Welcome, Guest
You have to register before you can post on our site.

Username
  

Password
  





Search Forums

(Advanced Search)

Forum Statistics
» Members: 6
» Latest member: MaiThao
» Forum threads: 554
» Forum posts: 556

Full Statistics

Online Users
There is currently 1 user online
» 0 Member(s) | 1 Guest(s)

Latest Threads
Chúa Nhật XIX Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-12-2017, 02:19 AM
» Replies: 0
» Views: 6
Chúa Nhật XVIII Thường Ni...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-03-2017, 05:20 PM
» Replies: 0
» Views: 28
Chúa Nhật XVII Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
07-27-2017, 09:48 PM
» Replies: 0
» Views: 39
Chúa Nhật XVI Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
07-20-2017, 11:23 PM
» Replies: 0
» Views: 39
Chúa Nhật XV Thường Niên ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
07-14-2017, 07:31 AM
» Replies: 0
» Views: 41
Chúa Nhật XIV Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
07-07-2017, 04:58 PM
» Replies: 0
» Views: 58
Chúa Nhật XIII Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
06-30-2017, 06:15 PM
» Replies: 0
» Views: 61
Chúa Nhật XII Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
06-22-2017, 10:07 PM
» Replies: 0
» Views: 66
Chúa Nhật Lễ Kính Mình và...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
06-15-2017, 07:14 AM
» Replies: 0
» Views: 74
Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
06-08-2017, 08:08 PM
» Replies: 0
» Views: 43

 
Information Chúa Nhật XIX Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 08-12-2017, 02:19 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Hãy Nhận Ra Chúa

"Hãy nhận ra Chúa và hãy tôn thờ Ngài!". Đó là thông điệp mà Phụng vụ muốn gửi đến chúng ta trong Chúa nhật này.

Cuộc sống bon chen tính toán lôi cuốn chúng ta và làm cho chúng ta lãng quên sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời. Đàng khác, có những lúc chúng ta tin Chúa nhưng tự tạo ra một hình ảnh Thiên Chúa theo ý riêng mình, nhằm đáp ứng những đam mê lầm lạc của mình. Và, khi không được như vậy, thì chúng ta bất mãn bỏ Chúa.

Thánh Matthêu kể lại, vào lúc các môn đệ đang chèo thuyền trong đêm tối, Chúa Giêsu đi trên mặt nước để đến với các ông. Mặc dù mới lúc buổi chiều, các ông còn ở với Chúa, vậy mà giờ đây, các ông không nhận ra Người. Nỗi ám ảnh về quyền lực của biển cả, cộng với đêm tối, đã khiến các ông không nhận ra Thày mình. Không những thế, các ông còn hoảng hốt và nói với nhau: "Ma kìa". Cách thức và ngôn từ cho chúng ta thấy các ông như những đứa trẻ, đưa hình ảnh ma quỷ để hù dọa nhau. Những chi tiết này phần nào phản ánh cuộc sống của chúng ta trong quan niệm về Thiên Chúa. Có những lúc hình ảnh của Ngài bị con người làm cho biến dạng. Có những khi Ngài được trình bày và quan niệm giống như một "thây ma" của quá khứ. Nhiều người đã quá tự tin vào khả năng của mình. Họ không cần đến Thiên Chúa và họ quả quyết: "Thiên Chúa đã chết rồi!". Tuy vậy, Thiên Chúa không phải là sản phẩm của trí tuệ con người để họ có thể tạo nên và giết chết. Dù con người tin hay không thì Thiên Chúa vẫn hiện diện. Dù họ ghét bỏ hay yêu mến thì Ngài vẫn là Đấng nhân hậu bao dung. Những ai nhận ra Ngài thì được Ngài chúc phúc.

"Hãy nhận ra Chúa và hãy tôn thờ Ngài!". Đó là thông điệp mà Phụng vụ muốn gửi đến chúng ta trong Chúa nhật này. Thời nào cũng có những người thử Chúa như ông Phêrô. Ông muốn sự hiện diện của Chúa phải được chứng minh bằng một dấu hiệu cụ thể, đó là việc ông đi trên mặt hồ. Chúa đã làm như ông xin. Tuy vậy, nếu Chúa là Đấng luôn ban cho con người những sức mạnh và khả năng phi thường, thì con người lại tự "chìm xuống" bởi nghi ngờ, sợ hãi, yếu đuối và thiếu niềm cậy trông. Nỗi sợ của Phêrô quá lớn, kể từ lúc những người anh em nói với nhau:"Ma kìa" lúc này vẫn còn ám ảnh ông và làm cho ông chìm xuống nước. Phải chăng vì thế mà cuộc đời chúng ta nhiều lúc bị "chìm sâu" trong biển đời và cảm thấy đang đi lạc loài trong đêm tối?

Chúa Giêsu đã quở trách ông là kẻ kém lòng tin. Có thể Chúa cũng đang quở trách chúng ta như đã quở trách ông Phêrô. bởi lẽ nhiều lúc chúng ta thiếu tin tưởng ở nơi Người. Điều đó thể hiện qua cách sống, cách cầu nguyện và mối tương quan của chúng ta hằng ngày.

Ngôn sứ Elia đang bị vua Akháp đuổi và ông trốn chạy (Bài đọc I). Trong cơn gian nan, ông trở về núi Khôrép, thường được gọi là núi của Thiên Chúa. Về nơi này, ông như về với cội nguồn của đức tin. Chính nơi đây, ông gặp lại Thiên Chúa và được Ngài ban cho ông sức mạnh. Về nơi này, ông cũng ngộ ra một điều, là Thiên Chúa không hiện diện trong giông bão, trong bạo lực và trong cách xử sự theo kiểu con người. Khi "chiến đấu" với vua Akháp và hoàng hậu Idêben, ông chưa có niềm xác tín trên đây, nên ông còn hoảng sợ. Trong cuộc trốn chạy, đã có lúc ông xin được chết, vì ông cảm thấy đang đứng trước ngõ cụt của sứ mạng. Trên núi Khôrép, Chúa đã cho ông được bình an và cảm nhận sự dịu dàng của Ngài. Bài học Chúa muốn dạy ngôn sứ Elia, đó là hãy tìm gặp Chúa với tâm hồn thanh thản nhẹ nhàng, trong một không gian tĩnh lặng thanh thoát và với một trái tim khiêm nhường rộng mở. Những tâm hồn chất chứa đầy bon chen tính toán và hận thù sẽ chẳng bao giờ được gặp Chúa.

"Quả thật, Người là Con Thiên Chúa!". Đó là lời tuyên xưng đức tin của các môn đệ. Mọi sợ hãi đã qua, còn lại là sự bình an thanh thản. Mọi nghi ngờ đã hết, nhường chỗ là niềm xác tín và tôn thờ. Đó là kết quả mà các ông đã đạt được nhờ việc nhận ra Chúa. Giữa những khó khăn, thử thách và thậm chí là mưu mô chống đối, Thánh Phaolô vẫn kiên trì xác tín. Ông biết rõ Chúa luôn bênh vực và chở che, vì Ông đang thực hiện thánh ý Chúa và xuất phát từ lòng yêu mến dành cho Ngài (Bài đọc II).

Giữa cuộc đời bấp bênh và đầy nguy cơ này, chúng ta hãy đến với Chúa. Hãy nhận ra Ngài và tuyên xưng nơi Ngài niềm xác tín. Đừng sợ! Người sẽ kéo chúng ta khỏi những hiểm nguy đang rình rập chúng ta. Có Chúa, cuộc đời chúng ta sẽ vui tươi và an bình.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Con Đường Của Chúa

Sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, nuôi năm ngàn người ăn uống no nê, Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ xuống thuyền đi qua bờ bên kia. Rồi Người một mình lên núi cầu nguyện suốt đêm. Tại sao Chúa có thái độ kỳ lạ như thế? Tại sao Chúa Giêsu bắt ép các môn đệ ra đi? Tại sao giữa lúc dân chúng đang phấn khởi tinh thần, giữa lúc uy tín của Người dâng cao như núi, Người lại bỏ đi? Trong Phúc Âm, thánh Marcô và thánh Matthêu không nói rõ lý do. Nhưng Phúc Âm thánh Gioan thì nói rõ: "Chúa Giêsu bỏ đi vì Người biết dân chúng muốn tôn Người lên làm vua" (Ga 6, 14-15). Thật là một quyết định khác thường. Theo thói thường, ta sẽ khuyên Chúa Giêsu lên ngôi làm vua rồi đi khắp nơi làm phép lạ nuôi người ta ăn uống no nê, mọi người sẽ theo Chúa và chịu phép rửa tội, cả thế giới sẽ thuộc về Chúa, khỏi mất công truyền giáo khổ cực.

Không, con đường của Chúa thì khác với con đường của ta.

Con đường của ta là con đường kiêu ngạo trong khi con đường của Thiên Chúa là con đường khiêm nhường. Ta luôn tìm cách nâng mình lên, còn Thiên Chúa luôn tìm cách hạ mình xuống. Ta muốn xưng mình là Chúa trong khi Thiên Chúa lại muốn xuống làm người. Không chỉ làm một người bình thường, nhưng còn mặc lấy thân phận nghèo hèn, yếu ớt, thậm chí bị coi như một người tội lỗi nữa. Khi nâng mình lên, ta thường hạ người khác xuống. Còn Thiên Chúa tự hạ mình xuống để nâng con người lên làm con Thiên Chúa. Con người và Thiên Chúa đều sử dụng bậc thang, nhưng theo những mục đích khác nhau. Con người sử dụng bậc thang để leo lên cao. Ai cũng muốn lên cao trong đời sống vật chất. Ai cũng muốn leo cao trong địa vị xã hội. Ai cũng muốn leo cao trong bậc thang danh vọng. Còn Thiên Chúa lại sử dụng bậc thang để đi xuống. Từ trời Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Từ một người bình thường, Chúa còn xuống làm một người nghèo hèn, một người tội lỗi, một người thất bại.

Con đường ta chọn là con đường rộng rãi, dễ dãi. Còn con đường của Chúa là con đường chật hẹp khó khăn. Ta luôn tìm sự dễ dãi: làm sao cho đời sống đỡ vất vả, làm sao cho có những tiện nghi phục vụ đời sống, làm sao cho cuộc đời thành công tốt đẹp. Còn Thiên Chúa lại chọn con đường chật hẹp, bé nhỏ, khiêm nhường. Trong nghệ thuật quảng cáo, người ta hứa hẹn cho khách hàng mọi sự tiện nghi thoải mái. Còn Chúa Giêsu thì hứa với những kẻ muốn theo Người rằng: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta" (Mt 16, 24). Trong các trường đại học người ta quảng cáo: ai học trường này sẽ thành công, sẽ lên chức, sẽ lên lương. Còn Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ: "Trong anh em, ai lớn nhất thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ" (Lc 22, 26).

Chính Chúa Giêsu không đi vào con đường rộng rãi thênh thang, nhưng đã chọn con đường bé nhỏ, chật hẹp. Người không chọn cứu chuộc con người bằng những thành công lẫy lừng, những phép lạ kinh thiên động địa. Nhưng Người đã chọn cứu chuộc nhân loại bằng con đường đau khổ, con đường thập giá, con đường tử nạn. Chính vì thế, hôm nay, vì sợ đám đông tôn Người lên làm vua, đi xa con đường khiêm nhường bé nhỏ, Người đã bỏ đám đông mà đi. Người sợ các môn đệ bị nhiễm thói kheo khoang, phô trương, quyền lực, nên thúc giục các ông xuống thuyền sang bờ bên kia trước.

Đây không phải lần đầu tiên Chúa gặp cơn cám dỗ loại này. Trong sa mạc ma quỉ đã xui giục Người bỏ con đường khiêm nhường, đau khổ để đi vào con đường vinh quang, dễ dãi. Đây cũng chưa phải là cơn cám dỗ cuối cùng. Cám dỗ sẽ còn trở lại với lời khuyên của Phêrô khi ông ngăn cản Thầy ra đi chịu chết (x. Mt 16, 23). Cơn cám dỗ khốc liết tiếp tục trong vườn Giệt-sê-ma-ni khiến Người nao núng hầu như muốn tháo lui (x. Mt 26, 39). Cơn cám dỗ không buông tha cả khi Người đã bị treo trên thánh giá với lời thách thức của mọi người: "Nếu Ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá để chúng tôi tin" (x. Mt 27, 42). Nhưng Người đã chiến thắng tất cả những cám dỗ của ma quỉ, kiên quyết đi vào con đường thánh ý Chúa Cha, con đường khiêm nhường, vâng lời, hi sinh gian khổ.

Bản thân ta và Hội Thánh, nếu muốn trung thành với Chúa, không thể có chọn lựa nào khác ngoài con đường của Chúa đã đi.

Quá khứ đã minh chứng: Chính khi giàu sang, quyền thế, thì Hội Thánh sa sút, khủng hoảng. Trái lại những khi gặp khó khăn, nghèo khổ, bắt bớ, Hột Thánh lại phát triển mạnh mẽ, vì đang đi vào con đường của Chúa.

Là môn đệ Chúa, ta hãy mạnh dạn bước theo Chúa vào con đường khiêm nhường bé nhỏ, vào con đường chật hẹp từ bỏ mình, vào con đường thánh giá đau khổ. Tuy khó khăn, đau đớn, nhưng đó mới là con đường dẫn ta đến với Chúa, ơn cứu độ của ta.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Chúa bỏ đi, Chúa thúc giục các môn đệ bỏ đi vì sợ người ta tôn làm vua. Tôi có lựa chọn nào khiến Chúa phải bỏ đi không?
  2. Tôi mong muốn Hội Thánh có khuôn mặt nào: uy quyền giàu sang hay nghèo khó, khiêm nhường?
  3. Tôi có sẵn sàng đi vào con đường của Chúa không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình





Print this item

Information Chúa Nhật XVIII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 08-03-2017, 05:20 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Hãy Cho Họ Ăn!

Thực ra, khi Chúa Giêsu nói với các tông đồ: "Anh em hãy cho họ ăn!", thì cuối cùng, chẳng phải là các môn đệ cho dân chúng ăn no, mà là chính Chúa đã nuôi dân chúng từ năm cái bánh và hai con cá. Chúa đã làm phép lạ khởi đi từ sự sẻ chia quảng đại của con người.

Từ nhiều năm nay, Caritas Hải Phòng và nhóm Bác ái có nhiều hoạt động giúp người nghèo như phát cháo tại ba bệnh viện. Gần đây, lại thêm một loại hình phục vụ mới, đó là quán cơm 5.000đ cho người nghèo tại Nhà thờ An Hải và nhà thờ An Tân (nội thành Hải Phòng). Ban đầu, nhiều người e ngại và nghĩ rằng những việc làm này sẽ khó mà tồn tại lâu dài. Tuy vậy, sau một thời gian hoạt động, kinh nghiệm cho thấy rằng, một khi chúng ta quảng đại giúp người nghèo và cậy trông phó thác nơi Chúa, thì Ngài sẽ ra tay trợ giúp. Việc phát cháo từ thiện và quán cơm 5.000đ thực hiện được là nhờ sự hảo tâm cộng tác của nhiều người. Vốn liếng ban đầu chẳng có là bao mà giống như hũ bột và bình dầu của bà góa trong Cựu ước: hũ bột không cạn và bình dầu không vơi, bởi lẽ người góa phụ đã quảng đại sẻ chia cho ngôn sứ Elia (x. 1 V 17, 10-16). Điều này cho thấy, nếu chúng ta làm theo mệnh lệnh của Chúa: "Hãy cho họ ăn!", thì chính Ngài sẽ lo liệu. Được biết những hoạt động từ thiện này được thực hiện ở nhiều nơi, do các tổ chức tôn giáo, các dòng tu hay các giáo phận, kể cả những anh chị em lương dân. Những người này không theo tôn giáo nào, nhưng họ làm việc theo tiếng gọi của trái tim và lòng nhân ái.

Thực ra, khi Chúa Giêsu nói với các tông đồ: "Anh em hãy cho họ ăn!", thì cuối cùng, chẳng phải là các môn đệ cho dân chúng ăn no, mà là chính Chúa đã nuôi dân chúng từ năm cái bánh và hai con cá. Chúa đã làm phép lạ khởi đi từ sự sẻ chia quảng đại của con người. Nói cách khác, nếu con người dấn thân với lòng tin tưởng nơi Chúa, thì chính Ngài sẽ thực hiện những việc lạ lùng. Chính Chúa sẽ nhân lên gấp bội, những nghĩa cử bác ái của chúng ta vì tha nhân đồng loại.

"Hãy cho họ ăn!", đó chính là mệnh lệnh của Chúa đối với chúng ta, những Kitô hữu hôm nay. Bởi lẽ xung quanh chúng ta còn nhiều người nghèo, rất cần chúng ta nâng đỡ và chia sẻ. Họ là những người nghèo về vật chất, về kiến thức và về tình thương. Ai trong chúng ta, dù nghèo tới cỡ nào, cũng có thể chia sẻ với tha nhân, ít là niềm vui, nụ cười, sự khích lệ động viên những người đang chơi vơi giữa dòng đời. Sự giúp đỡ của chúng ta, nếu được thực hiện với trái tim nhân hậu, sẽ mang lại giá trị lớn lao, vì nó kèm theo phúc lành của Thiên Chúa. Ngày hôm nay, đây đó có những người giàu có tới mức dư thừa, đồng thời cũng còn những người bất hạnh, thiếu thốn kể cả những nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống. Làm ra cơm bánh và tăng trưởng kinh tế là một thách đố lớn đối với con người của mọi thời đại. Người ta đã trách Chúa sao không phân phối tài sản đồng đều giữa các nước bắc bán cầu và nam bán cầu, giữa những người giàu "nứt đố đổ vách" và những nghèo "rớt mồng tơi". Nhưng thực ra, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ và muôn loài cho mọi người và cho mỗi người. Ngài cũng luôn mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài bằng việc giang rộng cánh tay để xoá đi chênh lệch, xóa đi bất hạnh nghèo đói. Vì mọi người đều là anh chị em với nhau và cùng được hưởng những tài nguyên mà Thiên Chúa ban tặng. Những người giàu có chỉ là người quản lý của cải Chúa ban để phân phát cho những anh chị em mình. Họ không thể dựa trên lý lẽ "là của mình" để tùy tiện phung phí hoặc dửng dưng trước sự nghèo đói của những người xung quanh. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định: "Của cải để lãng phí là của cải ăn cắp của người nghèo".

