũng là hai giai đoạn chính.

Lý do thứ nhất: Thánh Thần giúp chúng ta chấp nhận con người thật của mình. Có lẽ nhiều người sẽ ngỡ ngàng khi nghe thế. Chúa Giêsu nói: "Hãy yêu tha nhân như chính mình." Nếu tôi không yêu chính mình thì tôi không thể yêu người khác được. Yêu chính mình là chấp nhận con người thật của mình. Chấp nhận hình hài mà Chúa đã ban cho mình. Anh chị em thử kiểm nghiệm lại đời sống của mình xem. Đã biết bao lần ta mơ ước những điều mà chúng ta không có. Ví dụ: Phải chi Chúa ban cho mình sóng mũi cao hơn tí nữa thì đẹp biết bao. Hay phải chi da mình được trắng như bạn mình nhỉ... Những mơ ước ấy biều lộ điều chúng ta không chấp nhận chính mình.

Những suy nghĩ ấy làm cho ta tự mình dằn vặt mình. Tự mình hành hạ mình, tự gây đau khổ cho mình bằng những tự ti mặc cảm. Phải đau đớn lắm, phải tự đấu tranh mới chấp nhận chính con người thật của mình. Chúng ta hãy kêu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta thực hiện để chúng ta tự nhủ rằng: Dù tôi thế nào đi nữa Chúa vẫn yêu tôi. Chúa tạo dựng tôi cho Chúa. Cảm nhận được như thế sẽ làm cho ta thấy bình an hạnh phúc hơn.

Lý do thứ hai: Chấp nhận được chính mình rồi thì đến giai đoạn hai của sự thanh tẩy. Đi từ chỗ "tôi đang là" đến chỗ "tôi được mời gọi để trở thành..." Ở đây đòi hỏi sự bỏ mình. Cuộc sống Thánh Augustinô là một điển hình. Lúc trẻ ông xa vào con đường ăn chơi, mê đắm trên con đường tình dục, biết là sai nhưng ông vẫn biện minh cho mình, không nhìn nhận sự thật của chính mình, ông bảo: "Sở dĩ tôi bê bối thế vì ông thần ác ở trong hoành hành". Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần Thánh Augutinô mới đủ can đảm nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi. Từ đấy ông đã bước vào giai đoạn hai. Ông trở thành một người sống như Chúa Giêsu, yêu thương, phục vụ, suy nghĩ như Giêsu. Một con người trong Chúa Thánh Thần.

Chúng ta phải trở thành cái mà Chúa mời gọi chúng ta. Đó là gì? Thưa là mỗi ngày tôi trở thành người hơn. Cho dù tôi sống bậc gia đình hay tu sĩ, cho dù tôi hành động gì nhưng vẫn hàm ẩn tất cả bên trong là cái tính người, là tính Kitô Hữu. Và hành trình đó đòi chúng ta phải tự bỏ mình mỗi ngày. Công việc ấy rất khó, một mình ta không thể làm được mà phải có tác động của Chúa Thánh Thần. Hãy cầu nguyện với Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần sống như không khí tràn ngập vũ trụ, vấn đề là tôi có hít thở không? Chúa Thánh Thần như dòng suối tràn lan mọi nơi. Vấn đề là tôi có múc mà uống không? Chúa Thánh Thần là ngọn lửa hừng hực, vấn đề là tôi có nhóm lên hay không? Cho nên cầu nguyện là tự tạo cho mình một nội tâm thích hợp. Mở lòng ra cho gió ùa vào, làm rỗng chính mình cho dòng nước chảy vào, và nhóm ngọn lửa lên cho đời mình.

Nếu chúng ta chấp nhận trở về với chính mình trong thinh lặng, nhìn lại đời mình, ta có thể khám phá ra những gì mà Lời Chúa hướng dẫn chúng ta hôm nay.

Tôi xin kết thúc suy niệm này bằng tâm tình của Thánh Augustinô. "Lạy Chúa là vẻ đẹp ngàn đời, vẻ đẹp cổ xưa nhưng vẫn luôn luôn mới mẻ. Con đã chạy tìm những cái đẹp bên ngoài vốn chỉ là phản ánh èo uột của vẻ đẹp vĩnh hằng. Chúa là vẻ đẹp vĩnh hằng ở trong con thì con lại không kiếm tìm. Vì thế, xin Chúa cho con biết trở về với chính lòng mình mỗi ngày, để ở đó con gặp được Chúa, hít thở Chúa. Con đón nhận dòng nước ân sủng và lòng con được đốt cháy ngọn lửa Thánh Thần. Amen".

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Thánh Thần – Quà Tặng Của Thiên Chúa

Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội kỷ niệm ngày mình được sinh ra. Giáo Hội cũng nhắc nhớ mọi tín hữu hãy đón nhận Chúa Thánh Thần là quà tặng của Chúa Giêsu Phục sinh, đồng thời ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống hằng ngày, để luôn biết kêu cầu ơn phù trợ của Ngài.

Khi tặng cho nhau một món quà, người ta thể hiện sự trân trọng và quan tâm đến người khác. Trước lúc chia ly với các môn đệ, Chúa Giêsu không hứa ban cho các ông một món quà vật chất, mà đó là món quà thiêng liêng. Món quà này là chính Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa. Trước đó, Người cũng nhiều lần nói tới sứ mạng và vai trò của Chúa Thánh Thần: Đấng Bảo trợ, Thần Chân lý. Chính Chúa Thánh Thần sẽ giúp các môn đệ hiểu rõ giáo lý mà Chúa Giêsu đã rao giảng. Nếu Chúa Giêsu, Đấng thành lập Giáo Hội, đã hứa sẽ ở với Giáo Hội mọi ngày cho đến tận thế, thì Chúa Thánh Thần là Đấng đồng hành với Giáo Hội mọi nơi mọi thời, hầu làm cho cộng đoàn tín hữu mà Chúa Giêsu đã quy tụ được lớn mạnh phát triển không ngừng.

Lời hứa tặng quà đã được thực hiện trong ngày lễ Ngũ Tuần, một ngày hành hương quan trọng của người Do Thái và của các sắc dân khác về Giêrusalem. Tác giả sách Công vụ Tông đồ đã kể lại sự kiện này (Bài đọc I). Chính các tông đồ cũng ngỡ ngàng khi thấy lưỡi lửa đậu xuống trên đầu mỗi người. Ân ban đầu tiên mà Chúa Thánh Thần ban cho các ông, đó là ơn lợi khẩu và ơn can đảm. Trước đó, các ông là những người nhút nhát sợ sệt, phải đóng kín cửa phòng vì sợ người Do Thái. Từ khi nhận được Chúa Thánh Thần, các ông đã mở tung cánh cửa. Nỗi sợ đã biến tan. Phêrô, một người dân chài ít học, bỗng trở thành nhà giảng thuyết hùng hồn. Lời giảng của ông có tính thuyết phục mạnh mẽ lạ lùng. Ngày đầu tiên đã có ba ngàn người xin theo Đạo. Chúa Thánh Thần đến quy tụ muôn người nên một, để làm thành dân Israen mới. Đây là dân hợp nhất trong tình mến, mặc dù khác biệt đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ. Nếu ngày xưa, tháp Baben là nguyên nhân của ly tán, thì nay, lễ Ngũ tuần là nguyên lý quy tụ. Sách Tông đồ Công vụ kể lại với chúng ta về sự hiệp nhất của cộng đoàn đức tin tiên khởi. Mọi người yêu thương đến nỗi nên một, chuyên tâm nghe Lời Chúa, cầu nguyện và thực thi bác ái.

Tiếp nối ý tưởng quy tụ và hiệp nhất, thánh Phaolô đã so sánh Giáo Hội với một thân thể. Dù gồm nhiều chi thể, nhưng chỉ là một thân thể duy nhất, luôn hiệp nhất với nhau và góp phần làm cho thân thể nên vững mạnh (Bài đọc II). Chính Chúa Thánh Thần là hơi thở làm cho thân thể Giáo Hội sống động. Chúa Thánh Thần cũng là điểm nối kết, giúp cho tình hiệp thông của thân thể Giáo Hội ngày càng chặt chẽ và keo sơn. Như thế, những ai sống trong chia rẽ là đi ngược lại với ơn của Chúa Thánh Thần, thậm chí chống lại tác động của Ngài. Bởi lẽ Ngài là Đấng kết nối và duy trì tình hiệp thông. Chính sự hiệp thông kỳ diệu này làm nên sức mạnh của Giáo Hội và làm cho Giáo Hội tỏa sáng giữa lòng thế giới.

Theo tác giả Tin Mừng Thánh Gioan (Bài Tin Mừng), Chúa Giêsu Phục sinh ban tặng Chúa Thánh Thần ngay vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, tức là ngày Người từ cõi chết sống lại. Cùng với quà tặng là Chúa Thánh Thần, Đấng Phục sinh còn ban cho các ông sự bình an và quyền điều hành Giáo Hội, thường được gọi là quyền tháo cởi và ràng buộc. Như thế, ba món quà (Chúa Thánh Thần, ơn bình an và quyền điều hành) đi liền với nhau, tạo cho Giáo Hội sức mạnh và làm cho Giáo Hội luôn vững vàng trường tồn. Hai ngàn năm đã qua, được khích lệ bằng sự bình an của Đấng Phục sinh, Giáo Hội thi hành sứ mạng của mình, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Nhờ Chúa Thánh Thần, mà Giáo Hội không giống một thể chế chính trị trần gian. Những thể chế này, có những lúc hùng mạnh vô địch, nhưng sự hùng mạnh đó không được bền lâu, vì cũng đến lúc suy tàn.

Với lễ Hiện xuống, Mùa Phục sinh khép lại. Tuy vậy, Đấng Phục sinh vẫn ở với chúng ta. Cùng với Người, Chúa Thánh Thần được sai đến để tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu là cứu độ con người. Vì vậy, các nhà thần học gọi thời hiện tại là "kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần". Chúng ta hãy cộng tác với Ngài, làm cho giáo huấn của Chúa Giêsu được loan truyền khắp thế giới.

Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội kỷ niệm ngày mình được sinh ra. Giáo Hội cũng nhắc nhớ mọi tín hữu hãy đón nhận Chúa Thánh Thần là quà tặng của Chúa Giêsu Phục sinh, đồng thời ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống hằng ngày, để luôn biết kêu cầu ơn phù trợ của Ngài. Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho chúng ta những ơn cần thiết trong đời sống. Nhờ Ngài mà chúng ta vững vàng tiến bước trong hành trình nên thánh. Chân thành lắng nghe và thiện chí thực hiện những hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, chắc chắn chúng ta sẽ tìm được bình an thư thái và niềm vui hạnh phúc trong cuộc đời.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật VII Phục Sinh Năm A – Lễ Thăng Thiên
Posted by: LongHai - 05-26-2017, 04:09 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Niềm Hy Vọng Nước Trời

Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất. Nhưng không phải thế. Hôm nay, Chúa Giêsu lên trời là một bằng chứng cho niềm hy vọng của ta.

Việc Chúa Giêsu lên trời bảo cho ta biết rằng ngoài trái đất còn có trời. Ngoài cõi nhân sinh nhỏ hẹp còn có cõi thần linh bao la. Ngoài cuộc sống trần gian mau qua còn có cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu.

Chúa Giêsu về trời là niềm hy vọng cho ta. Mai sau ta cũng sẽ được về trời với Người. Vì chính Người đã hứa: "Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy".

Chúa Giêsu đã liên kết ta thành một thân thể với Người. Người là đầu. Chúng ta là chi thể. Đầu tiến đến đâu thì chi thể cũng sẽ tiến đến đấy.

Chúa Giêsu dạy ta biết rằng ta là con của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời. Con sẽ được ở trong nhà cha mẹ. Chúng ta sẽ được ở nhà Cha trên trời là tự nhiên.

Tuy nhiên Chúa Giêsu chỉ về trời sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Đức Chúa Cha trao phó cho Người ở trần gian. Nhiệm vụ đó là loan báo cho mọi người biết Chúa là Cha yêu thương mọi người. Nhiệm vụ đó là làm chứng về tình yêu thương của Cha đối với mọi người.

Hôm nay, trước khi về trời, Chúa Giêsu uỷ thác nhiệm vụ đó lại cho ta. Ta phải tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng yêu thương cho mọi người. Đem niềm hy vọng đến cho kiếp người.

Với niềm hy vọng đó, người Kitô hữu chân đạp đất nhưng lòng vẫn hướng về trời cao. Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đã biết rõ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi. Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên vì từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh. Niềm hy vọng đó đó làm cho cuộc sống của ta có ý nghĩa, vì Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo quy luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đã được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng. Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn vì đó chính là sứ mang Chúa trao phó. Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, vì đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời.

Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con được về trời với Chúa. Amen.

Kiểm Điểm Đời Sống
  1. Ham hố tiền bạc, danh vọng, chức quyền, khoái lạc làm đời sống ta nặng nề, không vươn lên cõi tâm linh được. Bạn thấy mình bị nặng nề về ham mê nào?
  2. Đời sống là một nỗ lực bay lên cao. Có khi nào bạn cảm thấy mình thoát khỏi những ràng buộc tầm thường để nhẹ nhàng bay lên không?
  3. Đời sống là một bổn phạn phải chu toàn. Bạn nghĩ gì về điều này?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám mục Lạng Sơn – Cao Bằng


Sự Sống Mới – Hiện Diện Mới

Có lẽ nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: sao trong bài Phúc Âm lễ Thăng Thiên hôm nay, chẳng thấy nói gì đến trời, đến bay lên? Thắc mắc như vậy là hợp lý. Ta vẫn quen gọi hôm nay là lễ Chúa Giêsu lên trời. Và theo quan niệm bình dân, không gian chia làm ba tầng. Tầng dưới đất là âm ty, địa ngục, dành cho người chết. Tầng mặt đất mà ta đang sống là dương gian. Và tầng trên mặt đất là trời. Chúa Giêsu đã sống trên mặt đất, khi chết Người bị chôn trong lòng đất, đi vào cõi âm ty. Sống lại, Người trở lại mặt đất. Và hôm nay Người được đưa lên trời, bay lên đám mây, ngự bên hữu Chúa Cha.

Đó chỉ là một lối diễn tả bình dân. Thực ra, trời đâu phải là một nơi chốn. Con người có thân xác, bị giới hạn trong không gian, cần một nơi chốn để cư ngụ. Thiên Chúa không bị giới hạn trong không gian thì đâu còn bên tả bên hữu gì nữa.

Vậy, tại sao ta nói Chúa Giêsu lên trời? Lên trời ở đây có ý nghĩa gì?

