Welcome, Guest
You have to register before you can post on our site.

Username
  

Password
  





Search Forums

(Advanced Search)

Forum Statistics
» Members: 6
» Latest member: MaiThao
» Forum threads: 571
» Forum posts: 573

Full Statistics

Online Users
There are currently 2 online users.
» 0 Member(s) | 2 Guest(s)

Latest Threads
Chúa Nhật III Mùa Vọng – ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
11 hours ago
» Replies: 0
» Views: 2
Chúa Nhật II Mùa Vọng – N...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
12-08-2017, 08:23 AM
» Replies: 0
» Views: 13
Chúa Nhật I Mùa Vọng – Nă...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
11-30-2017, 02:59 AM
» Replies: 0
» Views: 21
Chúa Nhật XXXIV Thường Ni...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
11-23-2017, 08:55 AM
» Replies: 0
» Views: 30
Chúa Nhật XXXIII Thường N...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
11-16-2017, 07:52 PM
» Replies: 0
» Views: 30
Chúa Nhật XXXII Thường Ni...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
11-10-2017, 06:50 PM
» Replies: 0
» Views: 43
Chúa Nhật XXXI Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
11-04-2017, 12:03 AM
» Replies: 0
» Views: 41
Chúa Nhật XXX Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
10-27-2017, 03:11 AM
» Replies: 0
» Views: 54
Chúa Nhật XXIX Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
10-19-2017, 06:30 PM
» Replies: 0
» Views: 100
Chúa Nhật XXVIII Thường N...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
10-13-2017, 05:51 AM
» Replies: 0
» Views: 88

 
Information Chúa Nhật III Mùa Vọng – Năm B
Posted by: LongHai - 11 hours ago - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Chúa Hiện Diện Giữa Chúng Ta

Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta và mỗi người tín hữu được trao phó trách nhiệm loan truyền sự hiện diện linh thiêng kỳ diệu ấy. Lời Chúa chúa nhật 3 Mùa Vọng nhằm nhắc nhở chúng ta điều quan trọng này.

Trong cách suy nghĩ của nhiều người, kể cả người Công giáo, Mùa Vọng chỉ được hiểu là thời gian chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh. Vì vậy, họ chú trọng nhiều đến việc làm hang đá, trang trí hoa đèn rực rỡ mà quên mất một điều căn bản, đó là Thiên Chúa đang hiện diện giữa cuộc đời. Ngài hiện diện giữa chúng ta và mỗi người tín hữu được trao phó trách nhiệm loan truyền sự hiện diện linh thiêng kỳ diệu ấy. Lời Chúa chúa nhật 3 Mùa Vọng nhằm nhắc nhở chúng ta điều quan trọng này.

Các Bài đọc trong Phụng vụ hôm nay đều diễn tả niềm vui. Tại sao chúng ta vui mừng? vì có Chúa hiện diện. Ngài xức dầu cho chúng ta và sai chúng ta vào lòng cuộc đời. Trong truyền thống Thánh Kinh, dầu thơm chỉ niềm vui, sự hoan lạc và ân sủng của Thiên Chúa. Nhờ được xức dầu trong bí tích Thanh tẩy, mỗi người tín hữu được sai lên đường để loan báo niềm vui. "Thần khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi". Họ không lên đường đơn lẻ một mình, nhưng có Chúa Thánh Thần là sức mạnh của Thiên Chúa đi cùng. Ngôn sứ Isaia đã diễn tả niềm vui: "Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa, nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao" (Bài đọc I). Những lời này diễn tả một tâm hồn an vui, hạnh phúc và tràn đầy nghị lực. Có bao giờ chúng ta, với tư cách là Kitô hữu, cảm nhận được niềm vui này? Đó không phải là niềm vui trần thế, nhưng là niềm vui toát lên từ hạnh phúc nội tâm, trong sáng, tinh tuyền thánh thiện. Lễ Giáng Sinh đem lại cho chúng ta niềm vui, vì xác tín vào sự hiện diện của Chúa giữa đời. Niềm vui này phải được loan báo cho mọi người, vì đó là niềm vui cho cả toàn dân. Chân lý cứu độ phải được trình bày cho thế giới, vì Thiên Chúa muốn cứu vớt muôn loài. Chúng ta không chỉ giữ niềm vui Giáng Sinh cho riêng mình, nhưng mỗi tín hữu phải là người tiếp nối sứ mạng đem tin vui ấy cho những người xung quanh. Lễ Giáng Sinh chỉ có ý nghĩa và mang lại hiệu quả thiêng liêng, nếu mỗi chúng ta biết sống và loan báo sứ điệp hân hoan vui mừng ấy.