Lời Chúa hôm nay vừa mời gọi chúng ta rộng rãi chia sẻ cho người nghèo, vừa kêu mời chúng ta hãy đến với Chúa để đón nhận từ Ngài muôn ân huệ. Ngài là suối nguồn ơn phúc, cũng là nơi ẩn náu cho các tội nhân. Ngài là nơi an ủi những ai nhọc mệt vì gánh nặng đường đời. Hãy đến với Chúa, bạn sẽ được đón nhận những chỉ dẫn cần thiết để sống một cuộc đời có ý nghĩa. "Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống" (Bài đọc I). Xung quanh chúng ta cũng như đối với cuộc đời cá nhân của mỗi người, đã bao lần chúng ta cảm nghiệm những điều tốt lành, một khi chúng ta đến với Chúa và kêu cầu với Ngài. Nếu bạn chưa cảm nhận được điều ấy, bạn hãy thử ngay từ ngày hôm nay. Chúa sẽ cho bạn những điều tốt lành, vì Ngài là suối nguồn ơn phúc và bình an. Khi cảm nhận được những điều ngọt ngào Chúa ban qua lòng tin cậy phó thác, chúng ta sẽ trung thành với Ngài, đến nỗi "không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta" (Bài đọc II).

Chính trong lúc này, chúng ta cử hành Bí Tích Thánh Thể. Nơi đây Đức Giêsu tiếp tục hóa bánh ra nhiều để nuôi dưỡng chúng ta. Nơi đây chúng ta lãnh nhận lương thực thiêng liêng, là bảo chứng cho chúng ta được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Đức Giêsu Thánh Thể là tấm bánh bẻ ra cho toàn thế giới, đồng thời là lời mời gọi mọi người hãy yêu thương và chia sẻ cho nhau, như Người đã yêu thương và hiến chính mình cho chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Tình Liên Đới Đồng Loại

Báo cáo của tổ chức vận động chống đói nghèo quốc tế Oxfam có tiêu đề "Nền kinh tế của 99%", được đưa ra trước thời điểm khai mạc Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sỹ) từ 17–20/1, theo đó, tổng tài sản của 3,6 tỷ người nghèo nhất thế giới chỉ tương đương với tổng giá trị tài sản ròng của 8 người gồm 6 công dân Mỹ, một doanh nhân Tây Ban Nha và một doanh nhân đến từ Mexico. Trong số này có những tỷ phú như Bill Gates – nhà sáng lập Tập đoàn công nghệ danh tiếng Microsoft, Mark Zuckerberg – ông chủ trang mạng xã hội "đình đám" Facebook và Jeff Bezos, nhà sáng lập trang bán hàng trực tuyến Amazon. Ước tính, giá trị tài sản của nhóm người giàu nhất này tăng trung bình 11% mỗi năm kể từ 2009.

Cũng theo cách tính toán mới, con số của năm là 43 người giàu nhất và 3,6 tỷ người (50% dân số thế giới).

Câu hỏi được đặt ra: Tại sao lại có sự bất bình đẳng và chênh lệch giầu nghèo quá lớn như vậy? Có phải vì con người ích kỷ, hẹp hòi không biết chia sẻ cho nhau không, hay thay vì chế tạo ra bột mỳ, lương thực, thuốc men giúp con người đỡ khổ, thì lại tích luỹ làm giầu, chế tạo súng ống chạy đua vũ trang?

Thật nguy hiểm, khi con người ngày càng giầu về vật chất, nhưng lại nghèo về tinh thần như: đạo lý, công bằng, tình thương, sự thật, tình liên đới và trách nhiệm, kéo theo sự đói nghèo tổng thể. Phải khẳng định rằng, Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh và như họa ảnh của mình (x. St 1, 26). Người cũng là Thiên Chúa tình thương (x. 1Ga 4, 8), nên con người tự bản chất là tình thương. Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết: "Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ là kẻ không thể hiểu được đối với chính bản thân mình, cuộc sống con người mất nghĩa nếu không nhận lấy mạc khải về tình yêu, nếu không gặp tình yêu, nếu không kinh nghiệm tình yêu và không nhận lấy kinh nghiệm đó làm của mình và dự phần vào đó cách mãnh liệt" (Thông điệp Đấng Cứu Chuộc số 10). Không có tình thương, thế giới không còn là thế giới của con người nữa.

"Anh em hãy cho họ ăn", lệnh Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ phải làm ngay lập tức. Nhìn thấy đám đông, Đức Giêsu chạnh lòng thương. Đây là một đám đông nghèo khổ, đói khát, bệnh tật, bơ vơ không người chăn dắt. Đám đông tội nghiệp đi tìm Đức Giêsu không phải chỉ để được ăn no, nhưng còn để được chữa lành bệnh, nhất là được ủi an, dạy dỗ và bảo ban.

Các môn đệ đã nhìn thấy đám đông đói khát. Các ngài muốn thoái thác, phủi tay: "Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thày giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn". Đó là một giải pháp hợp lý. Lo cho năm ngàn người ăn là ngoài tầm tay của các môn đệ. Đó cũng là giải pháp nhẹ nhàng, ai lo phần nấy, thật dễ dàng. Nhưng, đó là giải pháp không được Chúa chấp nhận. Tại sao vậy? Vì thiếu tình liên đới.

Triệu chứng thờ ơ xuất hiện, gặp người có hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn mà không thấy xót xa, không ra tay giúp đỡ dù có điều kiện; đứng trước sự bất công mà không thấy phẫn nộ; thấy điều tốt đẹp, cao thượng mà không ngưỡng mộ, cảm phục. Dù là thờ ơ, dửng dưng, hay mặc kệ, bất cần đều là vô cảm.

Chúa muốn loại bỏ sự vô cảm nơi các môn đệ, Người phán: "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy lo cho họ ăn. Họ đói, các con phải lo cho họ ăn". Một trách nhiệm nặng nề vượt quá sức các môn đệ, nhưng đã đồng cảm thì phải có trách nhiệm. Trái tim cảm thương thật sự phải truyền tới bàn tay.

Đồng cảm là góp phần mình. Chúa không cần những phép tính vĩ mô, năm ngàn người thì cần bao nhiêu bánh? Những tính toán như thế, không thực tế và làm ta lo sợ. Chúa dạy các môn đệ khởi đi từ thực tế: "Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá". Thật là ít ỏi, nghèo nàn, Chúa không chê cái ít ỏi nghèo nàn ấy: "Hãy mang lại đây cho Thày". Có ít hãy đóng góp ít. Nhưng quan trọng là phải bắt tay vào. Đồng cảm không đòi ta phải quán xuyến mọi sự, nhưng đòi ta góp phần của mình vào việc chung.

Đồng cảm là chia sẻ. Chúa chúc tụng để làm phép bánh và cá như ta thấy, những đóng góp dù ít ỏi của ta đã thành thiêng liêng cao quí. Chúa không làm phép lạ tức khắc biến ngay cá và bánh ra một núi lương thực cho mọi người tự do đến lấy. Chúa cũng không tự tay phân phát lương thực cho mọi người. Chúa trao bánh và cá cho các môn đệ. Các môn đệ trao cho mọi người. Và mọi người trao lại cho nhau. Đó là bài học lớn của phép lạ. Chính khi mọi người trao cho nhau, Chúa làm phép lạ. Bánh và cá cứ tiếp tục sinh sôi bao lâu những bàn tay còn trao cho nhau. Bánh và cá vẫn tiếp tục nhân lên bao lâu mắt con người vẫn còn nhìn nhau. Những tấm bánh của tình liên đới. Những đàn cá của sự chia sẻ nhân lên theo nhịp đập đồng cảm của trái tim. Khi trái tim chan chứa yêu thương, quan tâm, liên đới, lương thực trở nên phong phú, dư thừa.

Thế mà các môn đệ đã vội lo. Cũng như ta thường lo thế giới này quá chật hẹp không đủ chỗ cho mọi người. Lương thực trên thế giới không đủ nuôi mọi người. Hôm nay Chúa dạy ta mỗi người hãy chia sẻ những gì mình có thì thế giới sẽ dư thừa lương thực. Khi trái tim mở ra thế giới sẽ có đủ chỗ cho mọi người.

Quả thật, có lòng thương cảm người khác là một điều tốt, nhưng chưa đủ, cần phải có hành động thực sự nữa. Chúa Giêsu đã làm và dạy chúng ta như thế. Thử nghĩ, trước nỗi đau và túng cực của tha nhân, ta có thái độ thế nào? Ngoảnh mặt làm ngơ hay bưng tai giả vờ làm điếc, không thể chấp nhận được. Chúa không đòi chúng ta làm những việc to lớn, nhưng đòi chúng ta biết chia sẻ những gì trong tầm tay của chúng ta, phần còn lại Chúa sẽ thực hiện. Ngạn ngữ phương tây có nói: Giúp người thì trời giúp cho. Việt Nam ta cũng thường nói: ở xởi nởi thì trời cởi cho, ở xẻn xo thì trời co tay lại.

Hôm nay, Đức Giêsu dạy chúng ta hãy nhìn những người chung quanh bằng ánh mắt của tình liên đới, đừng dửng dưng, vô cảm. Những người già bị bỏ rơi cô đơn, người này đói vì tôi vô tâm hay đã ăn quá nhiều, người kia rách vì tôi đã mê mải chạy theo mốt. Những đứa trẻ này hư hỏng vì tôi đã thiếu quan tâm chỉ bảo. Những đứa trẻ kia rơi vào tội phạm vì tôi đã không làm gương tốt cho chúng. Thế giới này chưa tốt một phần có trách nhiệm của mỗi người chúng ta. Thế giới này chưa công bằng trong đó có phần lỗi của chúng ta. Ý thức về sứ mạng này, chúng ta hãy phấn đấu để trở nên những tông đồ, những sứ giả, những người cổ vũ và kiến tạo nền văn minh tình thương.

Lạy Đức Maria, Đấng chỉ bảo đàng lành, xin cầu cho chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Trích từ nguồn: VietCatholic News





Print this item

Information Chúa Nhật XVII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 07-27-2017, 09:48 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Chọn Lựa Khôn Ngoan

Khôn ngoan đích thực không phải là sự lươn lẹo mánh lới và thủ đoạn, nhưng là sống theo sự thật. Người sống theo lương tâm ngay thẳng, tôn trọng sự thật, sẽ luôn được an bình thanh thản. Những ai sống mưu mô, trục lợi, dù có thành đạt cũng không bền lâu và sớm muộn cũng bị đưa ra ánh sáng.

Thời gian gần đây, chúng ta thấy một loạt quan chức và những đại gia phải ra hầu tòa trước vành móng ngựa. Những người này can tội lợi dụng chức quyền, tham ô chiếm đoạt của công. Trước khi bị phanh phui, họ là những người "nói mọi người nghe, đe mọi người sợ", vì họ nắm trong tay chức quyền và của cải. Sự giàu có và quyền chức của họ cũng là điều nhiều người mơ ước. Dưới cái nhìn thế gian, họ đã là những người may mắn và khôn ngoan. Bỗng chốc, sự khôn ngoan của họ biến thành sự dại dột. Những lời khen ngợi dành cho họ trước đây, nay trở thành những lời nguyền rủa phỉ báng. Vinh quang của họ biến thành nỗi nhục. Những sự kiện này khiến chúng ta đặt ra câu hỏi: đâu là sự khôn ngoan đích thực?

Lời Chúa hôm nay nói với chúng ta đâu là sự khôn ngoan đích thực. Salomôn là vị vua có cái nhìn xa trông rộng. Khi vừa lên ngôi kế vị cha mình là Đavít, ông đã thấy rõ điều ông cần thiết không phải là của cải vật chất hoặc mạng sống quân thù, nhưng là sự khôn ngoan để cai trị quốc gia. Thực ra, lời cầu xin của ông đã chứng tỏ ông là một người khôn ngoan. Bởi lẽ, khi người ta đã có sự khôn ngoan, thì sẽ có mọi sự. Cuộc đời của Salomôn đã chứng minh điều đó. Chúa tỏ cho ông biết: điều ông xin vừa là điều chính đáng, vừa là điều đẹp lòng Chúa. Vì vậy, Chúa ban cho ông sự khôn ngoan phi thường, đến nỗi ông trở thành biểu tượng của sự khôn ngoan trong lịch sử.

Khôn ngoan đích thực không phải là sự lươn lẹo mánh lới và thủ đoạn, nhưng là sống theo sự thật. Người sống theo lương tâm ngay thẳng, tôn trọng sự thật, sẽ luôn được an bình thanh thản. Những ai sống mưu mô, trục lợi, dù có thành đạt cũng không bền lâu và sớm muộn cũng bị đưa ra ánh sáng. Người Việt chúng ta thường nói: "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên". Việc làm của chúng ta có đạt được kết quả hay không còn tùy thuộc vào ý Trời. Những gì tốt lành, ngay thẳng, sẽ thuận ý Trời và sẽ thành công.

Người khôn ngoan đích thực còn là người chọn lựa Chúa như đích điểm tối ưu của đời mình, đồng thời cố gắng làm mọi sự để trung thành với sự chọn lựa ấy. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh người khám phá ra kho tàng quý giá trong thửa ruộng, và người lái buôn biết giá trị của viên ngọc quý. Cả hai người này đều giống nhau ở chỗ, họ bán tất cả để mua thửa ruộng có chứa kho tàng và mua viên ngọc quý. Hình ảnh này muốn dạy chúng ta, một khi đã chọn Nước Trời là lý tưởng, người tín hữu phải hy sinh từ bỏ những gì có thể cản trở họ trong việc đón nhận giáo huấn của Chúa.

Mỗi chúng ta đều được đón nhận hồng ân đức tin. Đức tin là một viên ngọc quý mà Chúa ban tặng cho chúng ta. Có những lúc chúng ta không ý thức được giá trị của hồng ân này. Vì vậy chúng ta không để ý lo lắng cho đức tin được lớn lên và thể hiện cách rõ nét trong đời sống. Các thánh tử đạo là những người đã khám phá ra giá trị của Nước Trời, nên sẵn sàng hy sinh cả mạng sống để đạt được điều các ngài hy vọng trông mong. Trong xã hội hôm nay, trước những trào lưu mệnh danh là "tiến bộ", "hiện đại", nhiều tín hữu coi đức tin như một thứ trang sức cho đẹp, hoặc như một đồ cổ quý giá nhưng chỉ để trưng bày trong tủ kính. Họ e ngại khi phải hy sinh để sống đức tin và thực hành giáo huấn của Giáo Hội. Tóm lại, đức tin không có một vị trí quan trọng trong đời sống của họ. Vì thế, khi gặp những khó khăn thử thách, họ sẵn sàng chối bỏ đức tin để chọn lựa những gì hào nhoáng và giá trị nhất thời.

Người tin vào Chúa không bước theo những ảo vọng, nhưng chắc chắn sẽ được Chúa yêu thương và lắng nghe lời họ nguyện cầu. Thánh Phaolô khẳng định với chúng ta: "Những kẻ yêu mến Thiên Chúa thì Người giúp họ được mọi sự lành. Họ là những người kêu gọi nên thánh" (Bài đọc II).

Ơn khôn ngoan là một trong bảy ơn của Chúa Thánh Thần. Chúng ta hãy xin Ngài soi sáng cho chúng ta biết nhận ra đâu là khôn ngoan đích thật. Xin Ngài thêm sức mạnh để chúng ta trung thành với đức tin, coi đó là lý tưởng cao cả nhất của cuộc đời. Đó chính là viên ngọc mà Chúa ban cho chúng ta khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Đó cũng chính là sản nghiệp mà chúng ta có bổn phận phải làm cho sinh hoa kết trái qua những việc làm mỗi ngày.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Khôn Ngoan Tìm Nước Trời

Vua Salomon nổi tiếng là vị vua khôn ngoan sáng suốt. Ông đã xử những vụ án rất khó khăn một cách khéo léo không khác gì Bao Công. Bà hoàng hậu Saba ở mãi tận phương nam cũng phải đến nghe sự khôn ngoan của ông. Nhưng khôn ngoan nhất là khi được Chúa cho chọn lựa, ông đã không xin được trường thọ hay được giàu sang, mà chỉ xin được ơn khôn ngoan. Lời cầu xin của ông rất đẹp lòng Chúa. Nên Chúa đã khen ngợi và ban cho ông mọi điều mong muốn. Chúa muốn tôi bắt chước vua Salomon, biết xin ơn khôn ngoan và biết khôn ngoan trong những lựa chọn. Nhất là biết khôn ngoan lựa chọn Nước Trời như những người trong bài Tin Mừng hôm nay.

Những người trong bài Tin Mừng hôm nay khôn ngoan vì thao thức đi tìm. Sự thao thức đi tìm được thấy trong thái độ bôn ba đây đó, khảo sát đất đai. Chắc phải đào bới nhiều mới thấy kho tàng chôn giấu trong ruộng. Sự thao thức đi tìm cũng thấy trong việc ra khơi thả lưới. Vất vả chài lưới rồi còn phải lựa chọn. Dù vất vả, họ quyết tìm cho ra Nước Trời.