Trời không phải là một nơi chốn, nhưng là một trạng thái, trong đó Ba Ngôi Thiên Chúa sống chan hoà yêu thương. Sự sống của Thiên chúa không giống sự sống của cây cỏ. Cũng không giống như sự sống của động vật hay loài người. Đó là sự sống thần linh. Sự sống vượt không gian, vượt thời gian, không còn bị lệ thuộc vào điều kiện vật chất. Sự sống không còn bị hao hụt, giảm thiểu bởi đau đớn, bệnh tật, đói khát. Đó là sự sống viên mãn tràn đầy. Được tham dự vào sự sống ấy là một hạnh phúc vô song. Đó chính là thiên đường. Lên trời hay lên thiên đàng như vậy không phải là thay đổi nơi chốn nhưng là thay đổi sự sống. Đó là chuyển đổi sự sống hữu hạn của con người sang sự sống vô hạn của Thiên Chúa. Đó là rời bỏ thế giới hữu hạn của loài người để bước vào thế giới vô hạn của Thiên Chúa. Đức Giêsu lên trời có nghĩa là Đức Giêsu về với Thiên Chúa, sống với Thiên Chúa, sống cuộc sống Thiên Chúa. Lên trời không phải lên theo chiều cao trong không gian vật lý. Nhưng là lên theo cấp độ sự sống, là sống cao hơn, mạnh mẽ hơn, tràn đầy hơn.

Chính vì thế, Chúa Giêsu lên trời không phải giã từ thế giới, để đi vào xa vắng mịt mù. Nhưng Người không đi vào một hiện hữu mới để hiện diện mãnh liệt hơn. Không còn bị kềm chế trong không gian, giờ đây Người hiện diện ở khắp mọi nơi. Không còn bị lệ thuộc vào một thân xác, giờ đây Người có thể hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau.

Người ở đó trong những trang Sách Thánh đầy lời lẽ nhiệm mầu để dạy cho ta biết con đường về với Thiên Chúa. Người ở đó trong bí tích Thánh Thể huyền diệu để nuôi linh hồn ta, để kết hợp với ta, để giúp ta đủ sức mạnh đi hết con đường trần gian khổ. Người ở đó trong những người anh em đồng tâm nhất trí cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha. Người ở đó trong những anh em bé nhỏ nghèo hèn đang chờ chúng ta mở rộng trái tim, mở rộng vòng tay nhân ái. Người ở đó trong những người hiến thân phục vụ anh em, trong những người hy sinh bản thân mình cho công bình, cho chân lý, cho một thế giới tươi đẹp hơn. Người có mặt trên khắp mọi nơi nẻo đường, trong tất cả mọi cảnh ngộ của cuộc đời. Người có mặt trong mọi thời gian đúng như Người đã hứa: "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế".

Bây giờ thì chúng ta đã hiểu: Trời không phải là một nơi chốn xác định, là một không gian vật lý có thể cân đo đong đếm. Nhưng trời là Thiên đàng, là chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, là chính Thiên Chúa Ba Ngôi.

Bây giờ chúng ta đã hiểu lên trời không phải là bay bổng lên không gian. Nhưng là chuyển đổi cấp độ sự sống, hay là bước vào sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa.

Bây giờ thì chúng ta đã hiểu, lên trời không phải là vắng mặt, là xa vắng nhưng lại là một hiện diện vô cùng phong phú, vô cùng mãnh liệt, ở bên cạnh tất cả mọi người, ở mọi nơi và ở mọi thời.

Chúa Giêsu là người mở đường cho nhân loại. Người tiến về một thế giới sự sống viên mãn, cao cả để cho ta thêm niềm tin tưởng rằng: vận mệnh của Người cũng sẽ là vận mệnh của ta. Ta cũng sẽ được cùng Người bước vào sự sống thần linh vĩnh cửu, miễn là ta đi vào con đường của Người: con đường khiêm nhường phục vụ. Miễn là ta vâng giữ lời Người truyền dạy: Hãy yêu tha nhân như chính bản thân mình.

Lạy Đức Giêsu, xin hãy nâng lòng con lên khao khát những sự trên trời. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Bạn có cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu trong đời sống hằng ngày?
  2. Bạn làm cách nào để mọi người cảm thấy Chúa Giêsu đang hiện diện mãnh liệt trong thế giới?
  3. Bạn làm gì để xây dựng Nước Trời?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội


Chứng Nhân Của Niềm Vui

Niềm vui của cộng đoàn Giáo Hội và của mỗi người tín hữu không dừng lại khi Mùa Phục sinh kết thúc, nhưng còn được tiếp tục và dàn trải trong suốt cuộc đời. Trước khi về trời, Đức Giêsu mời gọi các môn đệ hãy trở nên những nhân chứng của niềm vui thiêng liêng thánh thiện ấy.

Trong Mùa Phục sinh, lời cầu nguyện của Giáo Hội trong Phụng vụ luôn diễn tả niềm vui. Đó là niềm vui tái sinh, làm cho người tín hữu trở nên con người mới trong Chúa Giêsu Phục sinh. Đó cũng là niềm vui vì có Chúa Phục sinh đang hiện diện, là nguồn mạch sức sống, ân sủng và bình an. Niềm vui của cộng đoàn Giáo Hội và của mỗi người tín hữu không dừng lại khi Mùa Phục sinh kết thúc, nhưng còn được tiếp tục và dàn trải trong suốt cuộc đời. Trước khi về trời, Đức Giêsu mời gọi các môn đệ hãy trở nên những nhân chứng của niềm vui thiêng liêng thánh thiện ấy.

Trình thuật về việc Chúa Giêsu lên trời trong sách Công vụ Tông đồ được đề nghị cho cả ba năm A,B,C. Bởi lẽ đây là biến cố để lại nơi các môn đệ dấu ấn quan trọng. Đó là lần cuối cùng các ông được gặp gỡ Chúa ở trần gian. Cuộc tiễn đưa này, vừa lưu luyến bịn rịn, vừa vui mừng và hy vọng. Các ông đã được chuẩn bị trước cho cuộc chia tay này bằng các lời giáo huấn của Chúa. Các ông cũng được Chúa hứa sẽ ban Thần Chân lý, Đấng bảo trợ để soi sáng và hướng dẫn các ông. Về phần các ông, Chúa trao phó sứ mạng quan trọng và rõ ràng: "Anh em hãy là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, Samari và cho đến tận cùng trái đất". Khởi đi từ Giêrusalem, là thành thánh và là thủ đô của Do Thái giáo, lời chứng về Đấng Phục sinh đi đến với Samari là một dân tộc có nhiều thù nghịch với người Do Thái, rồi từ đó đến với mọi mọi nơi trên thế giới. Hai mươi thế kỷ đã qua, khởi đi từ nhóm mười một người dân chài người Galilêa, ánh sáng Tin Mừng đã được tỏa lan đến mọi nền văn hóa trên khắp địa cầu, đến với mọi quốc gia, mặc dù còn những thù nghịch, nghi kỵ hay mặc cảm thành kiến.

Tác giả sách Công vụ Tông đồ còn kể lại, sau khi dặn dò các môn đệ, Chúa Giêsu "được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người". "Đám mây" mà tác giả nói tới ở đây là biểu tượng vinh quang của Thiên Chúa. Đây cũng là hình ảnh nói lên sức mạnh và quyền năng của Đấng Tối cao. Đức Giêsu lên trời là tiến vào vinh quang vĩnh cửu của Chúa Cha. Người kết thúc cuộc đời trần thế khi hoàn thành sứ mạng cứu thế. Chúa Giêsu về trời mang theo nhân tính của Người, và cùng với nhân tính ấy, cả nhân loại hy vọng cũng sẽ được về trời với Người. Nói cách khác, qua biến cố Đức Giêsu về trời, chúng ta là những con người cũng hy vọng sẽ được về trời vinh quang với Chúa, vì Chúa mang trong mình bản tính nhân loại giống như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.

Bài Tin Mừng Thánh Mátthêu tiếp tục diễn tả lệnh truyền của Chúa cho các môn đệ: "Anh Em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần". Đây cũng là một cách diễn tả khác của lệnh truyền hãy trở nên chứng nhân của Chúa giữa trần gian. Việc phát triển cộng đoàn tín hữu khởi đi từ những chứng nhân khả tín của mỗi cá nhân, nhờ đó nhiều người nhận ra giáo huấn của Chúa và gia nhập Giáo Hội của Người.

"Hỡi các người Galilê, sao còn đứng đó nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời". Chúng ta không cử hành lễ Thăng Thiên như sự ly biệt buồn bã u sầu. Trái lại, chúng ta mừng lễ này với niềm vui vì tin rằng Đấng Phục sinh đang tiếp tục hiện diện thiêng liêng và vô hình giữa cuộc sống của chúng ta. Giáo Hội diễn tả niềm vui ấy qua Kinh Tiền tụng lễ Thăng Thiên: "Người lên trời, không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước".

Như các tông đồ đã xuống núi sau khi chứng kiến Chúa Giêsu lên trời, mỗi tín hữu chúng ta cũng đi vào lòng cuộc đời để làm chứng cho Chúa Giêsu. Nếu Chúa Giêsu không còn hiện diện thể lý như trước đây, thì nay Người hiện diện nơi cuộc sống thấm đượm niềm vui của người tín hữu. Vì thế, họ được mang danh Kitô hữu. Nhờ được trang bị bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, người Kitô hữu có can đảm và nghị lực để trở thành những chứng nhân cho Đấng đã chết và sống lại vì yêu thương con người và để cứu chuộc trần gian. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy xác tín điều đó. Vị Tông đồ dân ngoại đã cầu xin cho chúng ta thấy rõ đâu là niềm hy vọng chúng ta đã nhận được, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú chúng ta được chia sẻ và đâu là quyền lực vô biên Chúa đã tỏ cho chúng ta thấy (Bài đọc II). Khi xác tín những điều trên, cuộc sống của chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui mừng hân hoan.

Lễ Chúa Giêsu lên trời không phải là kết thúc, nhưng là khởi đầu một chặng đường mới, chặng đường của chứng nhân. Mỗi chúng ta hãy lên đường, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, mạnh mẽ can đảm làm chứng cho Chúa, như Người đang mời gọi chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật VI Phục Sinh – Năm A
Posted by: LongHai - 05-18-2017, 05:00 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Sự Sống Mới

Nếu các Tin mừng Matthêu, Marcô và Luca mời gọi ta vào Vương quốc Thiên Chúa, thì Tin Mừng Gioan mời gọi ta vào tình yêu Chúa Giêsu Kitô. Thánh Gioan là người sống sau cùng. Sau khi đã nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, thánh nhân nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đệ là tình yêu chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, là sống sự sống của Thiên Chúa.

Tình yêu đó không phải là thứ tình yêu mơ mộng lãng mạn nhưng là một tình yêu sàng suốt của lý trí.Tình yêu đó không phải là chuyện đuổi bướm, hái hoa, rung động, xúc cảm, nhưng là một tình yêu với những việc làm cụ thể. Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy.

Đó chính là bí quyết Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, trước khi người giã từ các ông để đi vào thế giới đức tin. Từ nay để gặp gỡ Người, để yêu mến Người, để sống với Người, cần phải có đức tin và tình yêu.

Tin và Yêu là đôi mắt giúp ta nhìn thấy những sự thực siêu nhiên. Người không tin và không yêu sẽ không nhìn thấy như lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay: "Thầy ban cho anh em Thần chân lý, Đấng mà thế gian không thể đón nhận được vì thế gian không thấy và không biết Người". Cũng như kiến thức ý khoa là khả năng chuyên môn giúp người bác sĩ nhận dạng được các loại vi trùng, định đúng được bệnh trạng của bệnh nhân; hoặc như kiến thức về thảo mộc củanhà thực vật học giúp họ nhận dạng phân loại và biết rõ đặc tính của những loải cây cỏ, tin và yêu cũng phải là khả năng chuyên môn giúp người môn đệ Chúa nhận ra những sự thực siêu nhiên, nhìn thấy, nhận biết và đón nhận Thiên Chúa.

Tin và Yêu, như vậy, là con đường dẫn đưa ta tới gặp gỡ Thiên Chúa.

Với đức tin và tình yêu, người môn đệ Chúa không còn thấy Thiên Chúa là một Đấng xa vời, mơ hồ, nhưng là một Đấng gần gũi, rất thật. Với đức tin và tình yêu ta sẽ gặp được Đức Chúa Cha, Đấng thương yêu, luôn chăm sóc cho ta, luôn mời gọi ta, luôn muốn ấp ủ ta, luôn muốn tha thứ cho ta.

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ gặp được Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, trong Sách Thánh, trong những lời giáo huấn của Giáo hội và trong những anh em sống quanh ta.

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Thánh Thần khi Người đốt lên trong tim ta ngọn lửa yêu mến, khi Người thúc đẩy ta dẫn thân phục vụ, khi Người soi sáng cho ta những sáng kiến trong những hoạt động mới.

Nhưng quan trọng nhất là: Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh. Tin và Yêu không chỉ cho ta nhìn thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà còn cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống đó là hiệp thông, như lời Chúa Giêsu nói: "Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến".

Chúa Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha, ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến ở trong ta. Ở trong người nào tức là được người ấy yêu thương. Hiệp thông trong yêu thương là một thái độ cởi mở: mở tâm hồn ra để cho đi và nhận lãnh sự sống. Nhờ Tin và Yêu, ta mở lòng ra đón nhận Thiên Chúa, sự sống mới, sự sống sung mãn, sự sống vĩnh cửu.

Đúng như lời Chúa Giêsu nói: "Thầy sẽ không để anh em mồ côi". Ai nhắm mắt đức tin, sẽ không nhìn thấy Chúa, sẽ trở thành mồ côi. Ai đóng cửa tình yêu, sẽ không gặp được Chúa, sẽ sống trong cô độc. Nhưng người môn đệ Chúa, nhờ có đức tin và tình yêu sẽ gặp được Thiên Chúa Ba Ngôi. Và như thế việc ta đi của Chúa Giêsu không những không thiệt hại mà còn ích lợi cho ta. Sự ra đi của Người dẫn ta đi đến kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong sự sung mãn, sự sống dồi dào.

Nhưng để đạt tới điều Chúa Giêsu đã hứa, ta hãy nhớ lại một lần nữa lời Người căn dặn: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các giới răn của Thầy". Đức tin được thể hiện bằng tình yêu. Tình yêu được chứng minh qua hành động. Đó là chìa khoá của đời sống Kitô hữu.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Theo bạn, tình yêu mến Chúa là những tình cảm bồng bột hay những việc làm cụ thể theo lý trí?
  2. Có bao giờ bạn cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống không?
  3. Bạn có cố gắng làm chứng cho người khác về sự hiện diện của Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện và bác ái của bạn không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Hà Nội


Nhân Danh Chúa Giêsu Phục Sinh

Chúng ta phải phản chiếu hình ảnh Chúa Giêsu trong đời sống của mình, để rồi, qua những hành vi cử chỉ của chúng ta, mọi người nhận ra Đấng Phục sinh đang hiện diện.