Chúng ta được xức dầu và sai lên đường để rao giảng tình yêu của Chúa và sự hiện diện của Ngài. Mọi cố gắng nỗ lực của đời sống tín hữu nhằm cho hình ảnh của Chúa được tỏa sáng, chứ không phải hình ảnh của chúng ta. Khi nghe thánh Gioan Tẩy giả rao giảng và kêu gọi sám hối, những người đương thời cũng tưởng rằng ông là Đấng Thiên Sai. Gioan Tẩy giả đã cương quyết khẳng định: "Tôi không phải là Đấng Kitô". Ông nhận rõ sứ mạng của mình rất khiêm tốn, đó là làm cho hình ảnh của Đấng Thiên Sai nổi bật. Ông cũng sẵn sàng chấp nhận bị lu mờ trước Đấng Cứu thế: "Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại... Tôi không đáng cởi quai dép cho Người".

Đây đó tại các cộng đoàn giáo xứ, vẫn tồn tại những sinh hoạt sầm uất sôi nổi chỉ mang tính trần tục hoặc bề ngoài, mà không chú ý đến việc giới thiệu hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng đang hiện diện giữa chúng ta. Gioan Tẩy giả làm phép rửa, nhưng phép rửa của ông chỉ là nghi thức sám hối và giúp cho các hối nhân nhận ra Đấng Cứu thế sẽ đến. Ông là người dọn đường cho Đấng Thiên Sai. Mặc dù có rất đông dân chúng đến với mình, ông luôn tránh những ngộ nhận của họ, nên khẳng khái nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Giới thiệu và chứng minh Chúa đang hiện diện trong cuộc đời này, cần phải có sự khiêm tốn, đi liền với một đời sống thánh thiện tốt lành. Đây là điều kiện căn bản để lời chứng của chúng ta có sức thuyết phục.

Niềm vui có Chúa hiện diện phải tác động mọi khía cạnh của đời sống chúng ta. Thánh Phaolô đã nhắn nhủ cộng đoàn Thêxalônica: "Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh". Theo lời thánh Phaolô, kể cả lúc chúng ta gặp chuyện chẳng lành, đó cũng là cơ hội để tạ ơn Chúa. Bởi lẽ trong những hoàn cảnh ấy, chúng ta được mời gọi kiên vững và chứng minh lòng trung thành của mình vào Chúa. Thực ra, người tín cần xác tín một điều: Thiên Chúa không để cho ai chịu thử thách quá sức chịu đựng. Ơn Chúa luôn đủ cho những ai thành tâm yêu mến Ngài. Ý thức sự hiện diện của Chúa sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, đồng thời chuyên tâm làm việc thiện, xa lánh những điều xấu, bất cứ dưới hình thức nào, nhất là đừng dập tắt thần khí của Chúa nơi tâm hồn chúng ta (Bài đọc II).

Cảm nhận sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời sẽ giúp chúng ta đón nhận những gì xảy đến với lăng kính đức tin. Bởi lẽ Chúa là Cha chúng ta. Ngài luôn yêu thương và chẳng bao giờ bỏ rơi những con cái của Ngài. Nhờ sự hiện diện hồng phúc của Chúa, hoa sẽ nở trong sa mạc, niềm vui sẽ tràn ngập cuộc đời, tình thương sẽ ngự trị, công chính sẽ lên ngôi.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Chứng Nhân Của Ánh Sáng

Trên đời có nhiều thứ ánh sáng: ánh sáng vật lý, ánh sáng văn hoá, ánh sáng khoa học, ánh sáng tâm linh. Để nhìn ra ánh sáng, cần có một khả năng nào đó. Để thấy ánh sáng vật lý, chỉ cần có đôi mắt bình thường. Nhưng để nhìn thấy ánh sáng khoa học, phải có một số vốn kiến thức cần thiết. Để thấy ánh sáng văn hoá, cần được khai tâm mở trí. Và để thấy được ánh sáng tâm linh, cần có các chứng nhân chiếu dọi. Thánh Gioan Baotixita là chứng nhân của Đức Ki-tô ánh sáng. Ngài làm chứng cho Đức Ki-tô bằng chính cuộc đời trong sáng của ngài. Nhìn vào cuộc đời ngài, ta thấy toả ra các làn ánh sáng sau đây:

Làn ánh sáng thứ nhất mà ta thấy nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự khiêm nhường. Ngài khước từ mọi vinh quang người ta phủ quanh ngài. Ngài thành thực nhận mình không phải là Đấng Cứu Thế toàn dân mong chờ, không phải là Êlia vĩ đại, cũng không phải là một tiên tri cao cả. Ngài tự nhận mình chỉ là một "tiếng kêu trong sa mạc". Ngài khiêm nhường nói rằng ngài không xứng đáng xách giày cho Đẫng Cứu Thế. Thật là khiêm nhường tự hạ. Đức khiêm nhường ấy chiếu lên dung mạo ngài một làn ánh sáng. ánh sáng ấy khiến cho lời chứng của ngài càng có sức thuyết phục. ánh sáng ấy phản chiếu dung mạo đích thực của Đấng Cứu Thế, Đấng tuyệt đối khiêm nhường.

Làn ánh sáng thứ hai ta thấy nơi cuộc đời của thánh nhân là làn ánh sáng của sự khổ hạnh. Phần lớn đời ngài ẩn dật trong sa mạc. Sống trong sa mạc đồng nghĩa với sống khổ hạnh. Ngoài sự khắc nghiệt của thời tiết, sự hoang vu cô tịch, sự đe doạ của thú dữ, thánh Gioan Baotixita còn tự nguyện sống khó nghèo, đơn sơ, đạm bạc. Y phục của ngài chỉ là mảnh da thú quấn quanh thân thể. Thức ăn của ngài là châu chấu và mật ong rừng. Sự khổ hạnh không chỉ loé sáng lên một ý chí mạnh mẽ biết vượt thắng chính bản thân mình, mà còn chiếu ánh sáng hy vọng vào tương lai. Người lệ thuộc vào vật chất là người bị trói buộc trong hiện tại. Người khổ hạnh là người đặt niểm hy vọng ở tương lai. Niềm hy vọng ấy chiếu sáng vào cuộc đời hiện tại vì làm cho cuộc sống có một ý nghĩa cao đẹp và sâu xa. Tương lai tươi sáng mà thánh Gioan Baotixita chờ đón chính là Đức Giêsu Ki-tô mà ngài loan báo.

Làn ánh sáng thứ ba nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự trung thực. Trung thực trong những lời nói về chính mình, nên ngài không dám nhận những vinh quang người đời tưởng lầm Ngài có. Ngài chỉ nhận những sự thực rất khiêm nhường, rất bé nhỏ của mình. Trung thực với lòng mình, nên ngài sống một cuộc sống khổ hạnh, không phô trương, không giả dối. Trung thực trong những phán đoán về người khác, nên ngài đã thẳng thắn khuyên vua Hê-rô-đê không đựơc phép lấy chị dâu. Chính sự trung thực này đã phải trả giá bằng cái chết chẳng toàn thây. Nhưng sự trung thực ấy đã làm sáng lên cuộc đời chứng nhân. Làn ánh sáng ấy cho ta thoáng thấy ánh sáng đích thực của Đấng là Sự Thật, là chính Đức Giêsu Ki-tô.

Làn ánh sáng thứ tư nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự quên mình. Biết mình chỉ là người đưa tin, thánh nhân luôn xoá mình đi, để cho Đấng là chính Tin Mừng được nổi bật. Biết mình chỉ là người mở đường, thánh nhân luôn tự hạ để cho Đấng là Đường được mọi người nhận biết. Làm chứng cho sự thật, thánh nhân đã tự nguyện hy sinh để cho Đấng là Sự Thật được trân trọng. Khi mọi người tuốn đến với Ngài, Ngài đã không giữ lại cho mình, nhưng đã giới thiệu họ đến với Đức Giêsu, nên ngài nói: "Người đến sau tôi, nhưng tôi không đáng cởi dây giầy cho Người" (Ga 1, 27). Nhiều môn đệ đã theo Ngài, nhưng Ngài giới thiệu để họ theo làm môn đệ Đức Giêsu. Khi thấy đám đông đã bỏ ngài để đi theo Đức Giêsu, ngài hài lòng vì thấy nhiệm vụ đã hoàn tất, nên ngài nói: "Chúa phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi" (Ga 3, 30).

Thánh Gioan Baotixita thật là một chứng nhân tuyệt hảo. Ngài đã biết tự hạ mình xuống để Chúa được nổi bật lên. Ngài đã biết ẩn mình trong bóng tối để Chúa được xuất hiện trong ánh sáng. Ngài đã biết tự huỷ mình đi để Chúa được nhận biết. Ngài đúng là người đi mở đường cho Chúa. Ngài thực là chứng nhân của ánh sáng.