Họ khôn ngoan vì biết phân định. Đời sống đem đến cho ta đủ mọi loại giá trị thượng vàng hạ cám, như chiếc lưới đánh bắt đủ mọi loại tôm cá. Giữa những giá trị ấy ta phải biết phân định. Lựa chọn những giá trị cao quý, tốt đẹp. Biết chọn lựa cá tốt, vứt bỏ cá xấu. Biết giá trị của viên ngọc dù nó còn đang nằm giữa khối đá sù sì dơ bẩn. Biết giá trị của kho tàng dù nó còn đang bị chôn giấu dưới lòng đất sâu. Biết giá trị của Nước Trời dù Nước Trời chưa tỏ hiện rõ ràng trên thế gian.

Họ khôn ngoan vì dám dấn thân. Khi đã biết được giá trị Nước Trời, họ dấn thân theo đuổi đến cùng. Dấn thân trọn vẹn nên bán tất cả những gì mình có để đổi lấy kho tàng, viên ngọc quý. Dấn thân quyết liệt vì bán hết nhà cửa rồi thì không thể quay về chốn cũ, chỉ còn gắn bó với quê hương mới mà thôi. Dấn thân tuyệt đối, bỏ hết tất cả chỉ vì một viên ngọc. Dấn thân như thế là thái độ của tình yêu, sự say mê, sự khao khát mãnh liệt. Đó chính là thái độ phải có khi đi tìm Nước Trời.

Họ khôn ngoan vì biết từ bỏ. Bán tất cả những gì mình có là một từ bỏ lớn lao. Dứt lìa những gì mình gắn bó còn đau đớn hơn nữa. Bỏ một nơi yên thân chắc chắn để dấn thân vào một tương lai bấp bênh thì thật là phiêu lưu đến tận cùng. Nhưng không có cách nào khác. Phải bán tất cả mới đủ sức mua viên ngọc Nước Trời. Phải đầu tư trọn vẹn con người với tất cả tài năng trí tuệ, sức lực, thời giờ mới mong chiếm đoạt được Nước Trời. Luyến tiếc một chút là bất thành. Chần chừ một chút là hỏng việc. Nấn ná một chút là bị lỡ cơ hội.

Họ từ bỏ một cách nhẹ nhàng thanh thoát. Nên từ bỏ rồi họ cảm thấy vui tươi. Họ từ bỏ một cách mau mắn vì họ đã dứt khoát với những gì xưa cũ. Lòng trí của họ chỉ gắn bó tha thiết với kho tàng mới tìm thấy.

Đó là những thái độ khôn ngoan đáng cho ta noi theo trên con đường đi tìm Nước Trời. Biết thao thức đi tìm. Biết phân định giá trị. Biết mau mắn từ bỏ. Biết hăng hái dấn thân đến cùng.

Lạy Chúa, xin ban cho con ơn khôn ngoan để con biết chọn Chúa là nguồn mạch hạnh phúc.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Bạn có thực sự coi Nước Trời là kho tàng quý giá nhất không?
  2. Bạn đã thực sự bán hết mọi sự để mua Nước Trời chưa? Còn những gì bạn còn luyến tiếc chưa muốn bán?
  3. Bạn nghĩ thế nào về sự khôn ngoan. Bạn muốn trở thành người khôn ngoan thực sự không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Phải Bán Đi Những Gì Để Mua Nước Trời?

Chúng ta đang sống trong một thế giới điên loạn vì vô luân vô đạo, với đầy rẫy ở khắp nơi những sụ dữ như hận thù, dâm ô, chém giết nhau từ trong gia đình ra đến bên ngoài xã hội và cộng đồng thế giới.. Bọn khủng bố cuồng tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, ngày một trở nên nguy hiểm cho sự an toàn của người dân lương thiện vô tội ở khắp nơi, vì lo sợ sẽ là nạn nhân của những cuộc khủng bố, bách hại của bọn cuồng tín kia. Trong khi đó, nạn bóc lột và cai trị hà khắc vẫn tiếp diễn ở các nước độc tài, nơi nghèo túng, lạc hậu và thiếu tình người, thiếu đạo đức và vô luân, đã khiến cho nhiều cha mẹ đem bán con cái cho bọn buôn người để cung cấp cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi.

Trên bình diện khác, bọn tư bản ở khắp nơi, đặc biệt ở Mỹ, ngày càng làm giầu với những xảo thuật về kinh tài mà giới cầm quyền cai trị cũng phải bó tay để mặc chúng thao túng thị trường chứng khoán và lèo lái kinh tế theo ý muốn có lợi cho chúng. Cụ thể, tại sao Nước Mỹ có trữ lượng dầu hỏa và khí đốt phong phú không thua gì các nước dầu hỏa Á Rập mà dân Mỹ vẫn phải mua xăng với giá cao, khiến đời sống của đa số người lao động ngày càng khó khăn vì giá xăng dầu không thể hạ xuống thấp được nữa? lý do là bọn tư bản, làm chủ các hãng xăng dầu muốn vơ vét cho đầy túi tham, bất chấp hậu quả tai hại cho người dân lao động có mức lợi tức thấp.

Khi xã hội và cộng đồng thế giới không được chỉ huy, lãnh đạo bởi những nguyên tắc công bằng và đạo lý thì người dân sống trong đó cũng bị chao đảo về mặt tinh thần, coi thường luân lý đạo đức, là nền móng cho một đời sống tinh thần lành mạnh và hướng thượng. Hậu quả trông thấy là có biết bao người đang dửng dưng với mọi tôn giáo để chạy theo những quyến rũ về tiền bạc, của cải vật chất, danh vọng trần thế và tôn thờ khoái lạc (hedonism) với những thú vui vô luân vô đạo, như bộ mặt của thế giới tục hóa ngày nay.

Đứng trước thực trạng nói trên của con người thời đại hôm nay, là người tín hữu Chúa Kitô, chúng ta nghĩ gì về niềm tin của mình? phải chăng chúng ta đang đi tìm Thiên Chúa và sự giầu sang phú quí của Nước Trời, hay đang chạy theo những trào lưu tục hóa của thời đại?

Để trả lời cho câu hỏi này, bài đọc thứ nhất và bài Phúc Âm Chúa nhật 17 mùa thường niên hôm nay cống hiến cho chúng ta giải đáp thỏa đáng để suy nghĩ và áp dụng trong đời sống đức tin của mỗi người chúng ta.

Thật vậy, bài đọc thứ nhất, trích trong sách các Vua, kể cho chúng ta nghe sự kiện Vua Salômon, con Vua Đavid, được gặp Chúa trong giấc mơ. Chúa hỏi ông muốn xin gì, ông đã đáp như sau:

"Xin ban cho tôi tớ Chúa đây một tâm hồn biết lắng nghe để cai trị dân Chúa và biết phân biệt phải trái,.." Thiên Chúa hài lòng vì Salômon xin điều đó, nên đã nói với nhà vua như sau: "Bởi vì ngươi đã xin điều đó. Ngươi đã không xin cho được sống lâu, hay được của cải; cũng không xin cho kẻ thù ngươi phải chết, nhưng đã xin cho được tài phân biệt để xét xử, thì này Ta làm theo như lời ngươi: Ta ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn đến nỗi trước ngươi, chẳng một ai sánh bằng và sau ngươi cũng chẳng có ai bì kịp". (1V 3, 9-12)

Đây là món quà quí giá mà Chúa đã ban riêng cho vua Salômon để giúp cho nhà vua biết khôn ngoan khi cai trị dân Chúa và biết phải trái khi phán đoán họ.

Như vậy, mỗi người tín hữu chúng ta hãy noi gương vua Salômon để xin Chúa ban ơn hiểu biết và khôn ngoan để biết đâu là gian tà và tội lỗi phải tránh và đâu là điều thiện hảo phải làm để được chúc phúc và nhất là được cứu rỗi để vào Nước trời vui hưởng hạnh phúc bất diệt với Chúa, sau khi kết thúc hành trình đức tin trên trần thế này.

Thật vậy, sống trong một thế giới tôn thờ tiền bạc,của cải vật chất và những thú vui vô luân vô đạo, vô lương tâm và dửng dưng trước sự nghèo đói và đau khổ của đồng loại, người tín hữu chúng ta cần thiết phải xin Chúa ban cho ơn khôn ngoan, và can đảm sống theo đường lối của Chúa để không đi vào con đường đưa đến hư mất đời, vì "người nào được cả thế giới mà mất sự sống (mất linh hồn) thì nào có lợi ích gì?" như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ và những người đến nghe Chúa giảng dạy xưa kia. (Lc 9, 25) Nói khác đi, chúng ta phải noi gương vua Salômon đã không xin Chúa cho được giầu sang, được sung sướng vật chất, mà chỉ xin Chúa cho được khôn ngoan để biết phân biệt điều hay việc tốt phải làm, và sự xấu sự dữ phải tránh để không chạy theo những quyến rũ về tiền tài danh vọng chóng qua ở đời này khiến quên lãng điều cần thiết và quan trọng hơn là tìm Chúa và hạnh phúc sang giầu của Nước Trời.

Mặt khác, cũng chính trong mục đích tìm sự khôn ngoan, ơn hiểu biết để sống giữa thế gian với biết bao người chỉ biết đi tìm những lợi lãi chóng qua ở đời này, và không thắc mắc gì đến tương lai ngày mai sau cái chết mà không ai có thể tránh được, Bài tin Mừng thánh Matthêu Chúa Nhật 17 mùa thường niên hôm nay cũng mời gọi chúng ta suy nghĩ sâu xa về ba dụ ngôn Chúa Giêsu kể cho các môn đệ về Nước Trời.

Trước hết là dụ ngôn về kho báu chôn dấu ngoài thửa ruộng kia. Có người tìm được và đã về bán tất cả gia sản của mình để mua lấy thửa ruộng có kho báu chôn dấu trong đó. Cũng vậy, một thương gia đi tìm ngọc quý, khi tìm được đã về bán tất cả những gì mình có để mua viên ngọc quý đó.

Nước Trời cũng được ví như kho báu và viên ngọc quý mà nhờ đức tin chúng ta tìm được. Nhưng tìm được rồi, chúng ta có về bán đi tất cả những gì mình có để mua kho báu và viên ngọc quý đó hay không?

Nói khác đi, nếu đức tin cho ta biết có Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, có hạnh phúc Nước Trời mà "mắt chưa từng xem thấy, tai chưa hề nghe, lòng trí chưa từng nghĩ đến" (1Cr 2, 9), thì chúng ta phải bán đi những gì mình có để mua lấy Nước trời hầu được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Chúa là cội nguồn của mọi vinh phúc giầu sang.

Câu chuyện người thanh niên giầu có trong tin Mừng Thánh Máccô đủ cho ta thấy ham mê của cải, tiền bạc ở đời này là một trở ngại lớn cho ai muốn vào Nước Trời. Cụ thể, anh thanh niên giầu có kia, mặc dù đã thực hành tốt mọi điều răn của Chúa, nhưng khi Chúa Giêsu bảo anh hãy về bán hết tài sản và bố thí cho người nghèo rồi trở lại đi theo Chúa, thì anh đã buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải khiến không thể hy sinh được. Vì thế Chúa đã nói với các môn đệ như sau: "Những người giầu có khó vào Nước Thiên Chúa biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Chúa" (Mc 10, 23-24)

Như thế đủ cho thấy là ham mê của cải, làm nô lệ cho tiền bạc là một trở ngại lớn cho những ai muốn vào Nước Thiên Chúa.

Và để tìm kiếm Nước Trời, qua ba dụ ngôn trong bài Tin Mừng Chúa nhật này, Chúa Giêsu cũng có ý cho ta hiểu rằng Nước Trời còn quý giá hơn cả kho báu chôn kín trong thửa ruộng hay viên ngọc quý mà thương gia kia tìm được. Kho báu ấy chính là Thiên Chúa và Vương Quốc bình an và hạnh phức của Người.

Vậy, ta phải bán đi những gì để mua Kho Báu ấy?

Những gì người ta có là lòng ham mê tiền bạc và của cải cùng danh vọng ở đời này. Thêm vào đó, là lòng ham muốn những vui thú bất chính, dâm ô thác loạn, hận thù nghen nghét, bất công chèn ép, bóc lột người khác và dửng dưng trước sự nghèo đói, đau khổ của biết bao người xấu số trong xã hội. Tất cả đây là những trở ngại cho ai muốn được vào Nước Trời để hưởng hạnh phúc giầu sang phú quý vinh cửu mà Thiên Chúa, Cha chúng ta, đã dành sẵn cho nhưng ai yêu mến Người, hơn yêu mến tiền bạc, danh vọng và mọi thú vui vô luân vô đạo ở đời này.

Như vậy, nếu muốn mua Nước Trời, thì mỗi người chúng ta phải bán đi những gì mình đang có hay nói khác đi phải từ bỏ những trở ngại để có thể vươn tâm hồn lên cùng Chúa là cội nguồn của mọi vinh phúc giầu sang. Nếu lòng trí ta còn nặng trĩu những tham sân si ở đời này, thì chắc chắn không thể đến gần được Chúa và không có hy vọng gì mua được sự giầu sang phú quý của Nước Trời.

Thực trạng đáng buồn trong cách sống đạo của rất nhiều người tín hữu ở khắp nơi ngày nay đã chứng minh điều này: có những người thường xuyên bỏ lễ ngày Chúa Nhật và những ngày lễ trọng, hoặc không bao giờ đi xưng tội hay bỏ giờ ra cầu nguyện, nhưng lại luôn luôn có mặt ở những cuộc hội họp ăn uống và nhẩy nhót cuồng loạn. Có những người đã bỏ hay li dị vợ già để về Việt Nam cưới những cô gái trẻ đáng con cháu của mình, bắt chấp sự cười chê và phỉ nhổ của dư luận quần chúng.

Lại nữa, có biết bao người đã và đang thi nhau về Việt Nam để ăn chơi tội lỗi, vì hoàn cảnh xã hội suy đồi về đao đức và khó khăn về kinh tế ở bên nhà, đã khiến cho nhiều phụ nữ phải bất đắc đi làm các nghề mua vui cho người khác để kiếm của nuôi thân.

Nếu người tín hữu Chúa Kitô mà cũng lăn mình vào nếp sống của những người vô luân, vô đạo kia, thì làm sao có thể mua được Nước trời với giá phải loại bỏ những đam mê trần thế để sống theo đường lối của Chúa, vì "nếu được mọi lợi lãi ở đời này mà mất linh hồn thì được ích gì"?

Sau hết, qua dụ ngôn chiếc lưới thả xuống biển để bắt nhiều loại cá tôm. Nhưng người thả lưới sẽ chỉ lựa loại cá tôm tốt bỏ vào giỏ, còn loại xấu thì sẽ quăng đi. Hình ảnh này cũng cho ta biết là Thiên Chúa, trong ngày sau hết, sẽ sai các thiên thần đi gom những người thực tâm mến Chúa, yêu người và chê ghét mọi sự dữ, mọi quyến rũ về của cải và vui thú vô luân vô đạo ở đời này và đưa họ vào Thiên đàng vui hưởng thánh nhan Chúa. Còn những kẻ đã mê mãi chạy theo và làm những sự dữ ở trần gian này, bắt chấp lương tâm và lòng kính sợ Chúa, thì sẽ bị ném vào hỏa ngục để bị thiêu đốt như người ta đốt cỏ dại, quăng cá tôm xấu xuống biển, và chỉ lấy lúa chin bỏ vào kho và tôm cá tốt vào giỏ. Chúa nói: ai có tai nghe thì nghe. (Mt 13, 43; Mc 7,1 6; Lc 8, 8)

Ước chi ba dụ ngôn Chúa Giêsu kể trong Tin Mừng Chúa nhật này đủ đánh động tâm hồn mỗi người chúng ta để giúp chúng ta nhìn lại đời sống đức tin của mình. Xem thực sự mình có lòng yếu mến Chúa và quyết tâm sống theo đường lối của Người, hay đang chạy theo những vui thú tội lỗi, những ham mê về của cải và danh vọng hư hão trong trần thế này, đến coi nhẹ hay quên mất mục đích tối cao là tìm kiếm Thiên Chúa và hạnh phúc giầu sang của Nước Trời.

Xin Chúa Thánh Linh ban cho ta ơn hiểu biết và khôn ngoan như vua Salômon đã xin Chúa xưa kia để giúp chúng ta biết lựa chọn và sống đức tin cách vững chắc để được gặp Chúa và vui hưởng hạnh phúc vinh cửu trên Nước Trời mai sau.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình





Print this item

Information Chúa Nhật XVI Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 07-20-2017, 11:23 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Lòng Nhân Ái Bao Dung

Lời Chúa hôm nay vừa diễn tả lòng nhân ái của Thiên Chúa, vừa kêu gọi lòng bao dung của con người, nhờ lòng nhân ái của Chúa mà chúng ta không bị trừng phạt khi lỗi lầm; nhờ lòng bao dung của con người mà bớt đi thành kiến xung đột với cuộc sống xung quanh.

Một lần nữa, hình ảnh thửa ruộng lại được Chúa Giêsu sử dụng để chuyển tải giáo huấn của Người. Thửa ruộng vừa có lúa vừa có cỏ lùng, phản ánh cuộc sống thực tế của chúng ta. Quả thực, trên đời này luôn hiện hữu những người tốt và những người chưa tốt. Hơn nữa, trong chính con người của mỗi chúng ta cũng có những hành vi tốt và hành vi xấu. Vì thế, Lời Chúa hôm nay vừa diễn tả lòng nhân ái của Thiên Chúa, vừa kêu gọi lòng bao dung của con người. Bởi lẽ, nhờ lòng nhân ái của Chúa mà chúng ta không bị trừng phạt khi lỗi lầm; nhờ lòng bao dung của con người mà bớt đi thành kiến xung đột với cuộc sống xung quanh.