Từ thuở sơ khai của Giáo Hội, trọng tâm lời giảng dạy của các tông đồ chỉ xoay quanh sự kiện Chúa Giêsu đã chết, đã sống lại và nay đang hiện diện giữa cộng đoàn những người tin. Các ông rao giảng điều này với niềm xác tín, và sẵn sàng lấy mạng sống của mình để chứng minh cho lời rao giảng của mình. Cũng như Chúa Giêsu thành Nagiarét khi còn sống trên trần gian đã làm những phép lạ để chứng minh quyền năng thiên linh của Người, các tông đồ cũng làm được những phép lạ để chứng minh điều các ông loan báo. Tuy vậy, nếu Chúa Giêsu làm những phép lạ bởi vì Người là Thiên Chúa, thì các tông đồ lại làm những phép lạ nhờ nhân danh Chúa Giêsu. Các ông đều xác tín một điều, các ông chỉ là dụng cụ của Chúa. Những điều kỳ diệu mà các ông có thể làm được là nhờ Đấng Phục Sinh đang hiện diện. Lời giảng dạy đầy xác tín của các tông đồ đã làm cho cộng đoàn tín hữu phát triển nhanh chóng, lan rộng sang cả những miền "ngoại giáo". Tại Samaria, tông đồ Philipphê đã rao giảng và làm nhiều phép lạ, chữa nhiều chứng bệnh nan y khác nhau. Tác giả sách Công vụ Tông đồ đã diễn tả giai đoạn khởi đầu của Giáo Hội rất lạc quan, vui tươi, hướng tới một viễn cảnh tốt đẹp (Bài đọc I).

Hai ngàn năm đã qua kể từ biến cố Phục sinh, cộng đoàn tín hữu, tức là Giáo Hội vẫn luôn tin rằng Đấng Phục sinh đang hiện diện và hoạt động. Cùng với Thánh Thần, Người đã hướng dẫn soi sáng và gìn giữ Giáo Hội trước phong ba bão táp của trần gian. Trong lời di ngôn của Chúa Giêsu vào cuối bữa Tiệc ly, Người đã kêu gọi các ông hãy tín thác nơi Chúa. Người cũng hứa sẽ không để các ông mồ côi. Chính Người sẽ ở với họ và ở giữa họ, mặc dù cách thế hiện diện của Người mang tính thiêng liêng vô hình. Cùng với Đấng Phục sinh, Thần Chân lý, tức là Ngôi Ba Thiên Chúa là ân ban của Chúa Cha, đến để ở cùng các môn đệ. Vai trò của Thần Chân lý là hướng dẫn Giáo Hội luôn đi theo sự thật, để rồi, giữa một cuộc đời đầy gian dối mưu mô mà vẫn luôn vững vàng. Nhân danh Chúa Giêsu, Giáo Hội vẫn đang làm những "phép lạ", như những cánh tay nối dài của Đấng Phục sinh để đem tình thương cho người nghèo, bảo vệ người cô thế cô thân và nói lên tiếng nói chính nghĩa của mình.

Chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu lên trời, chúng ta lại tiếp tục được nghe những lời căn dặn thân tình của Người dành cho các môn đệ: "Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy". Tình mến dành cho Chúa và nỗ lực cố gắng để thực thi Lời Người có tương quan biện chứng với nhau. Trong bối cảnh ngày nay, có nhiều người mến Chúa nhưng chỉ là lòng mến ngoài môi miệng và ngôn từ. Khi gặp thử thách gian nan, lòng mến giả tạo sẽ như một lớp sơn bị nước mưa cuốn trôi. Lòng mến đích thực không nhằm tìm kiếm những vụ lợi, nhưng yêu mến Chúa vì Chúa tốt lành, vì Chúa là Cha, là Đấng tác tạo nên chúng ta. Đương nhiên, khi cầu nguyện, người tín hữu vẫn có thể cầu xin bình an, may mắn, sức khỏe, của cải, con cái vì đó là những lời cầu xin chính đáng. Người có lòng mến Chúa đích thực vẫn an vui và cậy trông khi gặp thử thách. Giữa những đau thương, họ vẫn nhận ra tình yêu của Ngài, và luôn một niềm trung tín cậy trông.

Ở mọi nơi và mọi thời, Giáo Hội luôn hành động nhân danh Chúa Giêsu Phục sinh. Trong quá khứ, có những lúc Giáo Hội tự quy chiếu về mình như đích điểm và trung tâm. Những lúc ấy, Giáo Hội chuốc lấy mọi thất bại, vì đã lấn át vị trí của Chúa để tôn vinh chính mình. Giáo Hội là ai nếu không phải là mỗi người tín hữu chúng ta? Vì thế, chúng ta phải phản chiếu hình ảnh Chúa Giêsu trong đời sống của mình, để rồi, qua những hành vi cử chỉ của chúng ta, mọi người nhận ra Đấng Phục sinh đang hiện diện. Qua lối sống tốt lành, khiêm tốn, chúng ta có thể "sẵn sàng trả lời thỏa mãn cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng" (Bài đọc II). Có biết bao câu hỏi đang được đặt ra liên quan đến sự hiện hữu của Chúa cũng như mục đích tối hậu của con người. Không thiếu những người còn mang đầy thành kiến với đức tin Kitô giáo. Có thể họ đã có lần chứng kiến những việc làm không tốt của người Công giáo, hoặc có thể hình ảnh về Giáo Hội nơi họ bị biến dạng, vì họ nghe tuyên truyền đến từ phía những người thù ghét Giáo Hội. Một cuộc sống yêu thương sẽ góp phần xóa đi những thành kiến ấy, đồng thời xây dựng mối thân thiện chan hòa, cùng hướng về Thiên Chúa là Cha chung của cả nhân loại.

Vinh dự của người tín hữu là được ở trong Chúa Giêsu và cùng với Người ở trong Chúa Cha. Khi được ở trong Chúa Cha, chúng ta tuy còn sống dưới thế mà đã được hưởng hạnh phúc Nước Trời. Một khi ở trong Chúa Giêsu, Chúa sẽ tỏ mình ra cho chúng ta, tức là chúng ta sẽ nhận biết Người và cảm nhận rõ nét hơn sự hiện diện của Người trong cuộc sống. Hãy sống và hành động nhân danh Chúa Giêsu, bắt chước Người như một khuôn mẫu hoàn hảo, để được nên đồng hình đồng dạng với Người.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật V Phục Sinh – Năm A
Posted by: LongHai - 05-11-2017, 06:29 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Đường Giêsu

Băn khoăn về nguồn cội con người, thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời, thao thức truy tìm cứu cánh của đời người đã tiếp nối bằng bao thế kỷ mà không có được câu trả lời thoả đáng. Con người bơ vơ giữa ngã ba không biết phải đi về đâu. Khi xuống trần, Chúa Giêsu đã cho ta biết nguồn cội của Người là Đức Chúa Cha, ý nghĩa đời Người là thi hành thánh ý Chúa Cha, và cùng đích đời Người là trở về với Chúa Cha. Muốn về với Đức Chúa Cha, ta phải theo một con đường. Đường ấy có tên là GIÊSU. Đường này chắc chắn an toàn đi đến nơi về đến chốn vì Chúa Giêsu là người mở đường. Người chính là con đường và Người là tâm điểm của đích tới.

Chúa Giêsu là người mở đường.

Đi đâu cũng cần có đường. Không con đường nào tự nhiên có. Phải có người mở đường.

Có người mở ra những con đường vật chất, nhờ có óc phiêu lưu mạo hiểm, có tầm nhìn bao quát, có óc tính toán thực tế.

Có người mở ra những con đường suy tư triết học, sáng tác nghệ thuật, nhờ trí tuệ thông minh xuất chúng, có tư duy sáng tạo, có trực giác bén nhạy, có trí tưởng tượng phong phú.

Nhưng không ai có thể mở con đường lên trời. Đường lên trời hoàn toàn vượt khả năng con người. Phải có Đấng, ấy là Chúa Giêsu, Người đã đến từ Đức Chúa Cha, nay Người trở về cùng Đức Chúa Cha. Người lại hứa dọn chỗ cho ta trong Nhà Cha. Với những thông tin như thế, Người đã cho ta biết Trời chính là Nhà Cha. Quê Trời trở thành Quê Cha. Nước Trời trở thành một cõi đi về thân thương của con người. Con đường đi về ấy, chính Chúa Giêsu đã mở.

Chúa Giêsu là đường.

Không chỉ là người mở đường. Chúa Giêsu chính là con đường. Để về Nhà Cha, ta không chỉ đi theo, đi với mà còn phải đi trong Người. Không chỉ đi trong đường lối, trong tinh thần, nhưng trong chính bản thân Người. Như cành nho gắn liền với thân nho và sống bằng sự sống của thân nho. Như bánh rượu tan hoà vào trong máu thịt trở nên thành phần của bản thân ta. Như bản tính Thiên Chúa kết hợp với bản tính loài người trong bản thân Người. Đi trong Người để ta ở trong Người như Người ở trong Chúa Cha. Đi trong Người để ta mang hình ảnh của Người, để ai thấy ta cũng như thấy Người, như "Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy".

Chúa Giêsu là đích tới của con đường.

Đi trong Chúa Giêsu là một hành trình dài. Đi suốt cả đời chưa chắc đã tới.

Để đi trong Chúa Giêsu ta phải từ bỏ hết những gì của bản thân mình, kết hiệp trọn vẹn với Người, cũng như Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha, để trở nên một với Chúa Cha.

Khi đã hoàn toàn từ bỏ hết ý riêng và trở nên một với Người cũng là lúc ta đạt tới đích điểm, là lúc ta gặp được Chúa Cha, là lúc ta ở trong Nhà Cha, là lúc ta đạt tới Quê Hương yêu dấu trên trời.

Lạy Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, xin cho con biết đi trong con đường của Người.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Bạn hãy thử tìm ra những đặc điểm của con đường Giêsu (Vd: hiền lành, khiêm nhường...)
  2. Bạn còn xa hay đã gần con đường Giêsu?
  3. Bạn có mong đi trọn vẹn trong con đường Giêsu không? Nếu muốn, bạn cần những điều kiện nào nữa?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Hà Nội


Đường Giêsu, Đường Con Đi
Trích trong 'Với Cả Tâm Tình'

Trong những ngày đầu tháng 02 năm 1990, có một con đường ở huyện ngoại thành đã được báo chí làm cho nổi tiếng. Con đường ấy một đầu là giăng ngang biểu ngữ khai trương phòng vật lý trị liệu trá hình, còn đầu kia là sừng sững một khách sạn mini sang trọng làm nhà riêng của người biển thủ, chức danh là giám đốc. Con đường ấy chợt nổi tiếng vì những vụ tai tiếng.

Từ hai mươi thế kỷ nay, trong Giáo Hội, người ta biết có một con đường thật danh tiếng và luôn luôn nổi tiếng. Con đường ấy mở ra bằng một tình thương và kết thúc bằng một hạnh phúc. Con đường ấy trải dài tin yêu để lâng lâng vươn lên sự sống. Con đường ấy thấp sáng hy vọng để dẫn tới Nhà Cha trên trời. Đường mở về miên viễn, Đường dẫn đến vĩnh hằng. Đó là đường mang tên Chúa Giêsu.

1. Đường hy vọng tin yêu.

Nếu có một câu hỏi được các Tông đồ đặt ra nhiều nhất thì đó phải là câu hỏi thuộc về nơi chốn. "Thầy ở đâu?" là câu hỏi của Gioan đặt ra trong lần đầu gặp gỡ, để được gọi đến xem và bước vào ơn gọi; "Thầy muốn chúng con dọn lễ Vượt Qua ở đâu?" là câu hỏi của các Tông đồ đặt ra để có được địa chỉ chính xác cho Bửa Tiệc Ly; và hôm nay lại là Tôma nôn nóng bật ra câu hỏi "Thầy đi đâu?" trước một tương lai vẫn còn ẩn khuất.

Bận tâm về nơi chốn là bởi vì trong đời theo Chúa, các ông luôn được dẫn vào những cuộc hành trình, mà cuộc hành trình cuối cùng là tiến về Giêrusalem để chứng kiến Thầy mình chịu chết. Có khối ông đã coi đây là con đường thất bại của Chúa để trở thành con đường thất vọng của mình. Mấy năm dài miệt mài theo Chúa những mong có ngày tả hữu vinh quang, nào ngờ Người lại bị đóng đinh như tên tử tội. Công dã tràng! Khi mọi vốn luyến hy vọng đặt cả vào canh bạc cuộc đời, rồi bổng dưng lật ngữa trắng tay, người ta như rớt từ trên cao quay cuồng chao đảo. Thế mới hay ước vọng thì rộng lớn nhưng khung đời lại chật hẹp mà thực tế lại phũ phàng!

"Thầy đi đâu?" Ẩn sâu dưới câu hỏi ấy là một tâm trạng hoang mang trước một quá khứ vứa mới khép lại mà tương lai chưa kịp mở ra. Tương lai ấy mới mẻ hay chỉ là quá khứ đươc lặp lại ở thì sẽ đến? Đã một lần vỡ mộng, các Tông đồ băn khoăn là chuyện thường tình. Giống như đứa trẻ lỡ một lần phải bỏng, hễ thấy lửa là tự nhiên rụt tay lại. Vì thế, nghe trong câu hỏi "Thầy đi đâu?" có âm hưởng lo âu tự hỏi "mình đi đâu?".

Thất vọng về quá khứ và hoang mang trước tương lai, đó là những con đường các Tông đồ đã nếm trải. Nhưng mở đầu Tin Mừng hôm nay lại là lời của Chúa Giêsu: "Các con đừng xao xuyến". Đó là lời an ủi vỗ về, đồng thời cũng là lời cắt băng khai mở một con đường mới trong hy vọng tin yêu.

2. Đường mang tên Giêsu.

"Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống". Trả lời cho Tôma, cùng lúc Chúa Giêsu để lộ cho biết từ nay chỉ có một con đường duy nhất được mở ra trong ơn cứu độ, và tên gọi con đường ấy lại chính là Người.

Người là Đường Sự Thật bởi Người là Chân Lý, một chân lý sống động khả tín làm nền tảng và hướng đi cho mọi cuộc đời, một thực tại năng động đầy Thần Khí làm sức mạnh giải thoát cho mọi kẻ tin. Đường Sự Thật không phải là một hệ thống tín điều do Chúa Giêsu thiết định, nhưng là toàn thể cuộc sống lời nói việc làm của Người trong ý nghĩa cứu độ. Nhưng đâu phải ai cũng nhận ra? Giữa phiên tòa dịp lễ Vượt Qua, trước mặt Chúa Giêsu, Philatô đã hỏi một câu ngớ ngẩn: "Sự Thật là chi?- Quid est Veritas?" Chúa Giêsu không trả lời, vì Sự Thật hiện thân chính là Người đứng đó. Có biết đâu hỏi là đã trả lời, chỉ cần sắp xếp lại thứ tự các mẫu tự sẽ thành hàng chữ: "Est Vir qui adest" (x. Tihamet Toth, Chúa Cứu Thế Với Thanh Niên, p. 95).

Người là Đường Sự Sống bởi Người là Sự Sống thượng nguồn phát sinh các sự sống khác trong công trình sáng tạo, và là Sự Sống cội nguồn mà mọi sự sống khác phải tìm về trong công cuộc tái tạo của ơn cứu độ. Người thông ban sự sống cho mọi sinh linh, và luôn đi bước trước để lôi kéo mọi người về với Sự Sống của Thiên Chúa. Người chịu chết để nhân loại được sống, và Người sống lại để mãi mãi mở ra nẻo đường dẫn vào cõi sống. Mọi sự sống trần gian có thể đổi thay tan biến, nhưng Sự Sống Người là vĩnh cữu trường tồn. Người hằng sống hằng trị muôn đời.

Người là Đường dẫn tới Nhà Cha bởi Người và Cha không thể tách lìa: Chúa Con ẩn mình trong Chúa Cha và Chúa Cha tỏ hiện trong Chúa Con. Vẫn là Một từ ngàn xưa và mãi là Một tới ngàn sau. Thế nên Đường mang tên Giêsu tất yếu cũng là địa chỉ Nhà Cha, và ngược lại tìm đến Nhà Cha cũng là hành trình vào Đường Sự Thật và Sự Sống.

3. Đường con đi.

Dẹp bỏ con đường cũ của thất vọng hoang mang để khai mở con đường mới bằng toàn diện con người mình, Chúa Giêsu muốn truyền lại cho các Tông đồ cái kinh nghiệm hiện sinh phong phú liên kết với Cha qua Chân Lý và Sự Sống; đồng thời đó cũng chính là lời mời gọi Giáo Hội cất bước lên đường với những hành trang đi về hạnh phúc.

Đi trên Đường Giêsu là đi bằng cả niềm tin gắn bó hiệp thông của những con người biết mình có một lí tưởng để theo đuổi, và sẵn sàng hy sinh tất cả để đạt được lí tưởng ấy. Trút bỏ những hành trang cồng kềnh của danh lợi thú, đoạn tuyệt với những ngõ cụt lối mòn sao gợn sỏi đá của cuộc sống khô khan, chấp nhận canh tân để có được bước đi vừa thanh thót vừa thanh thản của đời nhân đức chính là hát lên khúc ca mới trên con đường mới. Vì lí tưởng ấy chính là lẽ sống, cũng chính là vinh dự một đời: "Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện, Dân riêng của Chúa..." (bài đọc thứ hai).

Đi trên Đường Giêsu cũng là đi bằng niềm hy vọng bền vững. "Thầy đi dọn chổ cho các con". Vận mệnh tương lai đã mở ra. Không còn xa xôi tít tắp, nhưng đã châm rễ từ cuộc đời này. Sống hôm nay là chuẩn bị sống ngày mai, và ngày mai tại Nhà Cha đã được định hình ngay từ bây giờ trong bước đường lữ thứ của Hội Thánh ở giữa lòng đời. Đi trong hy vọng là nhận ra rằng con người được tạo dựng để hướng về một cứu cánh, được tái sinh trong giới hạn nhưng không ngừng hướng về vô hạn. Thiết tưởng lời kinh của Thánh Auguatinô có thể là tóm kết của bước đi hy vọng đã biến thành khát vọng: " Lạy Chúa, Chúa dựng nên con để cho Chúa, nên con mãi khắc khoải cho tới khi được nghĩ ngơi trong Ngài".

Đi trên Đường Giêsu còn là đi bằng cả tình yêu chan hòa phục vụ. Bài đọc thứ nhất là hình ảnh đẹp về một Giáo Hội trẻ đang cựa mình vươn vai tiến tới. Có những phân công khác biệt: kẻ phục vụ bàn thánh, người phục vụ bàn ăn; kẻ chuyên chăm rao giảng Lời Chúa, người chuyên lo hạnh phúc anh em. Nhưng vẫn là nhịp bước đồng hành. Có thể nói được rằng tình yêu và phục vụ là đôi chân của Giáo Hội lữ hành đặt bước chân mình trong dấu chân Chúa. Và cũng có thể hiểu được rằng cách nhìn "con người là con đường của Giáo Hội" (Gioan Phaolô II) chính là tốc độ mới của tình yêu chan hòa phục vụ trên Đường Giêsu hôm nay.

Và lời cuối cùng sẽ là một lời kinh, dệt nên khúc hát hy vọng cho những ai đang băn khoăn tìm kiếm một con đường sống, và biến nên hành khúc tin yêu cho những ai đã một lần cất bước hành trình: "Chúa muốn nhận con đường con đi, nên Ngài đã sinh xuống dương gian. Chúa đã nhận đôi bàn tay con, dìu từng bước, bước đi trên đường. Chúa ôi, khi nhìn đời con, con không hiểu từng giọt lệ sầu. Chúa ôi, khi nhìn đời Ngài, con đã gặp đường hướng con đi".

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Hà Nội


Nhà Cha Thầy

Nhà Cha bao giờ cũng gợi nên tình cảm thân thương nồng ấm, là nơi trú ẩn an toàn trước những thử thách thị phi của người đời. Nơi nhà Cha, mọi lỗi lầm đều được tha thứ bao dung.

Bài Tin Mừng hôm nay thường được đọc trong thánh lễ an táng hoặc thánh lễ cầu hồn. Vào lúc tang thương nhất của kiếp sống nhân sinh, tức là khi đối diện với cái chết, những lời Chúa Giêsu đem lại cho chúng ta niềm hy vọng lạc quan. Dù sống chết âm dương cách biệt, chúng ta vẫn tin rằng người thân yêu của chúng ta không tan biến vào cõi hư vô, nhưng đến nơi Chúa Giêsu đã dọn sẵn. Chúa Giêsu đã dùng một hình ảnh rất ý nghĩa và sinh động, đó là nhà Cha. Nhà Cha bao giờ cũng gợi nên tình cảm thân thương nồng ấm, là nơi trú ẩn an toàn trước những thử thách thị phi của người đời. Nơi nhà Cha, mọi lỗi lầm đều được tha thứ bao dung.

Những lời an ủi ngọt ngào của Chúa không chỉ hướng tới những người đã chết, mà còn giúp chúng ta, là những người đang sống, suy tư về ý nghĩa cuộc đời. Chúa nhật tuần trước, hình ảnh người Mục Tử nhân lành khẳng định với chúng ta, trên đường đời dương thế, chúng ta có Chúa Giêsu hướng dẫn, nhờ đó, chúng ta không sợ lạc đường. Người dẫn chúng ta như mục tử dẫn chiên tới suối mát lành và đồng cỏ xanh tươi. Chúa nhật hôm nay, Phụng vụ khẳng định với chúng ta, Đấng Phục sinh chuẩn bị và dọn sẵn cho chúng ta một nơi cư ngụ bền vững trên trời, nơi mà Người gọi là "Nhà Cha". Đây không phải là một lời hứa suông, nhằm ru ngủ chúng ta giữa những lo toan bận rộn trần thế. Trái lại, đó là một khẳng định chắc chắn. Bởi lẽ Chúa Giêsu từ Chúa Cha mà đến. Người có sứ mạng nói với chúng ta về Chúa Cha. Thánh Gioan đã khẳng định: “Chưa ai thấy Thiên Chúa bao giờ, Con Một Ngài từ cung lòng Chúa Cha đến nói với chúng ta về Chúa Cha” (Ga 1, 18). Vì vậy, những gì Chúa Giêsu nói với chúng ta về Nước trời và về Chúa Cha đều lả những điều chân thật và xác tín.

Đôi khi chúng ta tự hỏi: cái chết và sự phục sinh của Chúa có liên quan gì đến chúng ta, những người sống hai mươi thế kỷ sau Chúa Giêsu. Kinh Thánh đưa ra cho chúng ta câu trả lời: Đức Giêsu Phục sinh mở lối cho chúng ta về quê trời. Người cũng cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ lạc quan về kiếp sống nhân sinh. Con người sau khi sống cuộc đời trần thế, nếu họ sống ngay chính và thánh thiện, được mời gọi về hưởng phúc vĩnh cửu nơi thiên quốc. Đức Giêsu gọi nơi ấy là nhà Cha. Còn hình ảnh nào sinh động và thân thương hơn là nhà Cha, nơi đó mình được sinh ra và lớn lên chập chững vào đời? Sau khi kết thúc hành trình trần thế, theo ngôn ngữ đời thường gọi là sau khi chết, người tin Chúa sẽ được về nhà Cha, là đấng sinh ra mình, là cội nguồn nơi chúng ta hướng về. Nhà Cha là nơi thân thương trìu mến. Nhà Cha cũng là nơi mọi người con, dù hư đốn đến đâu chăng nữa, cũng có một chỗ để cư ngụ và được đón tiếp. Nơi nhà Cha, những người con dù bất hiếu đến mức nào, nếu thành tâm sám hối, đều được tha thứ và yêu thương. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh thân thương này để nói về đích điểm của người tín hữu. Những ai xa quê đều hiểu nhà Cha có ý nghĩa như thế nào. Đó là nơi mọi người, nhất là khi gặp thất bại trên con đường công danh sự nghiệp, đều mong tìm về, với hy vọng tìm lại nơi trú ẩn bình yên.

Chúa Giêsu Phục sinh đã đi trước chúng ta để dọn đường cho chúng ta. Người luôn muốn những điều tốt đẹp cho chúng ta, mặc dầu chúng ta bất xứng và tội lỗi. Thánh Phêrô đã khẳng định điều này (Bài đọc II). Người tín hữu phải luôn tự hào, vì mình là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa. Danh xưng và vinh dự này dẫn chúng ta đến bổn phận phải loan truyền quyền năng của Thiên Chúa giữa các dân nước và trong môi trường chúng ta đang sống. Bởi lẽ những ai đã cảm nghiệm được những điều tốt lành Chúa đã làm đối với cuộc đời của mình, thì họ có bổn phận phải tuyên xưng Danh Chúa, đồng thời nói cho môi trường xung quanh rằng: Chúa đã làm cho tôi những điều kỳ diệu. Ngài yêu thương tôi và hôm nay, ngay lúc này, Người đang hiện diện để đỡ nâng tôi trong cuộc đời còn đầy những gian nan vất vả và những thử thách cam go khắc nghiệt trên đường đời.

Tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, cộng đoàn tín hữu luôn thi hành sứ mạng phục vụ. Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể cho chúng ta vào thời sơ khai, Giáo Hội đã ý thức được sứ mạng quan trọng này và đã thiết lập bảy phó tế đầu tiên chuyên chăm lo việc đáp ứng những nhu cầu vật chất cho cộng đoàn. Nhờ đó, Giáo Hội vừa rao giảng Lời Chúa, vừa phục vụ những nhu cầu trần thế của con người. Giáo Hội vừa thi hành sứ mạng của Chúa Giêsu khi coi việc loan báo Lời Chúa là ưu tiên số một, vừa đáp ứng những nhu cầu bức thiết của con người mọi thời đại, nhằm nâng đỡ họ về tinh thần cũng như vật chất, để họ sống xứng với phẩm giá con người và nhờ đó, họ nhận ra Đấng Tối cao. Trong suốt hai mươi thế kỷ đã qua, Giáo Hội vẫn luôn trung thành với sứ mạng ấy.

Người công giáo là người đang tiến bước trong hành trình về quê trời. Tuy vậy, hướng về quê trời không làm cho họ quên đi những bổn phận trần thế. Bởi lẽ hạnh phúc nước trời chính là kết quả của một cuộc sống yêu thương vị tha và bác ái mà chúng ta thực hiện ờ đời này. Chúa Giêsu Phục sinh và là Mục tử đang hướng dẫn cuộc đời của mỗi chúng ta. Hãy nghe theo lời người. Hãy quảng đại tiến bước theo Người. Hãy chọn Người như lý tưởng hoàn hảo của đời sống chúng ta, để Người dẫn chúng ta đến bến bờ của hạnh phúc. Đó là Nhà Cha, nơi không còn u buồn và tang chế, nhưng là nơi hạnh phúc tràn đầy, là nơi Chúa Giêsu dọn sẵn cho chúng ta nơi nhà Cha vĩnh cửu.

Khi nghĩ đến cái chết, người ta thường lo sợ và coi như một điều xui xẻo. Nhưng cái chết là một thực tại gắn liền với kiếp nhân sinh. Không ai tránh khỏi cái chết, dù giàu có và nhiều tiền bạc. Khi đối diện với cái chết, người vô tín đồng nghĩa với sự trở về hư vô. Đối với người tin Chúa, chết là trở về nhà Cha. Chết là sự biến đổi. Chết là cuộc vượt qua với Chúa Giêsu để về cõi sống. Nói cách khác, sự chết chỉ là sự biến đổi từ tình trạng hư nát hữu hạn sang tình trạng tồn tại vĩnh viễn.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng được đọc trong lúc chúng ta chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Việc Chúa về cùng Chúa Cha mang nhiều ý nghĩa. Cụ thể đối với chúng ta là người tín hữu, Chúa về trời mà không xa chúng ta. Trái lại, Người vẫn ở với chúng ta như lời Người đã hứa. Nếu Người có đi xa, là để dọn chỗ cho chúng ta, để nhờ đó, chúng ta được ở cùng Người trong hạnh phúc vĩnh cửu. Đó là niềm hy vọng và là lý tưởng của người tín hữu chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật IV Phục Sinh – Năm A
Posted by: LongHai - 05-04-2017, 04:27 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Cửa Chuồng Chiên

Cửa có hai công dụng. Để đóng vào và để mở ra. Có những cánh cửa như cửa tù ngục để giam kín phạm nhân. Có những cánh cửa giam hãm, bưng bít con người không cho thông giao với thế giới bên ngoài. Có những cánh cửa lò sát sinh nhốt thú vật để giết chết. Đó là những cánh cửa đóng kín chết chóc, huỷ hoại. Có những cánh cửa mở ra đón gió mát, đón khí trong lành, đón ánh sáng mặt trời tươi vui. Có những cánh cửa mở ra những chân trời xa tắp, khơi lên trong tâm hồn mơ ước cao xa. Có những cánh cửa mở ra đón nhận anh em trong tình huynh đệ thân mến. Đó là những cánh cửa mở ra sự sống.

Hôm nay, Chúa Kitô nói: "Ta là cửa chuồng chiên", Người đã tự nhận mình là cánh cửa. Chúa Giêsu là cánh cửa không phải để đóng kín giam hãm đàn chiên. Nhưng là cánh cửa mở ra.

Chúa Giêsu là cánh cửa mở ra những chân trời vô tận

Thỉnh thoảng ta nghe có dư luân xôn xao về ngày tận thế. Tất nhiên đó là một tin đồn thất thiệt, nhảm nhí, đượm mầu sắc mê tín dị đoan. Nhưng tin đồn đó cũng nói lên một sự thực là: Thế giới mà chúng ta đang sống là một thế giới hạn hẹp, sinh mạng con người là bèo bọt, kiếp sống con người là monh manh. Thật đáng buồn nếu con người chỉ có thế, bị kết án chung thân vào một thân xác mau tan rã, bị giam hãm trong một thế giới vật chất mau tàn tạ.