Thiên Chúa là Đấng nhân ái. Tác giả sách Khôn ngoan đã khẳng định với chúng ta như thế. Ngài cũng là Đấng Độc tôn, tức là không có thần linh nào ngang hàng hay sánh bằng (Bài đọc I). Lòng nhân ái của Thiên Chúa được minh chứng suốt bề dày của lịch sử Cựu ước, cũng là lịch sử nhân loại. Đã nhiều lần Do Thái phạm tội, nhưng Thiên Chúa thương và tha thứ. Nếu Thiên Chúa là Đấng nhân ái, Ngài cũng muốn chúng ta có lòng bao dung đối với nhau. Tác giả sách Khôn ngoan đã chuyển tải đến chúng ta lời Chúa phán: "Chúa đã dạy dân rằng: người công chính phải có lòng nhân ái. Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề, là người có tội được Ngài ban ơn sám hối". Mỗi người sống trên trần gian là một "tiểu vũ trụ", có nghĩa là một thế giới riêng, có nhiều điều dị biệt với người khác. "Tiểu vũ trụ" này có nhiều điều cần khám phá và phải tôn trọng. Một tác giả nào đó đã viết: "Đối với vũ trụ bao la, bạn chỉ là một người nhỏ bé. Nhưng đối với một người, bạn là cả vũ trụ" (Sưu tầm).

Vì khác biệt về sở thích, tính tình hay quan điểm, nên mỗi người cần phải kiên nhẫn, như người chủ ruộng trong Tin Mừng. Chúa Giêsu cho thấy rõ cách sự khác biệt giữa cách hành xử của Thiên Chúa và cách hành xử của con người: con người muốn tru diệt hết những ai mình không hợp không thích; Thiên Chúa lại nhân ái chờ đợi và mong họ sám hối nên hoàn thiện. Trong thế giới của chúng ta, nếu ông chủ vườn không thể làm cho một cây cỏ lùng đổi thay biến thành cây lúa, thì đối với Thiên Chúa, Ngài lại luôn ban cho các tội nhân một cơ hội để họ sám hối trở về. Đó là câu trả lời cho những mắc chúng ta thường thấy: tại sao trên thế giới này vẫn tồn tại những người thất đức? Thiên Chúa cũng là nguyên lý của mọi sự tốt lành. Ngài chỉ gieo lúa vào cuộc đời. Sự xuất hiện của cỏ lùng là do âm mưu của ma quỷ và của con người.

Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta tự vấn lương tâm: tôi là cây lúa hay cây cỏ lùng trong "vườn đời" này? Đừng chủ quan nhận mình là hoàn thiện, nhưng hãy can đảm nhận ra tình trạng thực của mình. Có những lúc chúng ta giống như cỏ lùng, làm mất đi sự hài hòa trong mối tương quan với những người trong một gia đình hoặc trong một cộng đoàn. Có những khi chúng ta đang vô tình gieo vào lòng những người đơn sơ hay trẻ nhỏ những gương xấu, giống như kẻ gieo cỏ lùng lẫn vào ruộng lúa ban đêm.

Thiên Chúa là Đấng nhân ái và thương xót, nhưng Ngài cũng là vị thẩm phán công minh. Có những người cố tình khước từ lòng thương xót của Chúa, mặc dù họ được nghe nói về Ngài. Họ phải lãnh trách nhiệm về sự chọn lựa của mình. Cho đến mùa gặt, tức là lúc sau hết của cuộc đời, có những cây cỏ lùng vẫn cố tình là cỏ lùng mà không chịu biến đổi, lúc đó sẽ bị đốt trong lửa. Cùng mọc lên trên một thửa ruộng, nhưng đáp số cuối cùng của cây lúa và cây cỏ lại khác nhau: lúa nuôi sống người được thu vào lẫm; cỏ vô dụng bị bó lại đốt đi. Đó là hình ảnh diễn tả người công chính và các tội nhân mà chúng ta thường gọi là thiên đàng hay hỏa ngục. Hỏa ngục là nơi vắng bóng Thiên Chúa, không có tình thương. Nơi ấy, chỉ có hận thù khôn nguôi và đau khổ vĩnh viễn.

Trong vườn đời có nhiều lúa và cỏ cùng hiện hữu, người tin Chúa cũng được mời gọi đóng góp phần mình làm cho những người còn lạc xa đường chân lý được tỉnh ngộ và trở về. Hãy giúp họ nhận ra lòng nhân ái của Chúa, qua sự bao dung của mỗi chúng ta. Ngài là Cha yêu thương, luôn chờ đợi các tội nhân trở về, để tha thứ và ban cho họ nghị lực mới. Như thế, thay vì buồn sầu bi quan vì cộng đoàn tín hữu là thiểu số trong một xã hội mênh mông, chúng ta hãy ngẩng cao đầu, vì có Chúa ở với chúng ta. Chúng ta cũng vui mừng tự hào, vì Chúa trao cho chúng ta sứ mạng trở thành muối và ánh sáng cho đời. Thiên Chúa là Đấng kiên nhẫn và bao dung. Chúng ta hãy kiên nhẫn và bao dung như Ngài trong cách đối xử với anh chị em mình.

Xin ơn Chúa Thánh Thần nâng đỡ để chúng ta được ơn trung thành với Chúa và nhất là biết sống theo thánh ý của Ngài. Vâng, đời sống gia đình, những sinh hoạt trong giáo xứ, những mối tương quan nghề nghiệp bạn bè trong cuộc sống đời thường đang là những môi trường để chúng ta thực thi sứ mạng làm men làm muối cho đời. Kể cả lời cầu nguyện của chúng ta cũng rất cần có Chúa Thánh Thần soi sáng, vì Ngài hiểu nỗi lòng và những ước nguyện chính đáng của chúng ta (Bài đọc II).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Tất Cả Là Hồng Ân

Dụ ngôn cỏ lùng là một trong những dụ ngôn hiếm hoi được chính Chúa giải thích rõ ràng. Giải thích của Chúa giúp ta có những hiểu biết hữu ích cho đời sống đạo.

Dụ ngôn nhắc nhớ ta về sư hiện diện của ma quỷ. Ma qui hiện hữu. Chúng luôn có mặt để gieo rắc sự xấu. Chúa đã chuần bị những thửa ruộng tốt. Những thửa ruộng đó là thế giới, là Giáo hội, là tâm hồn mỗi người. Chúa đã gieo những hạt giống tốt. Hạt giống đó là Lời Chúa, là ơn Chúa, là những thiện chí, những ý hướng cao đẹp trong tâm hồn con người. Nhưng ma quỷ lén gieo vào những hạt cỏ xấu.

Chúa gieo vào thế giới hạt giống khát vọng hoà bình. Đẹp biết bao nếu mọi dân tộc nắm tay nhau xây dựng một thế giới huynh đệ tươi thắm tình người. Nhưng buồn thay, cánh đồng hoà bình tươi xanh đã bị những ngọn cỏ tham vọng, ích kỷ, ác độc làm hoen ố. Lịch sự thế giới được ghi bằng những trang buồn vì không ngày nào không có chiến tranh.

Thế giới sẽ đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần xây dựng. Nhưng buồn thay, rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc huỷ hoại, tha hoá, nô lệ hoá con người.

Ngay trong bản thân mỗi người, không thiếu những sáng kiến, những hoạt động ban đầu xem ra tốt đẹp, nhưng dần dà vị vẩn đục vì những biến tướng nặng mùi trần tục như khoe khoang, tìm hư danh, tìm lợi lộc.

Đó là những hạt cỏ xấu ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt.

Tuy nhiên, dụ ngôn cho thấy sự kiên nhẫn và lòng bao dung của Chúa. Chúa đợi cho đến ngày tận thế mới thu lúa cùng với cỏ lùng. Chúa kiên nhẫn đợi chờ vì hi vọng những người tội lỗi ăn năn sám hối. Chúa bao dung tha thứ không nỡ phạt người tội lỗi tức khắc. Chúa yêu thương, tin tưởng người xấu sẽ có ngày nên tốt. Nếu phạt ngay nhưng người tội lỗi thì ta đâu còn cơ may được chiêm ngưỡng ông thánh trộm lành. Nếu Chúa thẳng tay thì ta đâu có thánh nữ Madalêna, Tông đồ của các Tông đồ, thánh Augustinô, Tiến sĩ lừng danh, thánh Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại. Nếu Chúa chấp tội thì bản thân ta sẽ là người bị phạt đầu tiên, vì trong ta cũng đầy những tội lỗi, những sự xấu. Trong tâm hồn ta cỏ lùng vẫn mọc xen với lúa tốt.

Sau cùng, dụ ngôn cho ta hiểu tất cả là hồng ân của Chúa. Có sự lành để ta hiểu biết và yêu mến sự tốt lành của Thiên Chúa. Có sự dữ để ta gớm ghét tránh xa và càng thêm gắn bó với sự lành. Có sự lành để ta được hưởng niềm an ủi ngọt ngào của Chúa. Có sự dữ để ta phấn đấu vượt qua, chứng minh lòng trung tín của ta với Chúa. Có thuận lợi tiến bước trên đường thánh thiện. Có khó khăn để ta rèn luyện thêm đức.

Mọi sự đều nên tốt cho kẻ lành. Thật vậy, việc cấm đạo là sự dữ. Nhưng nhờ đó mà Giáo hội có được những chứng nhân anh hùng. Đau khổ và bệnh tật là những khiếm khuyết trong cuộc sống, nhưng lại giúp con người được thông phần đau khổ với Chúa. Thánh Nữ Têrêsa đã nhìn thấy tất cả là hồng ân của Chúa. Sự lành cũng như sự dữ. Hạnh phúc cũng như đau khổ. Thành công cũng như thất bại. Tất cả đều góp phần rèn luyện, vun đắp và thăng tiến người lành.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Khi gặp những người xấu trong xứ đạo, trong hội đoàn, bạn có muốn khai trừ người đó ngay tức khắc không?
  2. Trong con người bạn có những khuyết điểm, những bệnh tật, bạn có phấn đấu khắc phục những khuyết điểm, vượt qua bệnh tật để thăng tiến bản thân không?
  3. Chúa đã khoan dung, kiên nhẫn đợi chờ bạn ăn năn hối cải. Bạn có biết kiên nhẫn với người khác?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình

Print this item

Information Chúa Nhật XV Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 07-14-2017, 07:31 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Mảnh Đất Tâm Hồn

Tâm hồn mỗi người là một mảnh đất để Lời Chúa gieo vào. Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta tự vấn lương tâm: chúng ta là mảnh đất như thế nào? Chúng ta có sẵn sàng đón nhận hạt giống Lời Chúa, đồng thời cộng tác để hạt giống ấy mọc lên, sinh hoa kết trái?

Chúng ta thường dùng biết bao những lời hay ý đẹp để diễn tả ý nghĩa Lời Chúa, nhất là qua những bài thánh ca. Tuy vậy, trong thực tế, ít khi chúng ta đọc Lời Chúa một cách nghiêm túc. Đối với khá nhiều Kitô hữu, việc nghe Lời Chúa và thực hành Lời Chúa tách rời nhau. Nói cách khác, họ thường xuyên nghe Lời Chúa, nhưng lại không chú tâm thực hiện những lời mà họ nghe. Phụng vụ hôm nay giúp chúng ta suy tư về cách thức sống Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

Ý nghĩa của dụ ngôn về người gieo giống đã được chính Chúa Giêsu giải thích cho các môn đệ trong phần sau của Tin Mừng được đọc trong thánh lễ Chúa nhật. Lời Hằng Sống được gieo một cách quảng đại vào lòng con người bằng nhiều cách thức khác nhau. Có những người giữ được Lời ấy, nhưng cũng có những người vô tình đánh mất. Dù có nhiều người chối từ, Thiên Chúa vẫn luôn quảng đại gieo hạt giống là Lời của Ngài trong mọi nền văn hóa, mọi thời đại, mọi lứa tuổi, mọi tôn giáo. Nội dung Lời Chúa là lời mời gọi thực hành đức yêu thương, tôn trọng phẩm giá của con người. Giữa cuộc đời nhiễu nhương, đầy bon chen tính toán, Lời Chúa có những lúc bị bóp nghẹt. Con người dễ ngả theo những gì ồn ào, náo nhiệt và hấp dẫn. Vì thế, họ thường chọn lựa lời của thế gian mà lãng quên Lời Hằng Sống.

Chúa Giêsu là người gieo giống. Người đã đến gieo vào lòng người những chỉ dẫn để họ đạt tới sự hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng Hoàn Thiện. Chúa Giêsu cũng là Hạt Giống mà Chúa Cha đã gieo vào trần gian, vì Người là Lời của Chúa Cha. Khi sai Ngôi Lời đến trần gian, Chúa muốn cho nhân loại được thấm nhuần giáo huấn của Người, như mưa làm cho đất đai phì nhiêu và đâm chồi nảy lộc, nhờ đó mà con người cũng như mọi tạo vật được sống động và phát triển (Bài đọc I). Chúa Giêsu là nguyên lý của hạnh phúc, ân sủng và bình an. Ai đón nhận Người thì sẽ tìm được định hướng cho đời mình và sẽ được hạnh phúc.

Tâm hồn mỗi người là một mảnh đất để Lời Chúa gieo vào. Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta tự vấn lương tâm: chúng ta là mảnh đất như thế nào? Chúng ta có sẵn sàng đón nhận hạt giống Lời Chúa, đồng thời cộng tác để hạt giống ấy mọc lên, sinh hoa kết trái? Có bốn loại đất được Đức Giêsu nhắc tới. Thực ra, bốn loại đất ấy đang hòa quyện và tồn tại trong mỗi chúng ta. Tâm hồn chúng ta đã có những lúc đầy sỏi đá, đầy gai góc, hoặc chai lỳ như đất bên vệ đường. Thật may mắn, có những lúc tâm hồn chúng ta giống như mảnh đất tốt, nhiệt thành đón nhận Lời Chúa. Khi ấy, chúng ta sẽ cảm nghiệm được niềm vui thiêng liêng, vì Lời Chúa đang sinh hoa kết trái trong tâm hồn và cuộc đời chúng ta. Ơn gọi nên thánh của người Kitô hữu nhắc bảo chúng ta: hãy giữ cho tâm hồn mình mãi mãi là mảnh đất tốt, nhờ đó, một khi hạt giống Lời Chúa được gieo vào, sẽ sinh lợi gấp trăm.

Những ai nhiệt thành đón nhận hạt giống Lời Chúa, sẽ được Ngài giải thoát khỏi mọi bất hạnh, tha thứ mọi tội lỗi và là bảo chứng cho hạnh phúc đời đời. Thánh Phaolô đã khẳng định với chúng ta như thế. Cùng với muôn tạo vật, chúng ta đang rên siết, ngóng trông sự giải thoát đến từ Thiên Chúa (Bài đọc II). Chính Lời Chúa soi sáng và đưa chúng ta ra khỏi ngục tù của ích kỷ và hận thù. Lời Chúa cũng nối kết con người với nhau trong tình huynh đệ bác ái.

Mỗi tín hữu được mời gọi trở nên một mảnh đất tốt. Mỗi tín hữu cũng được trao phó trách nhiệm trở nên những người gieo giống trong cuộc đời hôm nay. Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi mọi thành phần trong Giáo Hội hãy đóng góp phần mình cho công cuộc Tân-Phúc-âm hóa. Hãy trình bày Phúc âm cho con người của thời đại. Sự mới mẻ là lời mời gọi chúng ta trước hết sống và cảm nghiệm sứ điệp Tin Mừng và chia sẻ sứ điệp ấy. Việc chia sẻ này không đơn thuần là lặp lại các lời của Tin Mừng, mà bằng hoa quả của việc gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh trong những lời ấy và ảnh hưởng của Người trong cuộc sống của mình. Chúng ta chỉ có thể trở nên người gieo giống đúng nghĩa, khi chính chúng ta đã là mảnh đất phì nhiêu. Việc loan báo Lời Chúa chỉ đem lại những kết quả, khi người loan báo là người sống Lời Chúa.

Chúa Giêsu gọi chúng ta là những người có phúc, vì được nghe Lời Hằng Sống. Trong Tin Mừng Chúa nhật tuần trước (CN 14), Chúa Giêsu cảm tạ Chúa Cha, vì Chúa Cha đã mặc khải Nước Trời cho những người bé mọn. Ngài không mạc khải cho Nước Trời cho những người hiền triết và khôn ngoan. Nói đúng hơn, Ngài không mạc khải cho những ai tự cho mình là khôn ngoan và hiền triết. Vì tâm hồn họ đã đầy những tham vọng và đam mê, không còn chỗ để đón Chúa đến. Chúng ta có phúc vì được đón nhận Lời Chúa, nhưng chúng ta còn có phúc hơn, nếu chúng ta biết đem Lời Chúa cho mọi người và làm cho Lời ấy tỏa lan hương thơm thánh thiện trong cuộc sống hôm nay. Đức Thánh Cha Phanxicô lưu ý chúng ta: "Hân hoan loan báo Tin Mừng trở thành cái đẹp của Phục vụ, như một phần mối quan tâm hàng ngày của chúng ta trong việc làm lan tỏa lòng nhân hậu" (Niềm vui Tin Mừng, số 24).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Tâm Tình Người Đi Gieo

Bài dụ ngôn thật đẹp. Đẹp về hình ảnh phong phú. Đẹp về ý nghĩa sâu xa. Nhưng đẹp nhất vẫn là thái độ của người đi gieo. Người đi gieo đã có thái độ vừa hào phóng vừa kiên trì, vừa hy vọng vừa yêu thương.