Chúa Giêsu Phục sinh đã phá vỡ vòng vây giam hãm đó. Khi tảng đá lấp cửa mộ lăn ra, Chúa Giêsu đã mở ra cho nhân loại một cánh cửa. Cánh cửa đó dẫn vào một không gian vô tận. Từ nay con người không còn bị kết án chung thân vào thân xác mau tan rã nữa, vì Chúa Giêsu phục sinh đã mặc lấy thân xác vinh hiển không bao giờ chết. Từ nay con người không còn bị giam hãm trong thế giới vật chất mau tàn tạ nữa, vì Chúa Giêsu Phục sinh đã mở lối ra thế giới thần linh, trong đó con người sống trong tự do, không còn bị ràng buộc trong không gian. Đó là một thế giới mới, thế giới vĩnh hằng, không bao giờ tàn tạ, thế giới vô biên chẳng có giới hạn.

Khi mở cánh cửa vào thế giới thần linh, Chúa Giêsu đã đẩy lùi ranh giới của thế giới vật chất đến vô hạn. Khi mở cánh cửa vào thế giới thần linh, Chúa Giêsu đã chắp cánh cho ước mơ của con người. Ước mơ ấy chẳng còn hạn hẹp trong những hạn chế của vòng vây thế giới, nhưng bay lên ngang tầm trăng sao để mơ những giấc mơ thần thánh. Khi mở cửa và thế giới thần linh, Chúa Giêsu đã giải phóng con người khỏi cảnh ngộ nô lệ vật chất hư hèn, nâng con người lên cuộc sống tự do của con Thiên Chúa.

Chúa Giêsu là cánh cửa mở ra suối nguồn sự sống

Thật là vô lý nếu con người sống chỉ để chết. Thật là vô lý nếu chết là hết. Nếu định mệnh con người là như thế, thà không sống còn hơn. Mỗi khi vào bệnh viện, ta không khỏi suy nghĩ khi nhìn những bệnh nhân rên xiết, quằn quại đau đớn hoặc thấy những tấm thân gầy còm, những khuôn mặt hốc hác. Đó là cái chết đang sống hay là một sự sống đang chết? Đời sống như thế còn có ý nghĩa gì không?

Chúa Giêsu đã bước vào thế giới kẻ chết để chiến đấu chống lại thần chết. Người đã chiến thắng. Và khi Người mở cửa mộ bước ra, Người đã mở cánh cửa dẫn vào một cuộc sống mới. Cuộc sống mới là một cuộc sống trọn vẹn bởi vì không còn bóng dáng Thần chết. Cuộc sống mới là một cuộc sống sung mãn bởi vì chẳng còn vết tích của đau khổ, bệnh tật, đói khát. Cuộc sống mới là một cuộc sống siêu nhiên trong đó con người được nâng lên làm con Thiên Chúa, được tham dự vào chính sự sống của chúa. Cuộc sống mới là một cuộc sống hạnh phúc vì được kết hợp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong một tình yêu trọn hảo.

Như thế cuộc sống con người vẫn có một hướng đi lên, để được nâng cao, để được phong phú, để được hoàn hảo. Chính vì thế mà dù biết cuộc sống khổ đau, người ta vẫn vui mừng khi một em bé chào đời. Chính vì thế người ta vẫn ăn mừng sinh nhật, coi đó là ngày trọng đại trong đời người.

Chính Chúa Giêsu đã biến đổi thân phận con người. Con người sinh ra không phải để chết, nhưng để sống, sống sung mãn, sống trọn vẹn, sống vĩnh viễn trong suối nguồn sự sống.

Nhưng để mở ra cho ta những chân trời vô tận của con Thiên Chúa, chúa Giêsu đã chịu nhận lấy kiếp sống mong manh, phù du, bèo bọt của con người. Để mở ra cho suối nguồn sự sống, Người đã phải đón nhận cái chết đau đớn. Người chính là vị Mục tử chân chính đã thí mạng vì đàn chiên.

Chúa Giêsu quả thật là cánh cửa mở ra cho đàn chiên đi đến những chân trời xa rộng, đi đến những đồng cỏ xanh tươi, đi đến những dòng suối trong lành.

Chúa Giêsu quả là vị mục tử tốt lành luôn chăm sóc đoàn chiên, luôn nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực bổ dưỡng. Chúa Giêsu đã đến cho ta được sống và được sống dồi dào.

Đó là cánh cửa duy nhất dẫn đến sự sống, ta hãy theo sát gót Người. Đó là người mục tử duy nhất, ta hãy nghe tiếng Người. Hãy đến với Người để Người đưa ta đến những chân trời xa rộng. Hãy đến với Người để Người băng bó vết thương, xoa dịu nỗi đau và phục hồi sự sống. Hãy đến với Người để Người đổ tràn tình yêu và sự sống vào tâm hồn ta.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Chúa Giêsu là cửa chuồng chiên. Tôi có theo vào cửa Người hay tôi đã chọn nhầm cửa khác?
  2. Chúa Giêsu là cánh cửa mở. Tôi có thường đóng cửa, ngăn không cho người khác vào?
  3. Chúa Giêsu đã hiến mạng sống để mở cửa cho tôi. Tôi có sẵn sàng hi sinh để mở cửa thêm rộng không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Hà Nội


Chúa Dẫn Đưa Con

Vị mục tử đã hy sinh mạng sống vì đàn chiên không phải chỉ là một nhân vật của lịch sử xa xưa, nhưng hôm nay Người đang sống. Người vẫn đang dẫn đưa chúng ta đến bến bờ của sự sống, đó là các bí tích và niềm vui của ân sủng.

Trong thánh lễ an táng và cầu hồn, đáp ca được đọc hay hát thường là bài "Chúa là Mục tử" hoặc "Chúa chăn nuôi tôi", trích từ Thánh vịnh 23. Lời ca sâu lắng, tha thiết và gợi hình, giúp cộng đoàn phụng vụ thêm lòng sốt sắng, giúp thân nhân gia đình người quá cố được ơn an ủi và niềm hy vọng. Thực ra, Thánh vịnh này không chỉ diễn tả việc Chúa dẫn đưa một người đã qua đời về vương quốc vĩnh cửu, mà còn diễn tả sự quan phòng yêu thương của Chúa đối với con người trong suốt cuộc đời. Ngài luôn chăm sóc chúng ta, ân cần chu đáo như một mục tử đối với đoàn chiên.

Trong xã hội du mục của người Do Thái thời xưa, hình ảnh người mục tử và đoàn chiên rất gần gũi đối với nền văn hóa và cuộc sống hằng ngày. Đi đâu ta cũng có thể gặp thấy đồng cỏ xanh, đoàn chiên thư thái ăn cỏ bên dòng suối mát lành dưới dự chăm sóc của các mục tử.

Trong Cựu ước, hình ảnh mục tử và đàn chiên đã được dùng để diễn tả mối quan tâm của Thiên Chúa đối với dân riêng của Ngài. Khi kêu cầu danh Chúa, người Do Thái đạo đức thân thưa với Chúa: "Lạy Mục tử nhà Ítraen, Ngài là Đấng chăn giữ nhà Giuse như chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe! (Tv 79, 2). Cũng như mục tử chăm sóc yêu thương đàn chiên, tác giả Thánh vịnh muốn xin Chúa chăm sóc, nhất là cứu vớt bảo vệ những ai đang bị chao đảo. Nếu đọc tiếp, chúng ta sẽ thấy tác giả diễn tả tình trạng gây hoang mang, khi nói về vườn nho là dân Ítraen: "Tường rào nó, vậy sao Ngài phá đổ? Khách qua đường mặc sức hái mà ăn! Heo rừng vào phá phách, dã thú gặm tan hoang". trước bối cảnh đau thương đó, ông không thất vọng, trái lại phó thác và cầu xin với niềm xác tín: "Lạy Chúa...xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời, để chúng con được ơn cứu độ" (Tv 79, 20).

Sau khi long trọng mừng lễ Phục Sinh, Phụng vụ mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu ở một khía cạnh đặc biệt: Người là Mục tử nhân lành. Chính Chúa Giêsu đã dùng danh xưng này và Người đã thể hiện là một mục tử đặc biệt qua cái chết trên thập giá. Người đã hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Người đã thi hành đức yêu thương ở mức độ hoàn hảo nhất, vì: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15, 13). Nhờ máu Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá, nhân loại được giao hòa với Chúa Cha. Những ai đón nhận giáo huấn của Chúa Giêsu và chuyên tâm thực hành, người ấy sẽ được kể như con chiên trong đàn chiên của Người. "Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và sẽ gặp được đồng cỏ". Đây vừa là một lời khẳng định vừa là một lời hứa. Những ai tin vào Chúa Giêsu và đi theo Người thì sẽ không bao giờ thất vọng, vì Người là Đường, là Sự thật và là Sự sống. Trong bài giảng đầu tiên vào ngày lễ Ngũ tuần, Thánh Phêrô khẳng định Chúa Giêsu là Đấng Kitô và là Chúa. Người đã chịu đóng đinh trên thập giá. Người giống như mục tử, vì sự bình an và sự sống của đàn chiên, đã hy sinh mạng sống mình. Bài giảng hùng hồn đã khiến cử tọa khóc lóc đau đớn trong lòng, và đã có thêm ba ngàn người xin gia nhập Đạo Chúa trong ngày hôm ấy (Bài đọc I).

Các đức tính của vị mục tử được Thánh Phêrô tông đồ nêu rõ: trung thành, chân thật, phó thác cho Thiên Chúa Cha (Bài đọc II). Cũng như mọi con chiên phải nghe theo mục tử, mỗi tín hữu được mời gọi hãy bắt chước các nhân đức của Đấng đã hy sinh mạng sống vì hạnh phúc con người. Bài học lớn nhất mà chúng ta học được nơi cây thập giá, đó là sự hy sinh vì tha nhân, sống vì người khác, để đem hạnh phúc cho họ.

Vị mục tử đã hy sinh mạng sống vì đàn chiên không phải chỉ là một nhân vật của lịch sử xa xưa, nhưng hôm nay Người đang sống. Người vẫn đang dẫn đưa chúng ta đến bến bờ của sự sống, đó là các bí tích và niềm vui của ân sủng. Giáo Hội là một đàn chiên, có Chúa Giêsu là mục tử. "Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào". Chúa Giêsu khẳng định Người là hướng đi cho tất cả những ai muốn đạt tới hoàn thiện. Vào "cửa" có tên là Giêsu là học cùng Người để lĩnh hội giáo huấn Người chỉ dạy. Người cũng là một trường học dạy sự hiền lành và khiêm nhường. Ngôi trường này luôn mở rộng cửa để đón tiếp mọi người. Tại ngôi trường này, con người được gặp gỡ Chúa Cha và gặp gỡ anh chị em trong tình thương mến. Nhờ việc đón nhận và thực hành giáo huấn của Chúa, cuộc đời của chúng ta được biến đổi. Sự biến đổi này thật lạ lùng đến mức làm cho người môn đệ được trở nên như hiện thân của Thày Giêsu trong lời nói, suy nghĩ và việc làm.

"Hỡi bạn là Kitô hữu, hãy luôn tự hào vì danh xưng ấy" (Thánh Lêô cả Giáo Hoàng). Mỗi chúng ta hãy cảm thấy vinh dự và vui mừng vì được mang danh Chúa Giêsu, đồng thời hãy góp phần mình làm cho đàn chiên Giáo Hội luôn vững mạnh, tỏa sáng giữa lòng đời. Giữa một cuộc sống còn nhiều góc khuất do tội lỗi và hận thù gây, hãy làm cho Giáo Hội thực sự là Ánh Sáng Muôn Dân, rạng soi thế giới.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật III Phục Sinh – Năm A
Posted by: LongHai - 04-27-2017, 12:59 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Đường Hy Vọng

Bài Tin Mừng hôm nay thật đẹp. Đẹp vì lời văn óng ả. Đẹp vì tình tiết ly kỳ. Đẹp vì tình nghĩa đậm đà. Đẹp vì những tư tưởng thần học thâm sâu. Nhưng đẹp nhất là vì bài tin Mừng chất chứa một niềm hy vọng trong sáng, xua tan mọi bóng tối thất vọng não nề.

Hai môn đệ rời Giêrusalem trở về làng cũ. Giêrusalem là trung tâm tôn giáo. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của sa sút niềm tin. Giêrusalem là trung tâm hoạt động. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của chán nản buông xuôi. Trước kia hia ông đã bỏ nhà cửa, gia đình để đi theo Chúa Giêsu. Nay hai ông trở về như hai kẻ thua cuộc. Ngày ra đi ôm ấp giấc mộng thành đạt. Ngày trở về ôm nặng một mối sầu. Sầu vì đã mất Người Thầy yêu quí. Sầu vì giấc mộng không thành. Hai linh hồn sầu não, thất vọng lê bước trong ánh mặt trời chiều.

Những giữa lúc buồn tủi, thất vọng ấy, Chúa Giêsu đã xuất hiện. Lập tức ánh sáng rực lên giữa màn đêm đen. Niềm vui rộn rã xoá tan u sầu. Ngọn lửa bừng lên sưởi ấm những trái tim lạnh giá. Vì Chúa Giêsu đã đem đến cả một trời hy vọng.

Đọc trong bài Tin Mừng, ta thấy Chúa Giêsu đã nhen nhúm niềm hy vọng trong tâm hồn các môn đệ Emmau bằng ba loại ánh sáng.

1. Ánh sáng đức tin thắp lên niềm hy vọng.

Hai môn đệ đã chứng kiến cuộc sống và cái chết của Chúa Giêsu từ đầu cho đến cuối. Các ông đã thấy biết bao nhiêu phép lạ Người làm. Các ông đã nghe biết bao lời hay ý đẹp từ miệng Người phán ra. Các ông đã công nhận Người là một "Ngôn sứ đầy uy thế xét về việc làm cũng như lời nói". Các ông đã hy vọng Người là Đấng giải thoát Israel. Nhưng cuộc thương khó và cái chết của Đức giêsu khiến các ông chán nản và thất vọng. Đến nỗi khi các phụ nữ ra mộ, gặp Thiên Thần báo tin Chúa đã phục sinh, về kể lại cho các ông vẫn không tin.

Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông "Lòng trí các anh sao mà chậm tin lời các ngôn sứ vậy". Chúa Giêsu kêu gọi đức tin trở về. Chúa Giêsu khơi dậy đức tin đã lụi tàn bằng cặp mắt phàm trần và các ông không hiểu gì. Khi có đức tin, các ông sẽ hiểu tất cả. Đức tin là nguồn ánh sáng giúp ta nhìn ra ý nghĩa của các biến cố trong cuộc đời. Đức tin là đốm lửa thắp lên niềm hy vọng giữa đêm đen tuyệt vọng.

2. Ánh sáng lời Chúa gieo mầm hy vọng.

Hai môn đệ đã đọc Kinh Thánh. Các ông thuộc vanh vách sách Lề Luật Môsê, các Ngôn sứ và Thánh vịnh. Thế nhưng các ông vẫn thất vọng. Vì các ông đọc Kinh Thánh mà không hiểu Kinh Thánh. Các ông học Kinh Thánh như học một bài thuộc lòng. Các ông đọc Kinh Thánh như đọc một bản văn cổ, chỉ có những con chữ vô hồn.