Người đi gieo đã gieo một cách hào phóng. Hãy nhìn kìa: ông vốc từng vốc lớn hạt giống và rộng tay vung vãi. Ông gieo không tiếc xót. Ông gieo không tính toán. Ông gieo không loại trừ. Những mảnh đất phì nhiêu màu mỡ nhận được hạt giống đã đành. Cả đến những mảnh đất sỏi đá, gai góc cũng được hưởng ơn mưa móc. Cả đến lối mòn có bước chân người cũng không bị lãng quên. Người đi gieo không bỏ rơi một mảnh đất nào, một ngõ ngách nào. Ông muốn cho hạt giống được gieo vãi khắp chốn.

Người đi gieo đã gieo một cách kiên trì, ông gieo bất kể ngày đêm. Ông gieo bất kể mưa nắng. Ông gieo bất kể những thất bại. Đợt gieo giống đầu tiên đã thất bại vì chim chóc tha đi, ông liền gieo tiếp đợt hai. Bị sỏi đá nắng hạn, cây lúa mất mùa, ông lại đi gieo tiếp đợt thứ ba. Bị gai góc bóp nghẹt, cây lúa bị lụi tàn, ông vẫn không nản, cứ gieo đợt thứ tư. Ông đúng là người đi gieo hạt không biết mỏi mệt.

Người đi gieo đã gieo trong niềm hy vọng. Niềm hy vọng của ông thật lớn lao. Chính với niềm hy vọng ấy, ông đã dám đầu tư tất cả tiền bạc, sức khỏe, thời giờ vào việc gieo hạt. Chính niềm hy vọng ấy đã giúp ông đủ sức mạnh vượt qua những khó khăn, đứng vững trước những thất bại. Vì hy vọng, ông gieo cả trên lối đi, trên đá sỏi, trong cỏ gai. Ông tin rằng có gieo thì có gặt. Chính niềm hy vọng ấy đã giúp ông kiên trì và sau cùng đi đến thành công.

Người đi gieo đã gieo trong tình thương yêu. Tình thương yêu của ông dạt dào lắm. Nên ông đã không ngại hao tốn tiền của, tâm trí, sức lực. Tình thương ấy bao la lắm. Nên ông động lòng thương đến cả những mảnh đất chai cứng, đá sỏi, gai góc. Tình yêu thương ấy mãnh liệt lắm. Nên ông mong sẽ cảm hoá được cả gai góc, sỏi đá, biến chúng thành đất màu mỡ phì nhiêu. Ông đã có thể chỉ chọn đất tốt mà gieo. Nhưng tình thương yêu mãnh liệt không cho phép ông làm thế. Vì ông không muốn loại trừ những miền đất chai cứng chứa đầy sỏi đá, cỏ gai.

Người đi gieo chính là Thiên Chúa hiện thân trong Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã gieo trong yêu thương. Yêu thương đến độ chính Người lại trở nên một hạt giống,chịu vùi chôn, chịu mục nát để biến cải những mảnh ruộng gai góc, sỏi đá thành màu mỡ phì nhiêu, mong một mùa gặt đầy những bông lúa chín vàng trĩu nặng.

Thiên Chúa là người đi gieo không biết mệt mỏi. Chúa Giêsu là người đi gieo say mê đến quên chính cả bản thân mình. Người muốn cho các môn đệ của Người tiếp tục công việc gieo Tin Mừng đi khắp mọi nơi.

Hôm nay Người muốn ta gieo một cách hào phóng. Hãy gieo không xẻn xo. Hãy gieo không tính toán. Hãy gieo không loại trừ. Hãy biết dùng mọi phương tiện hiện đại nhất để chuyên chở Tin Mừng. Hãy đem Tin Mừng tới mọi lãnh vực của đời sống. Hãy đem Tin Mừng tới tất cả mọi hạng người không loại trừ một ai.

Người cũng muốn ta kiên trì gieo hạt Tin Mừng. Hãy kiên trì như thánh Phaolô, cứ gieo dù gặp “thời thuận lợi hay không thuận lợi”. Hãy cứ gieo dù đá sỏi, chông gai. Hãy cứ gieo dù những thất bại, nhọc nhằn.

Nhưng điều Người mong chờ nhất là các môn đệ của Người hãy đi gieo yêu thương. Yêu thương không chỉ những mảnh đất phì nhiêu, nhưng yêu thương cả những mảnh đất sỏi đá, gai góc. Yêu thương không chỉ những người mình thương và những người thương mình mà còn yêu thương cả những người không ưa mình và mình không ưa: vì một tình yêu thương đích thực thì không loại trừ ai. Chỉ có tình yêu thương mãnh liệt như thế mới cảm hoá được cỏ gai, làm mềm được đá sỏi, biến tất cả thành màu mỡ phì nhiêu.

Đáp lời Chúa mời gọi, biết bao lớp người đã hăng hái ra đi gieo Tin Mừng tại vùng đất Lạng Sơn này.

Trong số đó phải kể đến Đức cố Giám mục Vinh Sơn Phaolô của chúng ta. Người đã là một người đi gieo không biết mệt mỏi. Qua bao ngày tháng, Ngài vẫn kiên trì không bao giờ chồn chân mỏi gối. Hôm nay Ngài đã trở thành một hạt giống vùi sâu trong lòng đất. Hạt giống ấy, tình thương ấy, sẽ làm mềm sỏi đá, hứa hẹn cho ta một mùa gặt bội thu.

Ta cũng không thể nào quên được công ơn của Đức Hồng Y Phaolô Giuse, cũng là một người đi gieo không biết mệt mỏi. Dù tuổi cao sức yếu với gánh nặng của Giáo phận Hà Nội và của Giáo hội Việt Nam, Ngài vẫn sẵn sàng ghé vai gánh đỡ Lạng Sơn trong những lúc cần thiết. Ngài đã gieo mồ hôi nước mắt làm phì nhiêu cánh đồng này. Công khó ấy chắc chắn sẽ góp phần rất lớn cho một mùa gặt mai sau.

Hôm nay, Chúa gởi tôi đến cánh đồng Lạng Sơn này. Lạng Sơn là quê hương tôi. Anh chị em đã đón nhận tôi như đón một người thân. Chúng ta thuộc về một gia đình. Hôm nay Chúa mời gọi tất cả chúng ta vào làm việc trong cánh đồng của Chúa. Chúng ta hãy hăng hái bắt tay vào việc đi gieo Lời Chúa. Hãy noi gương Chúa Giêsu, hào phóng, gieo kiên trì, gieo hy vọng và nhất là hãy gieo yêu thương. Gieo gì gặt nấy. Nếu ta gieo bác ái chắc chắn ta sẽ gặt được yêu thương, một mùa yêu thương tràn ngập trên núi đồi Lạng sơn – Cao bằng này.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Thiên Chúa không ngừng gieo Lời Chúa vào tâm hồn bạn. Bạn đã đón nhận Lời Chúa thế nào?
  2. Thái độ của người đi gieo cho bạn cảm nghiệm gì về Thiên Chúa?
  3. Chúa mời gọi bạn đi gieo Tin Mừng. Bạn phải có thái độ nào?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình





Print this item

Information Chúa Nhật XIV Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 07-07-2017, 04:58 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Hãy Đến Với Tôi

"Hãy đến cùng Ta, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề!". Chúa Giêsu hiểu thấu những gian truân của thân phận con người. Người muốn đồng hành với họ để nâng đỡ họ trong hành trình trần gian.

Giữa biển đời đầy sóng gió ba đào, lời mời gọi "Hãy đến với Tôi" của Chúa Giêsu giúp chúng ta vững tin, nhờ đó ta có thêm can đảm nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Bởi lẽ, có những lúc chúng ta cảm thấy đang đứng trước ngõ cụt của cuộc đời mà không tìm được lối thoát. Chúa Giêsu chính là niềm hy vọng và yên ủi cho những ai đang đau khổ và bế tắc trên đường đời. Hãy đến với Người. Người đang chờ đợi chúng ta.

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Không chỉ gồm những tâm tình thân thưa với Chúa Cha, lời cầu nguyện này còn nhằm mạc khải, soi sáng cho các môn đệ về sứ mạng thiên sai của Người. Người từ Chúa Cha mà đến, nên biết rõ Chúa Cha, cũng như biết rõ thánh ý của Ngài. Khi khẳng định những điều này, Chúa Giêsu cũng muốn giúp các môn đệ kiên vững lòng tin, để rồi, những lúc đối diện với khó khăn thử thách, các ông không ngã lòng.

Nếu chúng ta được mời gọi đến với Chúa, là vì trước hết Người đã đến với chúng ta. Lịch sử Cứu độ đã chứng minh Thiên Chúa chủ động đến với con người để can thiệp và giải thoát họ. Cuộc gặp gỡ với ông Môisen trong sách Xuất Hành đã chứng minh điều đó. Chúa nói với ông: "Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của Dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than, vì bọn cai hành hạ. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật..." (Xh 3, 7–8).

Mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời là bằng chứng của tình thương Thiên Chúa và việc Ngài chủ động đến với con người. Đức Giêsu khiêm nhường hạ mình mang lấy thân phận con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Thiên Chúa không còn chỉ ở trên cao, mà "hạ giới" làm người để gặp gỡ những mảnh đời bất hạnh. Người là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta".

Vì Thiên Chúa hiện diện với chúng ta, nên ngôn sứ Dacaria mời gọi chúng ta hãy vui lên. Ngôn sứ đã nhắc tới hình ảnh rất sinh động và bình dân, đó là các thiếu nữ Sion, trong trang phục truyền thống, múa nhảy reo hò chạy ra đón Đức Vua (Bài đọc I). Đây là ngày hội tưng bừng cho cả toàn dân. Đức tin Kitô giáo phải luôn diễn tả niềm vui và tinh thần của lễ hội, bởi lẽ Chúa hiện diện giữa chúng ta. Đó là niềm vui cao cả và tuyệt vời nhất. Tiếc thay, có nhiều người không cảm nghiệm được niềm vui này, nên cuộc đời của họ luôn âu sầu buồn bã.

Chúa đang hiện giữa giữa chúng ta, và Ngài mời gọi chúng ta đến với Ngài. "Hãy đến với Tôi". Đó vừa là lời diễn tả sự gần gũi thân tình, vừa là lời khích lệ những ai còn sợ sệt vì thấy mình bất xứng. Lịch sử ghi nhận biết bao người đã đến với Chúa và gánh nặng cuộc đời của họ đã trở nên êm ái nhẹ nhàng hơn. Đến với Chúa, họ vừa được tha thứ tội lỗi, vừa có sức mạnh vươn lên làm lại cuộc đời.

Hãy đến với Chúa để học sự khiêm nhường. Chúa Giêsu là bậc thày. Người dạy chúng ta về sự khiêm nhường. Cuộc đời và giáo huấn của Chúa luôn thể hiện nhân đức khiêm nhường. Vì khiêm nhường mà Chúa đã hạ mình làm người. Vì khiêm nhường mà Chúa đến với mọi người đau khổ. Vì khiêm nhường mà Chúa đã chết trên thập giá. Chúa dạy chúng ta hãy học dưới mái trường của Người, để sống khiêm tốn, hy sinh, vì tha nhân và vì công ích. Sống khiêm nhường hạ mình sẽ giúp chúng ta thanh thản vui tươi hơn, nhờ đó cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn.

"Hãy đến cùng Ta, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề!". Chúa Giêsu hiểu thấu những gian truân của thân phận con người. Người muốn đồng hành với họ để nâng đỡ họ trong hành trình trần gian. Khi được thụ giáo tại ngôi trường của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ nên giống như Người đến nỗi trở thành đồng hình đồng dạng với Người. Hãy đến với Chúa Giêsu để được Người giáo huấn và dẫn đưa về cùng Chúa Cha. Bởi lẽ Người từ Chúa Cha mà đến. Người còn là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Đến với Chúa Cha để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, đó cũng là đích điểm của cuộc sống chúng ta.

Đến với Chúa là một hành trình liên lỉ lâu dài. Trên hành trình này, có những cám dỗ cam go. Thánh Phaolô đã gọi đó là sự giao tranh giữa Thần Khí và tính xác thịt. Ai thiện chí sống theo Thần Khí thì sẽ chiến thắng mọi cám dỗ, trở nên hoàn thiện, diệt trừ được con người ích kỷ, sống đời sống mới trong Chúa Giêsu Kitô (Bài đọc II). Lối sống theo xác thịt luôn mang nhiều màu sắc lấp lánh hấp dẫn. Nó dễ làm cho chúng ta ảo tưởng lầm lạc. Xin Thần Khí Chúa soi sáng và hướng dẫn chúng ta biết khôn ngoan chọn lựa những gì đem lại ích lợi lâu bền, vĩnh cửu. Amen

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Khiêm Nhường

Chúng ta thường tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, phép tắc vô cùng. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, ta thường nghĩ đến một Thiên Chúa oai nghi bệ vệ, cao sang quyền thế, xa cách. Ta không nghĩ hay không dám nghĩ rằng Thiên Chúa thật rất khiêm nhường. Thực sự Thiên Chúa rất khiêm nhường.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa ẩn mình trong vô hình. Ở đời, một người quyền thế chiếm rất nhiều không gian của người khác. Người quyền thế ở nhà lớn, ngồi ghế rộng. Sự hiện diện của họ khiến mọi người khép nép, nói năng mất tự nhiên, đi đứng phải nhìn trước nhìn sau. Nếu bây giờ Thiên Chúa hiện hình đứng giữa chúng ta. Chắc hẳn chúng ta chẳng thể ngồi thoải mái như bây giờ. Trái lại chúng ta sẽ quì sụp xuống, gục đầu, đấm ngực ăn năn. Nhưng Thiên Chúa đã che giấu dung nhan. Người ẩn mình trong vô hình để cho ta được tự do. Người nhường không gian cho con người. Người tự trở nên một Đấng nghèo hèn, bé nhỏ đến độ bị người đời quên lãng.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa im lặng. Trong xã hội, người uy quyền thường nói nhiều. Người nhỏ phải nghe người lớn, người nhỏ có muốn nói cũng bị tiếng người lớn át đi. Thiên Chúa đã tự trở nên bé nhỏ. Người im lặng nhường lời cho con người. Người lắng nghe con người cả khi họ chỉ trích, chống đối, lên án Người. Người trở nên một Đấng bé nhỏ nghèo hèn, khép nép, im lặng trong thế giới ồn ào của loài người.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa đã cúi xuống thân phận con người. Con người chẳng là gì mà Chúa vẫn thương. Người còn cúi xuống sâu hơn nữa trước những kẻ tội lỗi để nâng họ lên. Khi người ta cúi xuống trước một kẻ cao trọng, sự khiêm nhường ấy đáng nghi ngờ. Nhưng khi người ta cúi xuống trước một thân phận tội lỗi, nghèo hèn, sự khiêm nhường ấy rất chân thực.

Chính sự khiêm nhường thẳm sâu làm chứng quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Thông thường ở đời, quyền năng là để chiến thắng, để chế ngự, để đè bẹp. Ai chống lại quyền lực, quyền lực sẽ nghiền nát người ấy. Trái lại, nơi Thiên Chúa, quyền năng là để chịu thua, để yêu thương, để tha thứ. Sức mạnh không ở nơi quyền lực. Quyền lực bộc phát là quyền lực không tự kiềm chế được. Trái lại, khiêm nhường là chế ngự được sức mạnh của mình. Đó mới chính là quyền năng thực sự mạnh mẽ.

Thiên Chúa vô hình. Có lẽ ta sẽ khó mà hiểu biết sự khiêm nhường của Thiên Chúa, nếu ta không nhìn thấy sự khiêm nhường của Chúa Giêsu.

Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc đời khiêm nhường. Vì khiêm nhường nên Ngài không ngừng đi xuống. Từ trời cao Người đã hạ mình xuống thế. Từ thân phận là Thiên Chúa Người đã hạ mình xuống làm một người bình thường. Là Thiên Chúa cao sang, Người đã tự nguyện xuống làm một người dân dã nghèo hèn. Là thánh thiện vô cùng, Người đã tự nhận lấy thân phận tội đồ. Là Đấng hằng sống, Người đã tự nguyện chết đi. Suốt cuộc đời, Người đã không ngừng cúi xuống những thân phận tăm tối, nghèo hèn, tội lỗi, bị loại trừ. Và một cử chỉ không thể nào quên là trong bữa tiệc ly, Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người đã hạ mình xuống tận cùng, không còn có thể xuống hơn được nữa.

Vì Thiên Chúa khiêm nhường luôn tìm đường đi xuống, nên những ai kiêu căng tìm nâng mình lên sẽ chẳng bao giờ gặp được Người. Thiên Chúa khiêm nhường nên chỉ ai khiêm nhường nhỏ bé mới gặp được Người.

Hôm nay Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: "Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng". Hãy ghi danh vào học trường Chúa Giêsu. Hãy học bài học khiêm nhường. Hãy học bài học Giêsu. Hãy học với Thầy Giêsu. Hãy bước theo Thầy Giêsu xuống những bậc thang khiêm nhường thẳm sâu. Ở bậc thang cuối cùng, Thiên Chúa đang chờ đợi ta, ta sẽ gặp được Người. Ta sẽ kết hiệp với Người. Ta sẽ rũ sạch mọi vất vả lo âu. Ta sẽ được bình an.

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Xin uốn lòng con nên giống như trái tim Chúa. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Những dấu nào cho thấy sự khiêm nhường của Chúa?
  2. Có quyền ăn nói, nhưng im lặng nhường lời cho người khác. Có vị thế cao, nhưng ẩn mình nhường chỗ cho người khác. Có dễ không?
  3. Sức mạnh bùng nổ trên người khác. Và sức mạnh chế ngự chính mình. Đàng nào mạnh hơn?
  4. Thiên Chúa tuyệt đối khiêm nhường. Khám phá này có tác động gì trên bạn không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình





Print this item

Information Chúa Nhật XIII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 06-30-2017, 06:15 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Sống Có Ý Nghĩa

Vậy, thế nào là sống có ý nghĩa? Chúa Giêsu dạy chúng ta: đó là biết cho đi và biết sống vì người khác.

Mặc dù có nhiều quan niệm và cách sống khác nhau, tất cả mọi người đều mong ước một cuộc sống có ý nghĩa. Quả vậy, chúng ta sống trên đời có một lần, nên phải sống sao cho cuộc sống tốt đẹp, đem lại hạnh phúc cho bản thân và để lại cho hậu thế một tấm gương soi. Những vấp ngã và thất bại trên đường đời, là những bài học đắt giá, phải giúp chúng ta gượng dậy, đứng lên và tiếp bước trong đời. Lời Chúa hôm nay đưa ra những hướng dẫn giúp chúng ta sống có ý nghĩa.

Có người đặt lý tưởng cuộc sống ở sự sung túc vật chất. Tuy vậy, khi họ đạt được những điều họ mong muốn như nhà cửa, tiện nghi sang trọng, họ vẫn chưa thấy toại nguyện và muốn có thêm nữa. Cốt lõi của cuộc sống không hệ tại ở sự dư dả vật chất.

Có người đặt lý tưởng cuộc sống ở sự thành đạt. Khi đã có nhiều chức tước bổng lộc, người ấy lại không bằng lòng, lại muốn leo cao hơn trong bậc thang xã hội, rồi đấu đá loại trừ nhau một cách tàn ác. Bổng lộc danh vọng không nhất thiết đem cho con người niềm vui.

Có người đặt lý tưởng cuộc đời ở những hoạt động sôi nổi. Họ đi nam về bắc, trong nước cũng như ngoài nước, suốt ngày hoạt động bận rộn, không còn thời gian để hồi tâm. Một lúc nào đó, họ giật mình và thấy bản thân không khác gì một chiếc máy hiện đại, nhưng vô hồn. Một cuộc sống thuần túy chỉ gồm những hoạt động sôi nổi bề ngoài có nguy cơ làm chúng ta đánh mất chính mình.

Vậy, thế nào là sống có ý nghĩa? Chúa Giêsu dạy chúng ta: đó là biết cho đi và biết sống vì người khác. Sự hy sinh hiến mình vì tha nhân được Đức Giêsu gọi là hành trình vác thập giá. Bởi lẽ, Chúa Giêsu đã vác thập giá và đã chịu chết trên cây thập giá vì yêu thương và vì hạnh phúc của nhân loại. Ngày hôm nay, người tín hữu được mời gọi tiếp bước Chúa Giêsu, vác thập giá đời mình theo Chúa.

Như vậy, điều quan trọng của cuộc sống là xây dựng mối tương quan với Chúa và với anh chị em. Đối với những người đặt lý tưởng cuộc sống ở vật chất, bổng lộc, và hoạt động vừa nêu trên đây, họ quên lãng những người xung quanh. Trong khi nai lưng tìm kiếm những giá trị vật chất, họ quên kết nối tình nghĩa vợ chồng, con cái, bạn bè đồng nghiệp và huynh đệ gia đình. Và như thế, một khi đạt được những tiêu chí vật chất mà họ tìm kiếm thì họ lại mất tất cả. Đời sống của họ trở nên trống rỗng và vô nghĩa.

Việc theo Chúa đòi phải hy sinh đến mức "từ bỏ", hoặc "ghét" cha mẹ là người đã sinh ra mình. Những lời này có vẻ thiếu nhân bản và khó chấp nhận. Tuy vậy, nếu chúng ta suy tư trong toàn bộ giáo huấn của Chúa, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa thông điệp mà Chúa muốn nhắn gửi chúng ta. Bởi lẽ, theo Chúa Giêsu phải dẫn tới những hành động cụ thể qua những nghĩa cử bác ái dành cho tha nhân. Vậy, trong số những tha nhân này, có cả cha mẹ, anh chị em, họ hàng, và những người đồng loại. Nói cách khác, những môn đệ của Chúa Giêsu, nếu có "từ bỏ" cha mẹ và anh chị em, thì để yêu mến họ một cách thức khác, với trái tim luôn rộng mở chân thành, như trái tim của Chúa và với tâm tình của Ngài.

Sự giúp đỡ người khác, dù đơn giản như một bát nước lã, cũng đáng được Chúa ghi nhận và thưởng công. Điều này nhắc lại bài Tin Mừng Chúa nhật trước (Chúa Nhật 12 TN): hai con chim sẻ chẳng đáng giá là bao mà Chúa còn quan tâm biết đến; sợi tóc trên đầu chẳng ai để ý mà Chúa còn đếm tường tận từng sợi.

Sự hy sinh để theo Chúa và giúp đỡ tha nhân không rơi vào quên lãng, trái lại được Chúa thưởng gấp bội. Chúa Giêsu đã diễn tả rõ ràng: ai đón tiếp Chúa, là đón tiếp Chúa Cha; ai đón tiếp người khác thì chính mình sẽ được đón tiếp; ai giúp đỡ tha nhân thì chính mình cũng sẽ được người khác giúp đỡ. Người đời thường nói "có vay có trả" hoặc "gieo nhân gặt quả". Chúa khẳng định với chúng ta, không phải đợi đến đời sau, nhưng những việc tốt lành chúng ta thực hiện sẽ làm cho cuộc sống hôm nay thêm phong phú ý nghĩa. Đó cũng là những phần thưởng mà chúng ta sẽ được lãnh nhận cho cuộc sống đời đời. Nhờ lời cầu nguyện của Ngôn sứ Elisê, Chúa đã ban cho chủ nhà, là một cặp vợ chồng đã cao niên được sinh con. Đó chính là phần thưởng Chúa ban cho một người mở rộng cửa nhà mình để quảng đại đón tiếp người của Thiên Chúa (Bài đọc I).

"Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy". "Vác thập giá", đó chính là con đường chúng ta đang đi. Đó chính là những biến cố đang xảy đến trong cuộc sống hằng ngày. Đó cũng là niềm vui nỗi buồn hòa quyện trong cuộc sống để làm nên những lời tôn vinh Thiên Chúa, khi chúng ta đón nhận những biến cố ấy với tâm tình của Đức Giêsu, cũng như Đức Giêsu đã cùng thập giá để tôn vinh Chúa Cha. Thánh Phaolô đã gọi những hy sinh của người tín hữu là « chết đi cùng với Đức Kitô » (Bài đọc II). Đây là cốt lõi Đức tin của người Công giáo: những ai cùng chết với Chúa Kitô sẽ được sống lại với Người. Mỗi ngày, chúng ta được mời gọi sống ơn gọi của Bí tích Thanh Tẩy, tức là chấp nhận để cho những nết xấu chết dần trong ta và để ơn sủng của Chúa lớn mãi trong tâm hồn.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Người Môn Đệ Đức Kitô

Chuẩn bị nhân sự tiếp nối công việc truyền giáo ở trần gian, Chúa Giêsu đã tuyển chọn các môn đệ. Tuyển chọn rồi Chúa còn đào tạo để các ngài nên những chứng nhân trung thành của Chúa. Hôm nay, Chúa nêu lên những đức tính cần thiết của người môn đệ.

Người môn đệ của Chúa phải có tâm hồn quảng đại.

Tiên tri Elisêô đã hào phóng đối với gia đình tiếp đón Ngài. Tiên tri là hình ảnh đẹp về các môn đệ của Chúa. Người môn đệ là đại diện cho Đấng sai mình. Người đại diện tốt phải là người trình bày được dung mạo của Đấng sai mình. Chúa Giêsu, Đấng sai ta là người vô cùng rộng lượng. Người đến trần gian không phải để thu tích mà để ban phát. Trọn cuộc đời, Người ban phát không biết mệt mỏi. Người đến không phải để xét xử, luận phạt, nhưng để tha thứ. Người tha thứ một cách dễ dàng cho tất cả những tội nhân đến với Người. Người đến không phải để giết chết, nhưng là để cứu chữa. Người đến cho ta được sống và sống dồi dào. Người môn đệ của Chúa cũng phải có tâm hồn quảng đại, rộng lượng, bao dung như Chúa.

Người môn đệ của Chúa phải sống khiêm nhường.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu gọi các môn đệ là những người bé mọn. Chống lại những thói kiêu căng, phô trương, Chúa Giêsu luôn thao thức sao cho các môn đệ của Người trở nên bé nhỏ, khiêm nhường. Bé nhỏ trong tâm tình đạo đức để phó thác mọi sự trong tay Cha. Bé nhỏ về của cải, đừng mang "hai áo, mang theo túi tiền". Bé nhỏ trong cách cư xử với nhau, đừng tranh giành chỗ nhất, nhưng hãy chọn chỗ chót. Bé nhỏ để quỳ xuống phục vụ: "như Thầy đã rửa chân cho các con, các con hãy rữa chân cho nhau". Bé nhỏ để sau khi làm mọi việc rồi, hãy nhận mình là "tôi tớ vô duyên bất tài".

Người môn đệ của Chúa phải biết tập trung vào Chúa Kitô.

Người môn đệ là người chọn Chúa Kitô làm lý tưởng. Người môn đệ cũng là người đi làm chứng về Chúa Kitô. Vì thế mọi lời ăn tiếng nói, cả đến tâm tư tình cảm phải qui hướng về Chúa Kitô. Chúa Kitô phải chiếm vị trí ưu việt trong tâm hồn người môn đệ. Nói thế không có nghĩa là người môn đệ chối bỏ mọi tình cảm chính đáng, dứt lìa những mối liên hệ gia đình. Nhưng có nghĩa là từ nay người môn đệ có yêu thương ai thì cũng là yêu thương trong tình yêu của Chúa Kitô và bằng tình yêu của Chúa Kitô.

Người môn đệ của Chúa sống cho Chúa và chết cho Chúa.

Chúa Giêsu không sống vì mình và cho mình. Người luôn sống vì và cho người khác. Người sống vì Chúa Cha và cho Chúa Cha. Nên mọi việc Người làm đều vì Chúa Cha và cho Chúa Cha. Người là tình yêu hoàn hảo dâng tặng Chúa Cha. Nên Người đã "vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá". Người sống vì con người và cho con người. Nên người đã ban tặng chính sự sống của Người cho nhân loại, đã hiến mạng sống làm giá cứu chuộc nhân loại.

Nên thánh Phalô khuyên người môn đệ của Chúa hãy bắt chước Chúa mà chịu phép rửa trong sự chết của Chúa Kitô. Hãy yêu mến, sống cho Chúa và chết cho Chúa. Chắc chắn ta không chết một lần, nhưng sẽ chết dần mòn. Chết cho tội lỗi để không bao giờ phạm tội nữa. Chết trong quên mình âm thầm. Chết trong những hy sinh nhỏ bé. Chết trong nhiệt thành phục vụ nước Chúa. Chính khi chết đi như vậy, ta lại được một sự sống mới tràn ngập tâm hồn, sự sống sung mãn, phong phú của Thiên Chúa. Chỉ có những ai đã trải qua cái chết, mới cảm nghiệm được sự sống ấy, Thánh Phanxicô chắc chắn đã trải qua cuộc lột xác ấy nên mới thốt ra được những lời bất hủ: "Chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời". Vì thế thánh nhân đã trở nên môn đệ đích thực của Chúa Kitô.

Lạy Chúa, xin thanh luyện tâm hồn con, để con xứng đáng là môn đệ của Chúa. Amen.

Câu Hỏi Gợi Ý
  1. Chúa Giêsu muốn cho môn đệ của Chúa có những phẩm chất nào?
  2. Những gì Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ, Người có thực hành không?
  3. Đào tạo nhân sự cho Hội Thánh. Bạn nghĩ đến việc này thế nào? Quan tâm? Giúp đỡ? Đóng góp?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Giáo Phận Bà Rịa





Print this item

Information Chúa Nhật XII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 06-22-2017, 10:07 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Đừng Sợ!

Giữa bao nỗi sợ của cuộc sống hằng ngày, người tín hữu sẽ tìm được nơi ẩn náu nhờ sự phó thác cậy trông vào Chúa. Nhờ ơn nâng đỡ của Ngài, chúng ta không còn sợ hãi. Nhờ phúc lành của Chúa, những lo lắng ưu sầu của cuộc sống sẽ biến thành niềm vui và hy vọng.

Cuộc sống xung quanh chúng ta có biết bao nỗi sợ. Từ trong nhà ra ngoài phố, chúng ta có thể gặp nguy hiểm bất kỳ lúc nào. Ngoài những nỗi lo cơm áo gạo tiền, con người còn phải lo sợ trước sự bon chen, mưu mô, thủ đoạn của người đời. Trước những lo sợ bủa vây tứ phía, người ta đối phó bằng nhiều cách khác nhau: có những người buông xuôi phó mặc cho dòng đời trôi dạt, hoặc thỏa hiệp với sự dữ, làm điều bất chính. Có những người can đảm vững tâm, vượt thắng mọi sợ hãi, thanh thoát giữa đời. Người tín hữu chúng ta được Chúa Giêsu trấn an khích lệ: "Đừng sợ!".

Ông Bà ta thường nói: "Cây ngay không sợ chết đứng". Điều này có nghĩa là chúng ta cứ sống theo sự thật, vì sự thật sẽ giải thoát và minh oan cho chúng ta. Một cuộc sống gian dối, bao che sẽ đến lúc phơi bày ra ánh sáng. Ngôn sứ Giêrêmia là một người công chính, nhưng ông bị bách hại, đe dọa và vu khống đủ điều. Những kẻ thù ghét ông đã gọi ông là "Lão tứ phía kinh hoàng". Tuy vậy, ông vẫn một lòng cậy trông vào Chúa. Ông tin rằng, Chúa sẽ phù trợ ông. Ngài cũng sẽ minh oan cho ông, vì ông sống ngay thẳng. Bài đọc I là lời cầu nguyện của ngôn sứ Giêrêmia trong cơn bách hại. Đó cũng là lời khuyên những ai sống công chính mà bị ghen ghét, hãy cậy trông vào Chúa và hãy sống ngay lành trong bất kỳ hoàn cảnh nào. "Đức Chúa hằng ở bên con, như một trang chiến sĩ oai hùng...". Thiên Chúa là Đấng phán xét công minh. Ngài thấu hiểu lòng dạ con người. Ngài thương xót và cứu vớt những ai sống ngay lành thánh thiện. Những ai cậy trông Chúa, Ngài chẳng bỏ rơi bao giờ.

Chúa Giêsu tiếp nối giáo huấn của Cựu ước. Người khuyên chúng ta đừng sợ những người chỉ giết được thân xác mà không giết được tâm hồn. Chúa nhắc chúng ta, "hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục". Đấng ấy chính là Thiên Chúa. Tuy vậy, sự "sợ hãi" này không giống như sợ hãi trước sự đe dọa khủng bố hoặc bách hại. Sự sợ hãi mà chúng ta dành cho Chúa đi kèm với sự "kính mến", nên chúng ta còn gọi đó là sự "kính sợ". Sự kính sợ này không làm cho chúng ta xa cách Chúa, trái lại, giúp chúng ta vững chí cậy tin. Vì vậy, liền sau đó, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy nhận ra sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa, đồng thời phó thác trọn vẹn cuộc sống của chúng ta nơi Ngài, để Ngài dẫn dắt và che chở chúng ta trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Hai hình ảnh được Chúa Giêsu nêu để chứng minh sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa, đó là con chim sẻ và sợi tóc trên đầu. Những vật xem ra là tầm thường và vô giá trị, mà cũng được Chúa quan tâm. Con người chúng ta đáng giá bội phần, vì mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa, có ý chí, tự do và trách nhiệm về những hành vi cử chỉ của mình.

Sự kính sợ Chúa còn dẫn chúng ta đến việc mạnh dạn tuyên xưng đức tin nơi Ngài. Người tín hữu là người tuyên xưng đức tin trong mọi lãnh vực, mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Việc mạnh mẽ can đảm tuyên xưng đức tin như một điều kiện "nhân - quả" cho hạnh phúc đời sau. Bởi lẽ, nếu chúng ta tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu, thì chính Người sẽ "bảo lãnh" cho chúng ta trước tòa Chúa Cha. Thánh Phaolô quảng diễn điều này khi so sánh Đức Giêsu với ông Ađam. Do ông Ađam mà sự chết thống trị. Nhờ Đức Kitô mà thế gian được sống. Đức Kitô là nguồn ân sủng dồi dào của Thiên Chúa. Những ai đón nhận Người, thì được ngụp lặn trong nguồn ân sủng phong phú đó. Nhờ đó, họ không còn sợ hãi, nhưng vững lòng cậy tin (Bài đọc II).

Giữa bao nỗi sợ của cuộc sống hằng ngày, người tín hữu sẽ tìm được nơi ẩn náu nhờ sự phó thác cậy trông vào Chúa. Nhờ ơn nâng đỡ của Ngài, chúng ta không còn sợ hãi. Nhờ phúc lành của Chúa, những lo lắng ưu sầu của cuộc sống sẽ biến thành niềm vui và hy vọng. Thực tế đã chứng minh cho chúng ta, người tin tưởng vào Chúa luôn lạc quan, vì họ xác tín rằng Chúa luôn đồng hành với họ trên mọi nẻo đường. Khi khích lệ chúng ta: Đừng sợ! Chúa cũng sai chúng ta lên đường để kể lại những điều lạ lùng Chúa đã và đang làm cho mỗi chúng ta. Như thế, chúng ta sẽ góp phần giảm thiểu những nỗi sợ hãi đang ám ảnh nhiều người trong cuộc đời.

Sống ngay lành và thánh thiện; vững vàng phó thác và cậy trông nơi Chúa quan phòng, đó chính là thông điệp mà Lời Chúa hôm nay muốn gửi đến chúng ta.