Chúa Giêsu phải giải thích Kinh Thánh cho các ông. Bắt đầu từ sách Lề Luật, rồi lời các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh. Khi nghe Chúa nói, tim các ông rộn ràng niềm vui, trí các ông bừng sáng như thể một ngọn lửa nhen nhúm trong lòng. Chúa Giêsu đã dạy các ông một cách đọc Kinh Thánh mới mẻ. Phải đọc giữa những hàng chữ để thấy rõ những ý nghĩa nhiệm mầu. Phải tìm sau những hàng chữ để thấy được ý định kỳ diệu của Thiên Chúa. Phải đọc Kinh Thánh dưới sự hiện diện của Thiên Chúa. Phải thấy bóng dáng Thiên Chúa thấp thoáng suốt những trang sách. Và phải đọc Kinh Thánh với một trái tim yêu mến tha thiết.

Khi trái tim mở rộng đón nhận, lời Chúa sẽ gieo vào hồn ta những mầm mống hy vọng. Và cuộc đời sẽ thấy lại ý nghĩa, tìm được niềm vui.

3. Ánh sáng Thánh Thể nuôi dưỡng niềm hy vọng.

Niềm hy vọng trở thành hiện thực khi Chúa Giêsu bẻ bánh. Chính qua cử chỉ bẻ bánh mà các môn đệ nhận ra ChúaGiêsu Phục Sinh. Niềm hy vọng không còn là hy vọng nữa, nhưng đã trở thành hiện thực. Hết còn những bàn tin bán nghi. Hết còn những hoang lo lắng. Hết còn những thấp thỏm lo âu. Vì các ông đã gặp được chính niềm hy vọng.

Cuộc gặp gỡ chỉ thoáng qua, nhưng các ông đã mãn nguyện. Chúa Giêsu bẻ bánh là nhắc lại cử chỉ khi lập phép Thánh Thể. Nhờ phép Thánh Thể toàn bộ con người các ông đổi mới. Dường như một linh hồn mới vừa nhập vào những xác thân mệt mỏi rã rời. Dường như dòng máu đã trở nên đỏ thắm. Dường như những tế bào đã trở nên tươi trẻ. Dường như trái tim đã trở nên rộn rã nhịp yêu đời. Lập tức các ông trở lại Giêrusalem. Đường đi khi trời còn sáng mà thấy xa xôi ngại ngùng. Đường đi về lúc trời đã tối đen mà sao thấy tươi vui gần gũi. Lúc đi có Chúa ở bên mà vì con mắt đức tin mù tối nên vẫn thấy buồn sầu. Lúc về tuy vắng bóng Chúa vẫn an tâm vì con mắt đức tin đã mở ra, vì vẫn biết có Chúa ở bên. Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng.

Nhờ có Thánh Thể, đường xa trở nên gần. Nhờ có Thánh Thể, đường buồn trở nên vui. Vì nhờ có Thánh Thể, ta luôn được ở bên Chúa.

Đời sống ta không thiếu những giờ phút khó khăn. Cuộc đời đầy thử thách nhiều lúc đẩy ta vào hố thẳm tuyệt vọng. Ta hãy học bài học Chúa dạy các môn đệ trên đường Emmau: Hãy biết nhìn các biến cố trong cuộc đời bằng con mắt đức tin. Dưới ánh sáng đức tin, mị đau khổ sẽ xuất hiện với một ý nghĩa tốt đẹp cho cuộc đời. Ánh sáng đức tin sẽ thắp sáng niềm hy vọng. Hãy biết nghe, đọc và suy gẫm Lời Chúa. Đừng đọc Kinh Thánh như đọc tiểu thuyết. Đừng học hỏi Kinh Thánh như học một lý thuyết. Hãy đọc với tình yêu. Hãy tìm bóng dáng Chúa xuyên qua các hàng chữ. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Chúa. Lời Chúa sẽ như một hạt giống gieo vào lòng ta mầm hy vọng xanh tươi. Và sau cùng hãy đến với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể.

Hãy kết hiệp với Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Thánh Thể sẽ là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng của ta.

Đường đời chúng ta cũng như quãng đường từ Giêrusalem đi Emmau. Khi ta không có niềm hy vọng thì con đường ta đi thật dài, thật xa, thật buồn, thật tối dù ta đi giữa ban ngày. Nhưng khi ta có niềm hy vọng, con đường sẽ trở nên gần gũi, vui tươi, và sáng sủa dù ta đi trong bóng đêm.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh là niềm hy vọng của con. Xin cho đường con đi trở thành đường hy vọng vì luôn có Chúa ở bên con.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Chúa Giêsu đã chiếu soi các môn đệ Emmaus bằng những ánh sáng nào?
  2. Có khi nào đang buồn, bạn cảm nhận được niềm vui vì gặp Chúa không?
  3. Bạn đọc Kinh Thánh thế nào? Tìm kiến thức hay tìm Chúa?
  4. Khi tham dự Thánh Lễ, bạn có cảm nhận mãnh liệt sự hiện diện của Chúa trong phép Mình Thánh không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Hà Nội


Một Thiên Chúa Đồng Hành Với Con Người

Trong hành trình cuộc sống, nhiều khi chúng ta tự hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Người tín hữu đôi khi cũng bị người khác hỏi: Thiên Chúa bạn ở đâu? Bài Tin Mừng về Chúa Giêsu phục sinh đồng hành với 2 môn đệ đi Emmau giúp chúng ta trả lời được những thắc mắc như vậy.

Hai môn đệ ở trong hoàn cảnh "mộng vàng tan mây, nhọc nhằn lê gót chân buồn đường dài" như cha Thành Tâm diễn tả. Lúc ấy hẳn là họ nghĩ Thiên Chúa ở nơi đâu hết sức cao xa. Nhưng thật ra Chúa Giêsu phục sinh đang đồng hành với họ mà họ chưa nhận ra ngay. Trên đường, Chúa cắt nghĩa Kinh Thánh cho họ, khiến lòng họ nóng lên. Lúc đồng bàn, Chúa bẻ bánh trao cho họ, khiến họ nhận ra Chúa. Từ chỗ hoang mang bỏ Giêrusalem ra đi, họ vui mừng quay trở lại Giêrusalem với anh em. Hôm nay Chúa Giêsu phục sinh vẫn đồng hành với chúng ta như vậy.

Và Chúa cũng muốn đồng hành với con người thời nay như vậy. Có người không biết tại sao mình có mặt trên đời để. Có người đau khổ vì bệnh tật hay vì ác tâm của người đời. Có người buồn sầu vì những mất mát... Chúa muốn đồng hành với họ, soi sáng họ, dẫn đưa họ vào con đường Chúa đã đi để đến nơi Chúa đã đến. Chúa thực hiện điều ấy qua các môn đệ của Chúa. Tôi phải đóng vai của Chúa Giêsu phục sinh đối với người này, bạn phải đóng vai Chúa Giêsu phục snh đối với người kia. Chúng ta trở thành Chúa Giêsu phục sinh cho nhau.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin Chúa ở lại với chúng con, để chúng con vượt qua những hoang mang trong cuộc sống, đạt gới niềm vui, nhờ đó chúng con cũng có thể giúp anh em như vậy trong cuộc sống của họ.

ĐGM. Cosma Hoàng Văn Đạt
Trích từ nguồn: Giáo Phận Thái Bình


Chúa Hiện Ra Với Hai Môn Đệ Trên Đường Emmau

Hôm nay chúng ta sẽ suy niệm về một lời cầu khẩn của hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem về Emmau: "Xin Thầy ở lại với chúng con vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn". Đó là một thực tế về mặt thời gian, bởi vì lúc đó gần tối rồi. Đồng thời câu nói đó có lẽ nó cũng diễn tả một thái độ tâm hồn.

Trời đã về chiều, ngày sắp tàn, đêm tối sắp đến. Tâm hồn của hai ông bị chìm trong đêm tối, cái đêm tối của nghi ngờ, đêm tối của thất vọng. Bởi vì các ông đặt tất cả niềm tin vào Thầy Giêsu mà cuối cùng Thầy Giêsu bị bắt đánh đập, đóng đinh, giết chết trên Thập Giá. Tất cả niềm tin và hy vọng tan biến, chỉ còn lại nghi ngờ và tuyệt vọng. Đêm tối ấy đáng sợ hơn là đêm tôi về mặt không gian và thời gian tự nhiên.

Chính trong tâm trạng ấy các ông thưa với Chúa Giêsu: "Xin Thầy ở lại với chúng con vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn". Lời cầu khẩn ấy không phải là lời cầu khẩn của chính chúng ta hay sao? Những lúc cuộc đời của chúng ta có những thất bại, có những cay đắng, chán nản đến độ chúng ta đâm ra nghi ngờ Thiên Chúa, chúng ta cần bắt chước hai môn đệ thốt lên lời nguyện xin: "Lạy Chúa hãy ở lại với con".

Hôm nay thánh Luca muốn nói với chúng ta: Ta không thấy Chúa Kitô về mặt thể lý tự nhiên, nhưng ta có thể gặp Chúa Kitô Phục Sinh trong Bí Tích Thánh Thể. Thánh Luca tường thuật lại suốt trên con đường đi về Emmau có một người khách bộ hành đi cùng. Hai môn đệ không thể nhận ra Thầy yêu thương của mình. Mãi đến lúc ngồi vào bàn Chúa Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra trao cho thì hai ông mới nhận ra. Và khi nhận ra thì Chúa lại biến mất.

Về mặt tín lý chi tiết này rất hay, rất quan trọng để cho ta hiểu rõ về Bí Tích Thánh Thể. Khi ta cử hành Bí Tích Thánh Thể nghĩa là ta cùng với Hội Thánh cầm lấy tấm bánh bẻ ra và trao cho nhau. Lúc ấy anh chị em có thấy Chúa không? Thưa không. Trước mặt chúng ta hoàn toàn là một khoảng không. Ngày xưa hai môn đệ đi bên cạnh Chúa, suốt quãng đường dài mà họ không nhận ra Chúa, khi biết được Chúa biến mất trước mặt họ cũng là một khoảng không. Chúa Giêsu không hiện diện một cách gọi là thể lý theo nghĩa chúng ta thấy Ngài như chúng ta nhìn thấy nhau.

Thực sự, sự hiện diện của Ngài là một hiện diện bao trùm cuộc sống của chúng ta. Ta đón nhận sự hiện diện đó bằng lòng tin của chúng ta. Cho nên ta vẫn có thể gặp được Chúa Phục Sinh khi ta cử hành Bí Tích Thánh Thể: Cầm bánh, tạ ơn Chúa. bẻ ra và trao cho nhau. Điều quan trọng là chúng ta có cử hành Bí Tích Thánh Thể như một cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu không hay chỉ còn là một nghi thức?

Vì vậy câu chuyện Tin Mừng hôm nay nhắc cho chúng ta. Chúng ta vẫn gặp được Chúa Giêsu mỗi lần chúng ta cử hành Bí Tích Thánh Thể. Ước gì chúng ta có đủ lòng tin và có một cảm thức nhạy bén trước màu nhiệm của Thiên Chúa để chúng ta có thể đón nhận sự hiện diện sống động của Ngài và đi vào cuộc gặp gỡ thực sự với Ngài.

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Hà Nội


Có Chúa Trong Đời

Trên con đường dương thế, chúng ta phải đối diện với biết bao khó khăn thử thách. Không ít lần, chúng ta đã ngã gục trước những thử thách cam go ấy. Xung quanh chúng ta cũng có những người mang trên vai gánh nặng cuộc đời quá nghiệt ngã, tưởng chừng như không thể vượt qua. Tuy vậy, người tin vào Chúa xác tín rằng, họ không bước đi một mình trong hành trình dương thế, nhưng có Chúa đồng hành để đỡ nâng phù giúp.

Chúng ta vừa long trong cử hành lễ Phục Sinh. Những ồn ào náo nhiệt của ngày lễ đang dần lắng xuống. Nhiều người không cùng niềm tin với chúng ta có thể đặt ra câu hỏi: điều còn lại sau những ngày lễ là gì? Mỗi người tín hữu được mời gọi trả lời qua đời sống của mình: "Điều còn lưu lại nơi chúng ta, đó là niềm xác tín có Chúa trong đời".

Con đường về Emmau của hai môn đệ xa thăm thẳm và dài đằng đẵng. Con đường ấy dài không phải vì khoảng cách không gian, mà là do tâm trạng của các ông. Hai ông đang chán chường, vì lý tưởng và hy vọng của mình bấy lâu nay bỗng chốc tan thành mây khói. Những tâm sự mà các ông thổ lộ với "vị khách đồng hành" đã cho thấy điều ấy: "Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en". Khi nói "trước đây vẫn hy vọng", các ông lộ rõ sự chán nản đang làm các ông mất định hướng cho đời mình.

Vào lúc các ông không ngờ, Chúa Giêsu đến gặp gỡ các ông trên con đường xa thẳm ấy. Người đến đúng lúc các ông đang buồn chán và đang cần sự nâng đỡ. Với dáng vẻ của một lữ khách, Người đàm đạo với các ông để chứng minh sứ mạng Thiên Sai của Người. Người nâng đỡ sự yếu hèn của các ông và đem lại cho các ông niềm lạc quan và nghị lực. Tâm trạng chán nản nơi các ông quá nặng nề đến mức không nhận ra Thày mình. Chỉ vào lúc Chúa bẻ bánh, mắt hai ông mới mở ra và nhận ra Chúa.

Hành trình Emmau cũng là hành trình cuộc đời của mỗi chúng ta. Trên con đường dương thế, chúng ta phải đối diện với biết bao khó khăn thử thách. Không ít lần, chúng ta đã ngã gục trước những thử thách cam go ấy. Xung quanh chúng ta cũng có những người mang trên vai gánh nặng cuộc đời quá nghiệt ngã, tưởng chừng như không thể vượt qua. Tuy vậy, người tin vào Chúa xác tín rằng, họ không bước đi một mình trong hành trình dương thế, nhưng có Chúa đồng hành để đỡ nâng phù giúp. Chính vì thế, những ai tin Chúa luôn cầu nguyện phó thác nơi Ngài. Niềm cậy trông của chúng ta sẽ không uổng phí, vì Chúa là Cha nhân hậu, luôn lắng nghe và thấu hiểu những nguyện vọng của con người. Lịch sử cứu độ và cuộc sống cá nhân mỗi người đã chứng minh điều ấy.

Giữa những lo toan bận rộn bủa vây tư bề, có những lúc chúng ta quên sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa. Câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau hôm nay, nhắc nhở chúng ta, dù trong hoàn cảnh nào, Chúa vẫn không bỏ rơi chúng ta. Như người cha người mẹ thương yêu vỗ về con cái, và luôn ở gần đặc biệt trong những giờ phút thử thách gian nan, Chúa cũng luôn ở gần chúng ta để che chở giữ gìn trước những nghịch cảnh của cuộc đời.

Cử hành lễ Phục Sinh không chỉ để tưởng niệm một người đã chết, nhưng điều quan trọng hơn là tôn vinh quyền năng của Đấng đang sống và hiện diện giữa chúng ta. Thánh Phêrô đã khuyên các tín hữu hãy xác tín vào Đấng Phục Sinh và sống sao cho đẹp lòng Người. Bởi lẽ, một khi tin vào Đức Kitô sống lại, đời sống của người tín hữu phải phù hợp với niềm tin đó. Mỗi cộng đoàn Kitô hữu đều có Chúa phục sinh hiện diện. Sự hiện diện của Người được thể hiện qua đời sống yêu thương và hiệp nhất (Bài đọc II).

Nhờ gặp gỡ Đấng Phục sinh, hai môn đệ Emmau được hiểu nội dung Kinh Thánh và Sứ điệp của Tin Mừng. Hai ông đã theo Chúa Giêsu, đã được thụ giáo với Người trong suốt thời gian dài. Tuy vậy, lòng trí của các ông còn bị che phủ bởi những quan niệm trần thế về Đấng Thiên sai. "Người khách lạ" trên đường Emmau đã trách hai ông: "Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!". Chính Chúa Phục sinh mở lòng mở trí cho các ông để các ông nhận ra những gì các ngôn sứ của Cựu Ước đã được thực hiện. Nhờ Đấng Phục sinh, chúng ta có một nhãn quan mới để đọc và hiểu Kinh Thánh, vì tất cả Cựu Ước đều quy về một trung tâm điểm là Chúa Giêsu Kitô, như Thánh Giêrônimô đã nói: "Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô". Cũng nhờ được gặp gỡ với Đấng Phục Sinh mà thánh Phêrô đã giảng hùng hồn trong ngày lễ Ngũ Tuần, đã làm cho ba ngàn người trở lại. Trong bài giảng này, ông đã biết lồng ghép Cựu Ước với biến cố Đức Giêsu chịu khổ nạn và phục sinh. Thánh Phêrô đã trích dẫn lời Tổ phụ Đavít và chứng minh rằng điều Tổ phụ đã thấy trong quá khứ chính là lời tiên báo về Chúa Giêsu. Người là Đấng các ngôn sứ loan báo và muôn dân mong đợi. Ơn cứu độ trần gian đến từ cuộc khổ nạn và phục sinh của Người (Bài đọc I).

Một khi xác tín có Chúa trong đời, chúng ta sẽ yêu mến cuộc đời này hơn và sẽ cố gắng để sống tốt hơn trong cuộc sống hiện tại. Niềm tin vào sự hiện diện của Chúa Phục sinh đã làm nên sức sống kỳ diệu của Giáo Hội suốt bề dày lịch sử. Niềm tin ấy cũng làm cho mỗi người tín hữu chúng ta trở thành nhân chứng của Đấng Phục sinh trong cuộc sống hôm nay.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật II Phục Sinh – Năm A
Posted by: LongHai - 04-21-2017, 01:51 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Gặp Gỡ Đức Kitô Phục Sinh

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục sinh tới hôm nay, Chúa nhật 2 Phục sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô phục sinh hiện ra. Từ những lần thấy Đức Kitô phục sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

1. Cảm nghiệm đầu tiên là, Đức Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn trong không gian. Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Người xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người. Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới. Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài. Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp. Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo. Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài. Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài. Đức Kitô phục sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Đức Kitô phục sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian. Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya. Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng. Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày. Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối. Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt. Không có thời gian nào Người không ở bên ta.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định. Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn.. Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá. Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa. Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi. Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

2. Cảm nghiệm thứ hai là, Đức Kitô phục sinh khơi dây niềm bình an, tin tưởng.

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô phục sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: "Bình an cho các con". Người còn thổi hơi vào các ông và nói: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần".

Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo. Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình. Rồi Thần LinhChúa bay là là trên mặt nước. Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình. Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần. Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến. Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông.

3. Cảm nghiệm thứ ba, cũng là cảm nghiệm quan trọng nhất, Đức Giêsu phục sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa.

Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ. Các môn đệ tuyệt vọng. Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường. Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì. Họ như đã chết với Thầy. Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi. Đức Kitô là linh hồn của họ. Linh hồn đã ra đi. Xác sống sao được.

Khi Đức Kitô phục sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

4. Cảm nghiệm cuối cùng là, Đức Kitô phục sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục sinh.

Đức Giêsu Phục sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ. Đức Kitô phục sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó. Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bât chấp trời đã tối đen. Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh. Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con".

Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng. Vì Đức Kitô phục sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ. Vì lệnh sai đi của Đức Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng. Như Thánh Phaolô sau này đã nói: "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng".

Hôm nay Đức Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta. Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến lúc mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên. Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta.

Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm.

Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời. Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú me. Người ở bên em học sinh đang miệt mài đèn sách. Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ. Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường. Người ở bên ngững cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người. Hãy khao khát đón chờ Người. Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người. Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào. Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người.

Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn. Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Hà Nội


Nỗi Oan Tôma

Đối với phần đông tín hữu Việt Nam, danh xưng Tôma khơi gợi về một thái độ, rất riêng tư nhưng cũng rất điển hình, chẳng những không tích cực mà xem ra còn để lại nhiều tai tiếng. Gặp một tâm hồn cứng cỏi trước những biểu cảm của niềm tin, người ta đã khéo ví von "cứng lòng như Tôma"; thấy ai biểu lộ do dự hoặc nghi ngờ trước những sự kiện tôn giáo, người ta đã vội đưa vào gia phả "con cháu thánh Tôma". Kể cũng oan.

Thật ra, đi liền với danh xưng Tôma lại là một bài học dẫn đến niềm tin, và cũng còn đó lời gọi sống sao cho mối phúc thứ chín, như người ta gọi về lời Chúa Giêsu kết thúc trang Tin Mừng hôm nay "Phúc cho kẻ không thấy mà tin", được trở thành hiện thực trong đời mỗi Kitô hữu.

1. LẠY CHÚA TÔI, LẠY THIÊN CHÚA CỦA TÔI

Niềm tin của Tôma vào Đấng Phục Sinh là cả một chặng đường trong đó yếu tố trước hết chính là cộng đoàn: "Chúng tôi đã được thấy Chúa". Chính vì chứng từ của cộng đoàn này mà Tôma đã tự vấn để rồi sau đó mới đi tới đức tin. Ngay việc các môn đồ hội họp vào ngày thứ nhất trong tuần cùng với lời chúc bình an của Đấng Phục Sinh, làm bối cảnh hình thành truyện Tôma, cũng cho thấy vai trò của cộng đoàn trong việc khai sinh đức tin nơi một người.

Nhưng yếu tố chủ động hơn phải được tìm thấy trong phản tỉnh của cá nhân ông. "Nếu tôi không thấy... tôi không tin". Câu nói tự phát ấy đã trở thành tai tiếng khiến nhiều người nghĩ rằng Tôma là một kẻ cứng đầu cứng cổ, đòi hỏi, nghi ngờ. Nhưng thực ra, ông là người thực tiễn. Chính nhờ ông lên tiếng mà ta mới thấy rõ hơn thế nào là trăn trở của đức tin thuở ban đầu và thế nào là nỗ lực cá nhân làm cho niềm tin có được bản sắc riêng không thể lẫn với người khác. Nếu hôm trước Tôma đòi thấy mới tin, thì tám ngày sau, qua tiếp xúc cá nhân với Đấng Phục Sinh, ông đã tuyên xưng không phải bằng công thức chung nữa, mà bằng một cách rất riêng làm thành đỉnh cao tuyên tín Phục Sinh: "Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi".

Và niềm tin chỉ có thể đạt được kết quả khi có yếu tố quyết định chính là hồng ân Thiên Chúa, như một bao trùm từ khởi sự cho đến hoàn thành. Nguyện vọng của Tôma xem ra ngược ngạo, nhưng đã được Đức Giêsu thanh luyện, để cuối cùng khi dâng lời tuyên tín, cũng là lúc ông được dẫn vào một nhận thức mới mẻ hoàn toàn. Thay vì phải thấy mới tin, ông nhận ra rằng phải tin mới thấy trọn vẹn: thấy Đấng Phục sinh và con người Giêsu cũng là một, thấy Đấng Phục sinh rốt cuộc là Chúa và là Thiên Chúa của mình, và thấy niềm tin vượt lên tất cả sẽ trở thành hạnh phúc.

2. ĐỪNG CỨNG LÒNG, NHƯNG HÃY TIN

Chuyện lòng riêng của Tôma cũng là chuyện lòng chung của muôn lòng tín hữu. Từ nỗi oan Tôma, ngày nay người ta hiểu hơn rằng niềm tin không phải là một yếu tố đơn thuần, mà là một tổng hợp giữa ơn thánh và nghị lực con người, trong đó có cộng đoàn và mỗi cá nhân.

Chỉ dựa vào ơn thánh, người ta có nguy cơ rơi vào thái độ coi mọi sự là bởi Chúa nên không cần phải đào sâu tìm hiểu nữa. Có biết đâu tin như thế là không còn tin nữa, mà một cách nào đó đã là cả tin. Vì tin tất cả nên cả tin, hay vì cả tin nên tin tất cả? Chỉ dựa vào lý trí, người ta lại có nguy cơ khác là thái độ muốn giới hạn tri thức về thực tại và tiêu chuẩn của kinh nghiệm khả giác hoặc khả năng suy luận: những gì không hiểu, không đo lường sờ chạm, đều bị chối từ. Có biết đâu tin như thế cũng không còn là tin nữa, mà xem ra lại gần với sự bất tín! Nếu chỉ dựa vào cộng đoàn thôi, người ta còn có thêm một nguy cơ nữa là thái độ tiêu cực. Bên ngoài có vẻ ngoan ngùy, nhưng thực chất là dấu hiệu của một niềm tin hời hợt. Lúc đạo giáo hưng thịnh xem ra không có vấn đề, nhưng khi sự đạo phải bước vào thầm lặng thì biết đâu bởi vì dễ tin nên cũng dễ bỏ niềm tin trước bất cứ ai?

Thành ra, phải xem trường hợp Tôma như một kinh nghiệm, và cần xem chặng đường niềm tin của ông như một kinh điển cho niềm tin đang dấn bước đi trong cuộc sống. Đừng cứng lòng! Phải chăng là lời gọi hãy xa đi những thái độ không phù hợp, để chẳng những tránh được khủng hoảng, mà dường như còn nghe lại từng ngày lời ân cần đã một lần ngỏ với Tôma ở cuối chặng đường gặp gỡ: "Nhưng hãy tin!"

3. PHÚC CHO KẺ KHÔNG THẤY MÀ TIN

Cũng từ nỗi oan Tôma, tín hữu hôm nay cảm nhận hơn niềm vui trong đức tin của mình. Niềm vui của Tôma là được thấy Chúa nên tin, còn niềm vui của đời tín hữu lại là tin để được thấy Chúa. Tin như thế là một hạnh phúc.

Trong hạnh phúc ấy, sau này các tông đồ đã qui tụ cho Chúa những kẻ tin, và những kẻ tin sơ khai đã vui mừng cử hành niềm tin của mình một cách sống động, không những qua nghi thức phụng vụ, mà còn qua cách sống cộng đoàn biết chia sẻ và phục vụ lẫn nhau, và niềm hạnh phúc, cuối cùng, sẽ là sức mạnh chiến thắng.

Nhưng với kẻ tin hôm nay, tất cả vẫn còn ở phía trước. Bổn phận của ta là phải khổ công vun đắp niềm tin của mình sao cho thắm đượm hồng ân Thiên Chúa mà vẫn không quên nỗ lực đóng góp của con người, sao cho chan hòa với nhịp sống cộng đoàn mà vẫn không triệt tiêu bản sắc cá nhân. Và một khi niềm tin muốn khơi dậy niềm tin, thì cái bổn phận kia đã trở thành trách nhiệm loan báo hạnh phúc cho những người đồng thời.

Tuy nhiên, phải thú nhận rằng niềm tin hạnh phúc ấy còn lắm nhạt nhòa. Đó đây trong nhịp sống chung Giáo Hội cũng như trong nếp sống riêng mỗi tín hữu, vẫn có thể có những lúc ngại tin hoặc chậm tin vào điều mình không thấy. Nhất là phải hy sinh những hạnh phúc chính đáng thấy được để vươn đến một thứ hạnh phúc ở ngoài tầm nhìn khả giác. Quả là vất vả. Nhưng chính lúc ấy, Tôma xuất hiện như một người bạn tri âm, như một người thầy đã từng trải nghiệm. Và lời Đức Giêsu nói với ông lại trở thành lời vỗ về đem lại sức mạnh. Nghe trong mối phúc thứ chín có lời dặn dò: muốn thấy điều mình tin, hãy bắt đầu bằng cách tin điều mình không thấy; và chừng như cũng có lời ước hẹn:tin điều mình không thấy sẽ được thấy điều mình tin.

Ngày nay nỗi oan Tôma vẫn còn đó. Một mình ông chịu tai tiếng để sau này người ta biết đường mà tránh. Một mình ông chịu quở là cứng lòng tin để tín hữu hiểu rằng phải vượt trên những điều nhìn thấy mới gặp được lối đi hạnh phúc của niềm tin. Và như thế, liệu ta có thể bảo rằng nỗi oan Tôma là một nỗi oan hạnh phúc? Cùng với mầu nhiệm đức tin khi bánh rượu được truyền phép hôm nay, ta sẽ lặp lại lời tuyên xưng của Tôma. Để xin thêm đức tin cho những tấm lòng còn nghi ngại, củng cố đức tin cho những người đang yếu đuối, và xin được hạnh phúc cho mọi kẻ tin.

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Hà Nội


Phúc Cho Ai Không Thấy Mà Tin

Chúa nhật tuần trước tôi nói về thứ ngôn ngữ biểu tượng Hội Thánh vận dụng trong đêm Phục Sinh. Đó là ngôn ngữ của lửa, ngôn ngữ của nước để diễn tả cuộc Phục Sinh của Chúa Kitô chính là một công trình tạo dựng mới.

Hôm nay. Trong mối liên kết tôi xin gợi lên một khía cạnh khi Chúa Giêsu Phục Sinh hiện đến với các môn đệ Ngài thổi hơi trên các ông và nói : "Hãy nhận lấy thánh Thần"

Anh chị em hãy để ý đến từ "thổi hơi". Hãy nhớ lại khi Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, tạo dựng con người bằng cách nào?

Kinh Thánh kể: Chúa lấy đất nặn thành hình người. Thổi hơi vào, thế là đất trở thành một con người sống động và mang lấy sự sống của con người theo hình ảnh của Thiên Chúa. Rất tiếc sau đó con người đã nhân danh tự do của mình để khước từ mối hiệp thông với Thiên Chúa. Rồi từ đó gây ra bao nhiêu đổ vỡ trong quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa anh em, quan hệ con người và thiên nhiên vạn vật gây nên Đại Hồng Thủy.