"Quyền lực có hai dạng: một sinh ra từ nỗi sợ hãi bị trừng phạt, và một sinh ra từ những hành động yêu thương. Quyền lực dựa trên tình yêu hàng nghìn lần hiệu quả và lâu dài hơn quyền lực dựa trên sợ hãi" (Mahatma Gandhi).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Biết Sợ

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 10, 26-33

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Có những người quá nhát sợ. Gặp con dán hay con chuột cũng co rúm người, mặt cắt không còn giọt máu. Có những người, trái lại, chẳng biết sợ là gì. Coi mạng sống nhẹ như tơ. Lên xe là phóng như bay. Liều lĩnh thường thiệt mạng. Nhút nhát quá đâm hỏng việc. Một đàng bất cập, một đàng thái quá. Vì thế vấn đề không phải là sợ hay không sợ. Vấn đề là phải biết phân định. Biết những gì nên sợ và những gì không nên sợ. Hôm nay Chúa Giêsu giúp ta phân định để biết sợ và không biết sợ.

Trước hết, Người dạy ta biết phân định giá trị. Sự sống là quí giá ta phải trân trọng. Mất sự sống là mất tất cả. Tuy nhiên sự sống có nhiều cấp độ. Có sự sống thân xác nhưng cũng có sự sống linh hồn. Có sự sống đời này nhưng không có sự sống đời sau. Sự sống đời này là chóng qua. Sự sống đời sau vĩnh cửu. Sự sống thân xác mau tàn. Sự sống linh hồn bất diệt. Ta phải yêu quí cả hai sự sống. Nhưng khi không thể giữ gìn vẹn toàn cả hai thì phải biết chọn sự sống cao quí, vĩnh cửu, đó là linh hồn, là sự sống đời sau.

Người cũng dạy ta phân định thời cơ. Thời cơ chỉ đến một lần. Lỡ thời sẽ không bao giờ tìm lại được nữa. Lỡ thời có thể hỏng cả cuộc đời. Có thời cơ để rao giảng Lời Chúa. Hiện nay, Lời Chúabị che giấu, chỉ thì thầm bên tai, còn nhiều người chưa biết. Ta được cơ hội đóng góp phần mình vào việc rao truyền Lời Chúa. Nhưng sẽ đến ngày mọi sự kín đáo sẽ tỏ lộ. Lời Chúa sẽ được mọi người nhận biết. Bấy giờ cơ hội sẽ hết. Có thời cơ tuyên xưng danh Chúa. Khi còn ở trần gian, giữa những người chưa biết Chúa, giữa những thế lực thù địch, trong cơn gian nan, chính là cơ hội cho ta tuyên xưng danh Chúa. Khi cuộc đời trần gian chấm dứt, cơ hội đó sẽ không còn.

Và sau cùng là phân định nguyên lý. Thiên Chúa là chủ mọi loài. Thiên Chúa nắm quyền sinh tử. Thiên Chúa an bài mọi sự. Con người chỉ là quản lý của Chúa trong một thời gian, trong một vài lĩnh vực. Khi thời gian chấm dứt, chính Thiên Chúa xét xử và thưởng công, trừng phạt.

Khi đã có những phân định rõ ràng ta sẽ biết sợ và biết không sợ.

Biết sợ Chúa là Chủ tể mọi loài, mọi sự. Không những làm chủ thân xác mà còn làm chủ cả linh hồn. Không những làm chủ đời này mà còn làm chủ cả cuộc đời sau.

Biết sợ mất linh hồn. Linh hồn là món quà cao quí nhất Thiên Chúa tặng cho con người. Sự sống của linh hồn là sự sống Thiên Chúa ban, hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa. Mất linh hồn là mất tất cả. Như Chúa Giêsu vẫn nhắc nhở: "Được lời lãi cả thế gian mà phải mất linh hồn thì nào được ích gì?".

Biết sợ lỡ thời cơ. Hãy biết làm việc khi còn ban ngày, khi trời còn sáng, khi ta còn sống. Thời cơ chỉ đến một lần, nếu ta không tận dụng sẽ lỡ cả một đời. Như những cô trinh nữ khờ dại chỉ còn đứng ngoài cửa Thiên đàng mà than khóc. Như người đầy tớ lười biếng chôn giấu nén bạc phải khóc lóc nghiến răng.

Khi đã biết sợ như thế, ta sẽ không sợ người đời, vì người đời chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Ta sẽ không sợ mất mạng sống, vì sự sống thân xác nay còn mai mất, chẳng tồn tại lâu dài. Ta sẽ không sợ hình khổ hạ thân xác, vì khổ hình rồi cũng sẽ qua.

Nói không sợ cũng không đúng hẳn. Đau đớn khổ cực ai mà không sợ. Nhưng như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu, dù sợ vẫn cứ bước vào cuộc khổ nạn, Người môn đệ vẫn can đảm tuyên xưng danh Chúa, vẫn kiên trì rao giảng Lời Chúa, chấp nhận tất cả những khó khăn hiểm nguy đe doạ, rình rập, chấp nhận những đau đớn thua thiệt chóng qua đời này, với niềm tin vững chắc rằng chính Thiên Chúa là Cha nhân lành an bài mọi sự, Người sẽ ban thưởng cho ta phần thưởng không gì so sánh được, đó là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Amen.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU
  1. Bạn đã từng bị những nỗi sợ nào đè nặng. Những nỗi sợ đó có chính đáng không?
  2. Sống đạo là chấp nhận thiệt thòi. Bạn có dám chấp nhận thiệt thòi vì Chúa không?
  3. Muốn trung thành với Chúa, bạn làm cách nào để tránh được những nỗi sợ do người đời đem đến?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Huế





Print this item

Information Chúa Nhật Lễ Kính Mình và Máu Chúa Kitô Năm A
Posted by: LongHai - 06-15-2017, 07:14 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Tấm Bánh Tình Yêu

Mỗi khi chiêm ngắm Thánh Thể Chúa, tôi không ngừng ngỡ ngàng trước tình yêu của Người. Tình yêu ấy vô cùng cao cả nhưng lại rất đỗi đơn sơ. Đơn sơ như hình ảnh tấm bánh.

Tấm bánh, tình yêu gần gũi.

Sao Chúa không hoá thân làm viên kim cương quý giá mà lại làm một tấm bánh? Tấm bánh bình thường, quen thuộc quá. Từ khi kinh tế phát triển, bánh càng ngày càng xuống giá, bớt được quý trọng.

Tuy bình thường, nhưng bánh vẫn là lương thực cần thiết cho con người. Cũng như khí trời, như nước, bánh đi vào sinh hoạt hằng ngày của con người. Bình thường lắm nhưng không có không được.

Chúa trở thành tấm bánh để gần gũi với loài người, để đi vào sinh hoạt đời thường của con người. Con người có thể đến với Chúa dễ dàng, không e ngại, sợ sệt. Chỉ là một tấm bánh vừa tầm tay mọi người. Chỉ là một tấm bánh sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của con người. Thật khiêm nhường mà đầy ý nhị.

Thật đơn sơ nhưng cũng thật sâu xa vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến.

Tấm bánh, tình yêu tự hiến.

Bánh sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu chỉ để trưng bày cho người ta chiêm ngắm. Bánh chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng. Được sử dụng là bị bẻ ra, bị nghiền nát, bị tan biến, bị tiêu hoá. Vì thế, trở thành tấm bánh là chấp nhận chịu đau đớn, chịu huỷ hoại. Đây không phải là một chấp nhận bất đắc dĩ, vì tấm bánh bao giờ cũng mời mọc tiêu thụ.

Khi xưng mình là bánh bởi trời, Chúa Giêsu bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, tan biến, chịu chết cho nhân loại. Chúa chịu chết cho ta được sống. Chúa chịu huỷ hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa bé nhỏ đi cho ta được lớn mạnh.

Tấm bánh bị tiêu hoá để thực hiện một tình yêu hiệp thông.

Tấm bánh, tình yêu hiệp thông.

Chúa Giêsu tha thiết với sự hiệp thông. Người không ngừng mời gọi con người đến sống thân mật với Người. Người tự nhận mình là cây nho và mời gọi mọi người hãy trở thành cành nho gắn kết với cây nho.

Hôm nay, Người còn chủ động trở thành tấm bánh để hoà vào từng giòng máu, từng thớ thịt của con người trong một kết hiệp sâu xa. Người tự tiêu huỷ mình để trở thành thịt máu của con người. Không còn sự kết hợp nào sâu xa khăng khít hơn nữa.

Tấm bánh gợi lên một bàn tiệc tại đó anh em quây quần trong tình thương, chia sẻ lương thực và chia sẻ tâm tình. Không còn gì đẹp hơn. Chính Chúa Kitô tự hiến mình để quy tụ chúng ta. Chính Chúa Kitô bị bẻ ra để cho tình huynh đệ nhân loại được mặn mà thắm thiết.

Với những gợi ý như thế, Chúa hướng dẫn tôi trong tình yêu mến, trong cử hành và trong cách sống Bí tích Thánh Thể.

Yêu mến Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là trở nên hiền lành khiêm nhường, sống gần gũi với những người nhỏ bé nghèo hèn?

Cử hành Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là chấp nhận hao mòn, quên mình, thiệt thòi vì Chúa và vì anh em?

Sống Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là xây dựng tình đoàn kết, tình huynh đệ với những người sống quanh ta, trong mọi môi trường cuộc sống?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con cảm tạ tình yêu vô biên của Chúa. Con chúc tụng ngợi khen Chúa muôn đời. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Khi dâng lễ, tấm bánh có gợi lên cho bạn điều gì về tình yêu của Đức Giêsu không?
  2. Khi bạn rước lễ, bạn có cảm nghiệm được tình yêu của Chúa không?
  3. Phép Thánh Thể thôi thúc bạn làm gì?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


"Thịt và Máu"

Khi cử hành trọng thể lễ kính Mình và Máu Đức Kitô, Giáo Hội mời gọi chúng ta đừng quên sự hiện diện huyền nhiệm của Chúa Giêsu trong Bí tích cực trọng này. Trong bảy bí tích Chúa Giêsu đã thiết lập, bí tích Thánh Thể được gọi là "Bí tích rất thánh – Sancti – Saint Sacrement".

Thịt và máu là hai yếu tố căn bản làm nên một thân xác con người. Thịt và máu cũng là biểu tượng của sự gắn bó liên kết. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể, tức là làm cho bánh trở nên Thịt Người và rượu trở nên Máu Người. Qua bí tích này, Chúa muốn ở lại với nhân loại, để đồng cam cộng khổ với con người của mọi thời đại. Cũng qua bí tích này, Chúa cho phép con người được gắn bó với Chúa, nhờ ăn uống Thịt và Máu Người, là lương thực thần linh. Lương thực này vừa ban sức sống thiêng liêng cho con người khi còn tại thế, vừa là bảo đảm cho họ được sự sống đời đời.

Bí tích Thánh Thể là sự kết hợp thiêng liêng với Chúa Giêsu. Trong cuộc tranh luận với người Do Thái, Chúa Giêsu đã khẳng định: "Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy". Nhờ việc rước lễ, người tín hữu được ở trong Chúa Giêsu. Hơn thế nữa, một cách nào đó, họ được trở nên chính Chúa, để rồi họ có thể nói như Thánh Phaolô: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là chính Chúa Giêsu sống trong tôi" (Gl 2, 20). Khi ta ăn uống lương thực và thực phẩm, thì các loại lương thực và thực phẩm ấy được biến hóa trở nên máu thịt làm cho thân xác ta được khỏe mạnh và tràn đầy sức sống. Nhưng khi chúng ta lãnh nhận Mình và Máu Đức Giêsu, chúng ta được biến đổi dần dần để nên giống như lương thực mà chúng ta đã ăn, để trở nên đồng hình đồng dạng với Con Thiên Chúa. Đây là sự khác biệt giữa lương thực vật chất và lương thực thiêng liêng.

Manna trong Cựu ước và phép lạ nhân bánh trong Tân ước chỉ là hình bóng của Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu thiết lập trong bữa tiệc ly. Nếu người Do Thái vẫn còn in đậm trong trí nhớ phép lạ Manna, thì Chúa Giêsu quả quyết với họ, chính là Chúa Cha ban cho họ lương thực huyền nhiệm đó, đồng thờ Chúa nêu sự khác biệt giữa Manna với Thánh Thể: Manna chỉ là lương thực vật chất để nuôi sống thân xác; Thánh Thể chính là lương thực thần thiêng để nuôi sống tâm hồn. Manna chỉ là lương thực đời này; Thánh Thể là bảo đảm cho con người được hưởng sự sống đời sau.

Khi cử hành trọng thể lễ kính Mình và Máu Đức Kitô, Giáo Hội mời gọi chúng ta đừng quên sự hiện diện huyền nhiệm của Chúa Giêsu trong Bí tích cực trọng này. Trong bảy bí tích Chúa Giêsu đã thiết lập, bí tích Thánh Thể được gọi là "Bí tích rất thánh - Sancti - Saint Sacrement". Bởi đây là sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu. Trong bí tích Thánh Thể, "có trọn vẹn linh hồn và thể xác, thiên tính và nhân tính của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể" như Công đồng Tridentinô đã xác quyết và định tín. Vì vậy, theo truyền thống của Giáo Hội Công giáo, sau thánh lễ này, thường có cuộc rước trọng thể để tôn vinh sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Hình Bánh và Hình Rượu. Sự hiện diện này không chấm dứt khi thánh lễ kết thúc, như một số giáo phái Kitô khác chủ trương.

Bí tích Thánh Thể cũng là lời mời gọi sống yêu thương và hiệp thông với nhau như máu với thịt. Mối hiệp thông này có hai chiều kích: Hiệp thông chiều dọc và hiệp thông chiều ngang. Hiệp thông chiều dọc là gắn bó với Chúa Giêsu để nhờ Người mà chúng ta được gặp gỡ Chúa Cha. Hiệp thông chiều ngang là tình liên đới cảm thông với anh chị em mình. Thánh Phaolô nhấn mạnh đến sự hiệp thông chiều ngang này khi Ngài viết cho giáo đoàn Côrinhtô: "Bởi vì chí có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể" (Bài đọc II). Qua hình ảnh một thân thể, vị Tông đồ dân ngoại muốn nhắc chúng ta sống liên kết và yêu thương nhau. Bởi lẽ tất cả đều được nuôi dưỡng bằng một lương thực thần thiêng là Mình và Máu Đức Giêsu. Lương thực ấy liên kết chúng ta thành một thân thể là Giáo Hội. Người Việt Nam chúng ta thường nói: "Máu chảy ruột mềm". Hình ảnh này muốn nói lên tình tương thân tương ái giữa mọi thành viên trong gia đình với nhau và còn vươn rộng hơn là tình đồng loại, để gia tay cứu giúp những ai hoạn nạn khổ đau và những người bất hạnh.

"Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra" (Bài đọc I). Ông Môi-sen nhắc nhở dân Do Thái hồi tưởng lại những việc kỳ diệu Chúa đã làm, để tôn vinh quyền năng cao cả của Chúa, cũng là để cảm tạ tình thương bao la của Ngài. Tôn thờ Thánh Thể cũng là tôn thờ quyền năng cao cả của Chúa. Bởi lẽ như chúng ta đọc trong "Kinh Cám ơn thông dụng" của Mùa Chay: "Chúa trọng vô cùng cả và trời đất chứa chẳng đủ, mà rầy muốn ở trong một Hình Bánh nhỏ làm vậy…". Thiên Chúa cao cả ẩn mình trong bí tích Thánh Thể vì yêu thương con người. Qua Bí tích này, Chúa cũng dạy chúng ta bài học khiêm nhường, sống và hy sinh vì tha nhân, như Chúa đã trở nên của ăn của uống cho con người.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi
Posted by: LongHai - 06-08-2017, 08:08 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Mầu Nhiệm Tình Yêu

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm tình yêu thương.

Từ đời đời, Chúa Cha yêu Chúa Con. Tình yêu ấy lớn lao đến nỗi Chúa Cha đã sinh ra Chúa Con giống hệt như mình. Con là hình ảnh hoàn hảo, nguyên tuyền của Cha. Con là chính Cha, nên Đức Giêsu nói: "Ai thấy Thầy là thấy Cha" (Ga 14, 9). Cha có gì thì ban tất cả cho Con. Nên sau này Đức Giêsu đã nói: "Tất cả những gì của Cha đều là của Con" (Ga 16, 15). Tình Cha yêu Con thật lớn lao, kỳ diệu. Tình Con đáp lại tình Cha cũng nồng nàn tha thiết không kém. Những gì Con nhận được do tình yêu của Cha thì Con dâng lại cho Cha tất cả. Đức Giêsu vì yêu mến Chúa Cha, nên đã vui lòng xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại. Trọn cuộc đời, Người luôn tìm thánh ý Chúa Cha để thi hành. Người luôn tâm niệm: "Lương thực của Thầy là làm theo ý Đấng sai Thầy" (Ga 4, 34). Người từ bỏ hết ý riêng mình để chỉ làm theo ý Chúa Cha. Người nên một với Đức Chúa Cha trong tâm tình, trong tư tưởng, trong hành động. "Cha ở trong Con và Con ở trong Cha" (Ga 14, 10). Trong giờ hấp hối, dù sợ hãi cái chết đến độ mồ hôi máu tuôn ra, nhưng Đức Giêsu vẫn luôn vâng theo ý Chúa Cha: "Lạy Cha, nếu có thể được, thì xin cho Con khỏi uống chén này. Xin đừng theo ý Con, nhưng theo ý Cha mà thôi" (Mt 26, 39). Thánh Phaolô đã tóm tắt về cuộc đời Người: "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự" (Phil 2, 6-8). Tất cả thái độ vâng phục nói lên sự dâng hiến trọn vẹn cho Chúa Cha. Tình yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con là Chúa Thánh Thần.

Ba Ngôi là lò lửa tình yêu lúc nào cũng ngùn ngụt cháy. Ba Ngôi là nguồn mạch tình yêu không bao giờ vơi cạn. Cuộc trao đổi cho đi và nhận lãnh làm cho tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa ngày càng sung mãn dồi dào. Tất cả mọi tình yêu đều bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi. Tất cả mọi tình yêu muốn trung thực và bền vững đều phải học theo khuôn mẫu tình yêu Chúa Ba Ngôi. Hạnh phúc là ta được tham dự vào bầu khí yêu đương của Chúa Ba Ngôi. Hạnh phúc sẽ đến khi mọi người biết yêu thương nhau trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi.

Hôm nay, khi truyền cho ta đi rửa tội cho mọi người nhân danh Chúa Ba Ngôi, Đức Giêsu muốn ta đem tình yêu rửa sạch những oán ghét hận thù đang tàn phá thế giới. Người mong ta đem ngọn lửa tình yêu thắp sáng những góc tối tăm chiến tranh, chia rẽ. Người mong ta đem mưa tình yêu tưới gội những vùng đất khô cằn vì thiếu vắng tình thương tha thứ. Người muốn cho tình yêu lên ngôi ngự trị trong hết mọi tâm hồn.

Phần ta, những môn đệ của Chúa, mỗi khi ta làm dấu Thánh giá nhân danh Chúa Ba Ngôi, ta hãy xin Ba Ngôi Thiên Chúa in tình yêu thánh thiện của Người vào tâm hồn ta. Xin cho ta được tham dự vào tình yêu vô cùng sung mãn của Người. Xin cho ta trở nên một đốm lửa trong lò lửa yêu thương của Người. Được cháy trong lò lửa tình yêu Chúa Ba Ngôi, ta sẽ trở nên giống như Người, luôn biết cho đi, luôn biết dâng hiến, luôn mưu tìm hạnh phúc cho tha nhân.

Kiểm Điểm Đời Sống
  1. Khi cầu nguyện, Đức Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha. Bạn có cảm thấy Thiên Chúa là người Cha yêu thương và gần gũi không?
  2. Bạn có mong muốn được tham dự vào luồng tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa không?
  3. Thiên Chúa dựng nên bạn giống hình ảnh Người. Bạn đã thực sự là hình ảnh tình yêu thương của Chúa đối với những người chung quanh chưa?
  4. Sau khi đã hiểu rõ mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, bạn sẽ có thái độ nào đối với Chúa và đối với anh em?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội


Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần

Với người công giáo, còn gì gần gũi thân quen cho bằng làm dấu thánh giá trên mình cùng với lời đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Ấy thế mà mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi dường như lại thật xa lạ và trừu tượng. Có chăng những từ ngữ "ngôi vị" và "bản tính", vốn rất cần thiết để minh định tín điều, lại là bước cản cho sự gặp gỡ Đấng Thiên Chúa sống động? Có chăng những suy tư thần học về Ba Ngôi thật phong phú về tư duy nhưng lại thiếu tiếp cận mục vụ và linh đạo? Từ góc độ thực hành của đời sống đức tin, xin gợi ý về lời đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" như một cảm nghiệm gặp gỡ Đấng Thiên Chúa duy nhất và là Đấng ở trên, ở với và ở trong con người cũng như lịch sử.

Đấng Thiên Chúa ở trên, ở với và ở trong

Cảm nghiệm đầu tiên của con người về Thiên Chúa: Ngài là Đấng "ở trên", "Ông Trời", "Ông Thiên". Thánh Phaolô tuyên xưng chỉ mình Thiên Chúa là "Đấng trường sinh bất tử, ngự trị trong ánh sáng siêu phàm, Đấng không một người nào đã thấy hay có thể thấy" (1Tim 6, 16). Vì Thiên Chúa vượt lên trên vũ trụ và nhân loại nên "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi" (Mt 16, 23). Nếu ai nói rằng mình hiểu được Thiên Chúa thì chắc chắn vị Thiên Chúa ấy không còn là Thiên Chúa đích thực nữa.

Những khám phá khoa học ngày nay không những không làm tiêu hao niềm tin vào Thiên Chúa mà trái lại, càng làm cho chúng ta cảm nhận rõ hơn tính bất khả đạt thấu của Thiên Chúa. Ngân hà mà trái đất chúng ta là một thành phần đã là vĩ đại rồi, nhưng nó chìm nghỉm trong hằng tỉ giải ngân hà của vũ trụ. Chính sự vĩ đại ấy của vũ trụ lại càng làm nổi bật tính vô biên và bất khả đạt thấu nơi Thiên Chúa: "Chúng ta không thể khám phá Thiên Chúa đang điều khiển thế giới cách ngây ngô như trước. Chúng ta không thể làm thế, không phải vì Thiên Chúa đã chết, nhưng vì Ngài là Đấng vĩ đại hơn nhiều, Đấng không thể gọi tên, Đấng bất khả đạt thấu, Đấng là nền tảng mọi sự" (Karl Rahner, Science as a Confession, 389).

Cảm thức về tính bất khả đạt thấu nơi Thiên Chúa giúp các Kitô hữu tránh được nguy cơ rơi vào tình trạng mà một nhà tư tưởng phê phán: "Không phải Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, nhưng chính con người đã làm nên Thiên Chúa theo hình ảnh của mình". Một trong những điều răn đầu tiên Thiên Chúa ban bố là: "Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ" (Xh 20, 4). Dân Chúa trong thời Cựu Ước lại chẳng rơi vào tình trạng đó sao khi họ lấy vàng đúc thành con bê rồi sụp lạy tung hô: "Đây là vị thần đã đưa chúng ta ra khỏi đất Ai Cập" (Xh 32, 7)? Và cơn cám dỗ ấy vẫn không ngừng tái diễn trong lịch sử dưới nhiều hình thức khác nhau.

Thiên Chúa là Đấng "ở trên" nhưng đồng thời lại là Đấng "ở với" loài người. Đây là mạc khải trung tâm và độc đáo của Kitô giáo. Kinh Thánh tràn ngập cụm từ "ở với". Hầu như khi sai bất cứ ai đi thi hành sứ mạng, Thiên Chúa cũng chỉ hứa điều quan trọng nhất là: "Ta ở với ngươi". Từ Môsê đến Đức Maria đều thế cả (Xh 3, 12; Lc 1, 28). Cho đến thời của Hội Thánh, lời hứa của Chúa Kitô Phục sinh dành cho các môn đệ vẫn là: "Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 20).

Danh thánh Thiên Chúa mạc khải cho Môsê (Xh 3, 14) được dịch nhiều cách: "Ta là Đấng hằng hữu", "Ta là Đấng hiện hữu", "Ta là Đấng Ta là". Nhưng cũng có một cách dịch khác mang tính hiện sinh hơn: "Ta là Đấng hằng ở với anh em" (trong mọi hoàn cảnh, mọi bước đường, mọi biến cố). Lời hứa "ở với" ấy đã vươn đến cao điểm trong Đức Giêsu Kitô, Đấng được gọi là Emmanuel, Thiên Chúa-ở-với-chúng ta (Mt 1, 23). Thiên Chúa ở với loài người không những bằng sự hiện diện mà còn chia sẻ phận người, kể cả những trạng huống bi thảm nhất, để trong mọi hoàn cảnh, kể cả sự chết, ta có thể cảm nhận được tiếng nói: Cha ở với con.

Ratzinger có trang sách đẹp về trải nghiệm sự chết khởi đi từ hình ảnh đứa bé bị lạc lối trong rừng sâu và màn đêm buông xuống. Cùng với bóng tối vây bủa chung quanh là nỗi hoang mang sợ hãi tràn ngập tâm hồn. Trong giây phút ấy, điều mà cậu bé mong chờ nhất không phải là bài học địa lý về cánh rừng hoặc bài hướng dẫn khoa học tìm tọa độ. Điều mong chờ nhất chỉ là có một bàn tay chạm lấy và tiếng nói bên tai: "Cha đây, nào chúng ta đi". Không có giây phút nào con người cảm nhận nỗi cô đơn tột cùng cho bằng khi đối diện với sự chết. Kể cả những người thương yêu ta nhất cũng không thể đồng hành. Mọi lý thuyết về thế giới mai sau dường như vô nghĩa. Điều mong đợi duy nhất là sự hiện diện và đồng hành của một ai đó trên con đường tăm tối. Và Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã kinh qua sự chết và đã sống lại, chính là Đấng duy nhất đáp trả nỗi ước mong sâu thẳm về một bàn tay nắm lấy và tiếng nói bên tai "Ta đây, nào chúng ta cùng đi". Thiên Chúa ở với.

Thiên Chúa không chỉ ở với con người mà còn ở trong họ. Theo quan điểm công giáo, lương tâm là "tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa, và tiếng nói của Ngài vang dội trong lòng họ" (Hiến chế Vui Mừng và Hi Vọng, số 16).

Tin Mừng Gioan, Tin Mừng của đời sống chiêm niệm, tràn ngập cụm từ "ở trong": "Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình yêu của Ngài" (15, 9-10); "Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí Sự Thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Ngài. Còn anh em biết Ngài vì Ngài luôn ở giữa anh em và ở trong anh em" (14, 16-17).

Có chuyện kể về một guru đánh mất chìa khóa vào nhà và quanh quẩn đi tìm chìa khóa ở bãi cỏ trước nhà. Đám học trò thấy thế bèn hỏi, "Thưa thầy, thầy tìm gì vậy?" "Thầy mất chìa khóa vào nhà rồi". "Để chúng con tìm giúp". Thế là ai nấy hăng hái bới từng gốc cây, lật từng ngọn cỏ để tìm. Tìm mãi không thấy, một học trò sốt ruột hỏi: "Thầy có nhớ loáng thoáng là đánh rơi ở đâu không?" "Có chứ, thầy nhớ rõ là mình để quên ở trong phòng rồi sập cửa lại". Đám học trò la lên: "Trời ơi, sao bây giờ mới nói, mất chìa khóa trong nhà mà lại tìm ở ngoài này, làm sao thấy được!" Ông thầy có dịp cho học trò một bài học để đời: chúng ta đánh mất chìa khóa của ngôi nhà hạnh phúc. Chìa khóa ấy ở trong tâm hồn nhưng chúng ta lại mải tìm ở ngoài. Tìm đủ thứ, chiếm hữu đủ thứ, hưởng thụ đủ thứ... mà hạnh phúc vẫn biệt tăm. Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc, ở thâm sâu lòng người, nhưng chúng ta mải tìm ở thế giới bên ngoài.

Đúng là "Chúa ở trong con sâu hơn chính con" và "Con đi tìm Chúa bên ngoài mà quên mất rằng Chúa ở trong con". Không chỉ là cảm nghiệm của các nhà thần bí mà còn là trải nghiệm của mỗi người nếu chân thành nhìn lại chính mình.

Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần

Hội Thánh có sứ vụ giới thiệu và loan báo cho con người Đấng Thiên Chúa ở trên, ở với và ở trong con người cũng như lịch sử. Nghĩa là phải loan báo Thiên Chúa trong tính toàn thể. Xem ra không dễ dàng giữ được sự quân bình và tính toàn thể ấy. Có khi người Kitô hữu nhấn mạnh đến Thiên Chúa ở trên (chiều kích siêu việt) và ở trong (chiều kích nội tại) mà không quan tâm đến Thiên Chúa ở với phận người, nên bị người ta chê trách là lãng quên những thực tại trần thế. Lại có khi nhấn mạnh đến Thiên Chúa ở với (chiều kích dấn thân xã hội) mà quên Thiên Chúa ở trên và ở trong, nên biến Hội Thánh thành cộng đoàn xã hội thuần túy với chân trời và đường lối hành động không khác gì những tập thể xã hội khác. Làm thế nào để giữ được sự quân bình và tính toàn thể của mầu nhiệm Thiên Chúa, để có thể "ở trong thế gian mà không thuộc về thế gian" (Ga 17, 14-16), để là "muối cho đời và ánh sáng cho trần gian" (Mt 5,13-16). Sẽ mãi là một thách đố, nhưng ít ra ý thức được điều ấy cũng đã là lời nhắc nhở cần thiết cho sứ vụ, lời nhắc nhớ mỗi ngày khi làm dấu thánh giá trên mình và đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Trích từ nguồn: Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội


Thiên Chúa Yêu Thế Gian

Khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, Phụng vụ nhắc nhớ chúng ta tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Tình yêu ấy thể hiện qua công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa. Phụng vụ cũng nhắc nhớ chúng ta, Thiên Chúa Ba Ngôi là đích điểm của đời sống Kitô hữu.

Nói đến Chúa Ba Ngôi là chúng ta nói đến đời sống nội tại của chính Thiên Chúa. Thật vậy, khi cử hành các mầu nhiệm khác như Giáng sinh, Phục sinh, là chúng ta tôn vinh những điều Chúa đã làm vì yêu thương con người; còn khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, là chúng ta tìm hiểu và suy tư xem Chúa là ai và Ngài như thế nào. Lý trí con người hữu hạn, nên chỉ có thể suy tư về Chúa, dựa trên những kinh nghiệm trần gian. Chúng ta có thể hiểu phần nào về Chúa Ba Ngôi, từ những lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Trong cuộc đàm đạo với ông Nicôđêmô, một thành viên của Công nghị Do Thái, Chúa Giêsu đã khẳng định sứ mạng của Người là Đấng Thiên Sai. Việc Người đến trần gian là bằng chứng về tình yêu Thiên Chúa. Quả thật, Thiên Chúa yêu thế gian. Vì thế Ngài đã tạo dựng thế gian và sai Con của Ngài đến cứu thế gian (Bài Tin Mừng).

Lòng yêu thương của Chúa cũng là một điểm nhấn quan trọng trong giáo huấn của Cựu ước. Vì tình yêu thương, Ngài đã dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập. Ngài đã chăm sóc họ như một người cha. Ngài bao dung tha thứ khi họ lỗi lầm. Qua trung gian ông Môisen, Ngài còn ban cho họ lề luật để giúp họ sống theo đường ngay nẻo chính (Bài đọc I). Tất cả những gì Chúa đã làm trong lịch sử là bằng chứng tình yêu thương vô bờ của Ngài.

Lời Chúa Giêsu trong Ga 3, 16 được coi như tóm lược toàn bộ nội dung của Tin Mừng Thánh Gioan. Bởi lẽ nó diễn tả chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện qua Đức Giêsu Kitô. Câu Tin Mừng này cũng diễn tả cho chúng ta đời sống phong phú nơi Ba Ngôi Thiên Chúa. Khác với giáo lý của Do Thái giáo và của Hồi giáo, cũng là hai tôn giáo độc thần, Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi mà duy nhất. Đó là sự duy nhất không đơn độc. Trong khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu nói về Chúa Cha, là Đấng đã sai Người đến thế gian. Chúa Giêsu cũng nói về Chúa Thánh Thần, là Thần Chân Lý, sẽ đến để tiếp tục công việc Người đã khởi đầu, tức là hướng dẫn Giáo Hội để Giáo Hội loan báo giáo huấn của Chúa Giêsu. Tất cả những hoạt động của Thiên Chúa, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đều xuất phát từ tình yêu của Ngài đối với thế gian.

Khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, Phụng vụ nhắc nhớ chúng ta tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Tình yêu ấy thể hiện qua công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa. Phụng vụ cũng nhắc nhớ chúng ta, Thiên Chúa Ba Ngôi là đích điểm của đời sống Kitô hữu. Điều đó có nghĩa, nếu chúng ta gắn bó với Chúa Giêsu và tuân giữ lời Người, chúng ta sẽ được hòa mình vào dòng chảy hiệp thông của Chúa Ba Ngôi, ngay khi chúng ta còn sống ở đời này. Đó cũng là bảo đảm chắc chắn rằng, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa Ba Ngôi trong hạnh phúc vĩnh cửu, như lời Chúa Giêsu đã hứa.

Lời chào của thánh Phaolô đối với cộng đoàn tín hữu Côrinhtô (Bài đọc II) đã diễn tả những điều kỳ diệu thiêng liêng của Giáo Hội: "Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em". Lời chào này đã trở thành công thức mở đầu thánh lễ. Là thành viên của Giáo Hội, mỗi người tín hữu đang sống trong ân sủng của Chúa Giêsu, trong tình yêu của Chúa Cha và trong sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chúng ta được bao bọc bởi tình yêu Chúa Ba Ngôi. Nhờ đó, cuộc sống của chúng ta không còn buồn chán thất vọng hay lầm lạc tội lỗi. Chúa Ba Ngôi không chỉ là một lý thuyết xa vời, nhưng rất cụ thể trong đời sống chúng ta, gần gũi với chúng ta như hơi thở, nước uống, khí trời và những nhu cầu khác. Thánh Phaolô cũng nói đến điều kiện để được Chúa Ba Ngôi che chở, đó là luôn đồng tâm nhất trí và hòa thuận với nhau. Một cộng đoàn được liên kết bằng mối giây yêu thương sẽ có Chúa Ba Ngôi hiện diện. Hơn nữa, chính Chúa Ba Ngôi là mối dây yêu thương này.

"Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Mỗi ngày, chúng ta làm dấu thánh giá nhiều lần, mà ít khi ý thức đây là lời tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Đây cũng là một lời cầu nguyện ngắn. Dấu thánh giá vừa nhắc cho chúng ta: Thiên Chúa yêu thương thế gian; vừa mời gọi chúng ta: hãy nhân danh Chúa Ba Ngôi trong mọi hành xử, suy nghĩ, nói năng và trọn vẹn cuộc đời. Nếu thực sự "nhân danh Chúa Ba Ngôi" trong cuộc sống, chúng ta sẽ tiến dần tới sự hoàn thiện, nhờ đó, sự thánh thiện của Chúa tỏa sáng nơi cuộc đời chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item