Chúng ta nhớ đến chuyện Thiên Chúa tạo dựng con người trong Kinh Thánh như vậy thì sẽ thấy rõ ý nghĩa Đấng Phục Sinh thổi hơi trên các môn đệ và nói: "Hãy nhận lấy Thánh Thần". Hành động này thể hiện ý Chúa Kitô Phục Sinh tạo dựng con người mới bằng hơi thở của Ngài, hơi thở của Ngài ở đây là Thánh Thần, nghĩa là tinh thần của Ngài. Cái tinh thần mà Ngài ấp ủ trong cuộc đời trần thế cho đến khi chết và cho đến khi sống lại.

Cái tinh thần ấy Ngài thổi hơi cho các môn đệ và thổi hơi trên tất cả những ai tin vào Ngài để tất cả những con người ấy mang tâm tư, tình cảm, ước muốn hy vọng, chọn lựa, ứng xử y như Chúa Giêsu vậy.

Trên một tư tưởng như vậy trong bối cảnh Á Châu ngày hôm nay nó nói lên được cái gì? Tôi có dịp đọc tài liệu về phần nhận định về Á Châu tôi thấy có một vài nhận xét chúng ta nên quan tâm. Các Ngài nhận xét Á Châu là một vùng đất nghèo. Mặc dù cũng có một vài nước gọi là hóa rồng như Nhật Bản, nhưng nhìn chung thì Á Châu vẫn là vùng đất nghèo. Ngay trong các nước phát triển sự cách biệt giữa giàu và nghèo rất lớn và càng sâu hơn. Nhìn Việt Nam chúng ta thì thấy rõ người thì tung tiền hoang phí, người lại kiếm không ra. Một hố sâu ngăn cách rất lớn.

Cùng với tình trạng nghèo khổ đó thì tôi thấy các nghị phụ nhận định rằng Á Châu là vùng đất có truyền thống Tôn Giáo văn hóa lâu đời và sâu sắc. Thế nhưng trong xu hướng Tây phương hóa ngày hôm nay cái ảnh hưởng của văn hóa Tây phương tràn vào bằng con đường du lịch, bằng con đường truyền thống xã hội. Nó đã khiến cho nhiều gía trị văn hóa và tôn giáo ở Á Châu bị đảo lộn.

Anh chị em cứ nhìn vào một vài nước trong khu vực Á Châu. Thái Lan chẳng hạn, dấu ấn của Phật Giáo rất lớn. Nhưng du lịch làm cho giá trị tôn giáo ở Thái Lan bị đảo lộn. Không phải là những giá trị đảo lộn một cách trừu tượng mà nó ảnh hưởng đến quan hệ sống. Tình trạng ly dị ở Á Châu càng lúc càng gia tăng. Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái cũng bị đe dọa. Mối quan hệ giữa người trong cuộc sống đời thường bị đe dọa.

Thêm vào đó tình trạng bất công và kỳ thị trong xử thế. Rất nhiều quốc gia ở Á Châu có nơi dựa vào lý do Tôn Giáo, có nơi dựa vào lý do sắc tộc, có nơi dựa vào lý do ý thức hệ để phân biệt đối xử với nhau. Như vậy khuôn mặt của Á Châu ngày hôm nay cần đổi mới để trở thành một vùng đất có công bằng hơn, có tự do hơn, có tình liên đới hơn, có tình huynh đệ hơn. Thế thì Tin Mừng của Chúa Kitô Phục Sinh có thể đem đến cái gì mới cho vùng đất Á Châu này không?

Đấy là vấn đề mà người Kitô hữu đích thực phải quan tâm. Để trả lời cho câu hỏi đó tôi nghĩ rằng Tin Mừng Chúa Kitô có thể đóng góp rất nhiều. Chúa Kitô Phục Sinh có thể kiến tạo một khuôn mặt mới cho Á Châu. Bằng chứng cụ thể cho chúng ta thấy Ganđi một người An Độ, mặc dù ông không theo đạo công giáo nhưng rõ ràng ông rất trân trọng Chúa Giêsu, đặc biệt là 8 mối phúc thật Chúa Giêsu công bố. Nhiều người nhận định rằng : Cái lý thuyết bất bạo động của Chúa Giêsu.

Một khuôn mặt khác mới đây là Mẹ Têrêsa Calcutta. Một nữ tu cả thế giới ngưỡng mộ quí yêu. Như chứng tỏ rằng Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô có thể tác động trên vùng đất Á Châu này, trong đó có đất nước Việt Nam ta. Với một điều kiện chúng ta phải cộng tác, phải trở thành con người mới, nghĩa là phải đón nhận hơi thở Phục Sinh thổi vào linh hồn mình, thổi vào trong cuộc đời mình.

Hình ảnh hơi thở gợi cho tôi suy nghĩ:

Suy nghĩ thứ 1 về đời sống cầu nguyện. Anh chị em có thể hỏi tại sao tôi lại liên tưởng đến cầu nguyện? Lý do thế này chúng ta không thể sống nếu không có hơi thở. Từng giây phút chúng ta cần phải thở. Cần có những giây phút hít thở thật sâu thì não bộ mới có đủ dưỡng khí làm việc, cơ thể mới khỏe mạnh. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Từng giây từng phút chúng ta sống trong Chúa. Thánh Phaolô nói: "Phải sống và chuyển động trong Chúa. Những giây phút hít thở thật sâu thần khí của Thiên Chúa đó là những giây phút cầu nguyện."

Khi cầu nguyện là tôi đã tạm ngưng mọi công việc, ngồi đấy, tập trung tư tưởng hít thở thần khí của Thiên Chúa, hít thở ý nghĩ của Thiên Chúa, tâm tư tình cảm của Thiên Chúa, để tôi không còn nghĩ theo kiểu thế gian, hành động theo kiểu thế gian, mà phải sống và hành động theo ý Chúa. Chúng ta cần phải có những giây phút hít thở thật sâu trong cầu nguyện để có thể sống được đời Kitô hữu thật sự.

Gợi ý thứ 2 đối với tôi hình ảnh của hơi thở đó là lời mời gọi bỏ mình. Tôi nói điều này là dựa vào một hình tượng của nhà thơ Targo, một nhà thơ lớn của Á Châu và của thế giới. Trong một bài thơ tác giả diễn tả cuộc đời tôi giống như một ống sáo. Thiên Chúa đặt môi vào ống sáo đó xướng lên một khúc nhạc du dương. Thực ra ống sáo chỉ là một khúc tre, nhưng mà khi người nhạc sĩ đặt môi vào thì khúc tre rất tầm thường ấy tấu lên một điệu nhạc tuyệt vời làm say đắm lòng người. Nhưng để khúc tre đó có thể tấu lên một khúc hát thì điều căn bản là khúc tre phải rỗng.

Tương tự như vậy, khi thần khí của Thiên Chúa, hơi thở của Thiên Chúa được thổi vào trong chúng ta thì trong lòng chúng ta phải rỗng. Về mặt thần học: Cái hình ảnh này nói với tôi rất sâu với cái gọi là Màu Nhiệm tự hủy nơi Chúa Kitô. Chúa Kitô là Thiên Chúa nhưng Ngài không đòi mình ngang hàng với Thiên Chúa mà trái lại Ngài hủy mình ra không, lãnh lấy thân phận tôi đòi, trở nên giống người phàm, vâng phục cho đến chết và chết trên Thập Giá Thiên Chúa hủy mình ra không như vậy cho nên Thiên Chúa trở nên tràn đầy ở nơi Ngài.

Chúng ta thì sao. Chúng ta chưa hủy mình ra không được vì cái tôi, cái ích kỷ của mình quá lớn cho nên tình thương của Thiên Chúa không cách nào để vào tâm hồn chúng ta được. Tâm trí chúng ta quá vẩn đục cho nên sự thanh khiết của Thiên Chúa không cách nào xâm nhập vào được.

Chúng ta phải chấp nhận bỏ mình, quên đi cái tôi ích kỷ nhỏ nhen của mình để thần khí của Thiên Chúa có thể đong đầy và tác động mạnh mẽ vào trong cuộc đời chúng ta. Có lẽ sẽ một số anh chị em cho là tôi nói những chuyện quá sâu sa, quá xa vời. Không phải thế đâu. Tôi nghĩ đây là một đòi hỏi. Dù là một Linh Mục, tu sĩ hay một giáo dân, sống trong bất cứ một hoàn cảnh nào, một nghề nghiệp nào thì đây là một thái độ căn bản.

Cầu nguyện và tự bỏ mình để thần khí Chúa có thể tác động nơi chúng ta. Biến mình thành con người mới ở Á Châu chỉ có 2 % là Kitô hữu. Nhưng chúng ta đừng quên rằng Chúa Giêsu đã từng nói: Chỉ cần một nhúm men thôi sẽ làm cho cả khối bột dậy lên.

Chỉ có 2% người Kitô hữu. Nhưng nếu họ là những Kitô hữu đích thực thì họ sẽ là một nhóm men cho cả Á Châu dậy lên một sự sống mới. Á Châu sẽ có một khuôn mặt mới.

Chuyện này nghĩ ra thì rất là lớn lao. nhưng chuyện ấy sẽ thành hiện thực nếu mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng đóng góp cộng tác thì sẽ tìm được Giáo Hội trên quê hương chúng ta cũng như trên đất nước Á Châu. Amen.

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Trích từ nguồn: Giáo Phận Bà Rịa


Đấng Phục Sinh Đang Ở Giữa Chúng Ta

Chúa Giêsu phục sinh hôm nay đang hiện diện cách huyền nhiệm nơi cuộc đời này. Sự hiện diện của Chúa có thể được chứng tỏ qua đời sống đạo đức yêu thương của các tín hữu.

Chúng ta đã long trọng mừng lễ Phục Sinh. Mọi ồn ào của những cuộc kiệu rước đã lắng xuống. Những bận rộn của Tuần Thánh cũng đã đi qua. Đối với nhiều người, Tuần Thánh và lễ Phục Sinh giống như những ngày lễ hội mỗi năm tổ chức một lần, lễ xong là hết. Điều còn lại có thể chỉ là những lời bình phẩm về cách tổ chức lễ năm nay có gì hơn hay kém năm ngoái. Để tránh lối suy nghĩ lệch lạc đó nơi các tín hữu, Phụng vụ hôm nay khẳng định với chúng ta rằng Chúa phục sinh đang hiện diện trong cộng đoàn các tín hữu. Người hiện diện như mối dây liên kết chúng ta nên một trong tình bác ái và sự chia sẻ nâng đỡ lẫn nhau. Hình ảnh cộng đoàn tiên khởi ở Giêrusalem là lời mời gọi chúng ta hãy noi gương mà sống xứng đáng với danh nghĩa những môn đệ Chúa Kitô (Bài đọc I). Nếu các tín hữu có thể coi mọi sự là của chung và chuyên cần tham dự bẻ bánh, siêng năng cầu nguyện và nhiệt thành thực thi bác ái là vì họ tin Chúa Giêsu phục sinh đang ở giữa họ và chứng kiến những điều tốt lành họ đang làm.

Tuy vậy, vấn đề người chết sống lại, xưa cũng như nay, được coi là một câu chuyện hoang đường, không thể chấp nhận. Ngay như các môn đệ là những người đã cùng sống với Chúa và đã được nghe Người tiên báo về sự phục sinh, mà các ông còn chưa dễ dàng tin vào sự kiện này. Thánh Máccô ghi lại sự nghi ngờ đến mức cứng lòng của các ông: khi bà Maria Mácđala kể với các ông là bà đã gặp Chúa phục sinh, các ông cũng không tin. Các ông cũng không tin khi hai môn đệ từ Emmau trở về quả quyết đã gặp Chúa (x. Mc 16, 9 – 13).

Lời Chúa hôm nay dẫn chứng một nhân vật cụ thể nữa, đó là Tôma. Ông không có mặt khi Chúa hiện ra với các môn đệ. Điều các bạn kể lại không thể thuyết phục ông chấp nhận một điều "ngược đời". Dấu đinh ở tay, vết thương ở cạnh sườn Chúa... là những điều ông đã chứng kiến như bằng cớ của việc Chúa Giêsu đã chết. Đối với ông, việc được xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn bị đâm thủng là bằng chúng xác thực về việc Chúa sống lại. Thực ra, Tôma không thách thức Chúa, ông chỉ cần bằng chứng thiết thực để ông tin.

Chúa Giêsu đã đáp trả những điều kiện Tôma đã đưa ra. Tám ngày sau, cũng vào ngày thứ nhất trong tuần, Chúa đã hiện đến với các ông với những thương tích trên thân thể Người. Nếu trước đây Tôma đã ra điều kiện để tin, thì nay Chúa mời ông thực hiện những điều ấy. Ông chẳng còn lòng dạ nào mà xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa. Đúng hơn, ông chẳng cần làm những điều đó, vì Chúa đang ở trước mặt ông bằng xương bằng thịt và đang nói với ông: "Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin". Qua lời nói với Tôma, Chúa Giêsu phục sinh muốn gửi đến cho chúng ta một thông điệp: "Phúc thay những người không thấy mà tin". Thông điệp ấy vẫn có giá trị đến ngày hôm nay. Là những tín hữu, chưa ai trong chúng ta được thấy Chúa trực tiếp. Chúng ta chỉ cảm nhận Chúa bằng Đức tin. Con tim và lý trí mách bảo chúng ta Chúa đang hiện diện và những ai tin vào Người thì sẽ không phải thất vọng. "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!". Đó là lời tuyên xưng Đức tin của một người đã hoàn toàn bị chinh phục. Đó cũng là tâm tình sám hối của một người đã chậm tin những chứng từ của anh em mình.

Trong trình thuật của mình, thánh sử Gioan hai lần nói đến chi tiết "các cửa đều đóng kín", để diễn tả Đức Giêsu phục sinh không còn bị giới hạn bởi không gian, nghĩa là Người trở nên thiêng liêng giữa thế giới của chúng ta. Cũng như Người có thể vào trong phòng khi các cửa đều đóng kín, hôm nay Người đang hiện diện nơi dung mạo và cuộc đời của những ai mang tên Người, tức là các Kitô hữu. Tác giả sách Công vụ Tông đồ diễn tả với chúng ta mô hình lý tưởng của cộng đoàn Đức Tin: "Các tín hữu bấy giờ đông đảo mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự là của chung" (Bài đọc II). Sở dĩ cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi sống tình hiệp nhất như vậy, là vì họ tin Đấng Phục Sinh đang ở giữa họ, nối kết họ thành gia đình Giáo Hội. Chúa Giêsu phục sinh hôm nay đang hiện diện cách huyền nhiệm nơi cuộc đời này. Sự hiện diện của Chúa có thể được chứng tỏ qua đời sống đạo đức yêu thương của các tín hữu. Xin cho mỗi chúng ta biết nhận ra Người đang sống giữa chúng ta để hăng hái nhiệt thành làm chứng cho Người.

"Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin". Chúa Giêsu Phục Sinh đang nói với tôi, với bạn và với mọi tín hữu hôm nay.

"Đức tin là sự tin tưởng sống động và táo bạo vào ơn Chúa, chắc chắn và vững bền tới mức một người có thể cược cả đời mình cho nó hàng nghìn lần" (Sưu tầm).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item