Mùa Vọng này, mọi người đang chờ đón Chúa đến. Chúa muốn tôi hãy đi mở đường cho Chúa. Chúa muốn tôi làm chứng cho Chúa. Chúa muốn tôi giới thiệu Chúa cho anh em. Nhưng rất nhiều khi, thay vì mở đường cho Chúa, tôi chỉ lo mở đường cho tôi. Rất nhiều khi thay vì làm chứng cho Chúa, tôi chỉ lo làm chứng cho tôi. Rất nhiều khi thay vì giới thiệu Chúa, tôi chỉ giới thiệu bản thân mình.

Hôm nay, Chúa mời gọi tôi hãy soi mình vào tấm gương của thánh Gioan Baotixita để biết cách dọn đường cho Chúa ngự đến.

Xin thánh Gioan Baotixita giúp chúng con sống trong sáng để trở nên chứng nhân của ánh sáng.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Huế





Print this item

Information Chúa Nhật II Mùa Vọng – Năm B
Posted by: LongHai - 12-08-2017, 08:23 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Tìm Một Con Đường

Hãy trở nên những người dọn đường, phá tan những vật cản để Chúa đến trần gian. Hãy tìm cho mình một con đường, đó là con đường đoạn tuyệt với u tối. Đó cũng là con đường làm cho con tim vui trở lại, vì có Chúa ở cùng chúng ta.

"Tìm một con đường tìm một lối đi
Ngày qua ngày đời nhiều vấn nghi"

Đó là câu mở đầu bài hát "Và con tim đã vui trở lại", một sáng tác của Đức Huy. Bài hát như một hồi tâm, nhìn lại quá khứ, thấy những chán chường đau thương và thất vọng trên đường đời. Rồi bỗng một ngày, tình yêu đến "trong ánh nắng mai, xóa tan màn đêm u tối cho tôi biến đổi tâm hồn, thành một người mới". Nhờ tình yêu mà con tim đã vui trở lại, trong hân hoan vui mừng. Tác giả nhìn cuộc đời với một lăng kính mới, đẹp hơn, đáng yêu và tràn trề nghị lực. Không còn u tối và bi quan, nhưng tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

Mỗi chúng ta cũng đang chọn cho mình một con đường. Có những người khôn ngoan chọn đúng hướng, nhưng cũng có người dại dột chọn sai đường. Người chọn đúng hướng tìm thấy hạnh phúc, người chọn sai đường chuốc lấy trầm luân. Con đường đúng không phải còn đường đầy nhung lụa, con đường sai không phải con đường đầy chông gai. Đường nào cũng đan xen giữa nước mắt với nụ cười, pha trộn giữa niềm vui với đau khổ. Người khôn ngoan thận trọng tìm thấy giữa những chông gai một cơ hội để vươn lên, để với ơn Chúa, luôn thành đạt vững vàng. Người tiêu cực nhìn đâu cũng thấy khó khăn, dễ nản lòng và thối chí.

Hình ảnh Thánh Gioan Tẩy giả xuất hiện mỗi khi Mùa Vọng về. Ông được diễn tả như một vị khổ tu, gần gũi với thiên nhiên, hằng ngày ăn châu chấu và mật ong rừng. Sứ điệp ông rao giảng cũng quyết liệt gay gắt và "khô khan", đầy chất sa mạc như con người của ông vậy. Ông mời gọi mọi người hãy sám hối, sứ điệp của ông là "hãy dọn đường để đón Chúa". Lời giảng của ông, tuy cứng cỏi cương quyết nhưng có sức thu phục lòng người. Họ tuôn đến với ông như dòng nước chảy để được thanh tẩy tội lỗi trong sự sám hối chân thành.

Để đón Chúa đến trong cuộc đời, người tín hữu phải lo dọn đường. Những bon chen tận tâm lo lắng thường làm chúng ta quên Chúa và quên anh chị em. Lối sống ích kỷ đã làm cho con đường cuộc đời trở nên cong queo, khúc khuỷu. Mở lòng đón Chúa, thân thiện với những người xung quanh, chính là "dọn đường" một cách cụ thể và hữu hiệu nhất. Những cố gắng phục thiện sẽ làm cho con đường cuộc đời trở nên ngay thẳng. Hai ngàn năm đã qua, sứ điệp của Thánh Gioan Tẩy giả luôn mang tính thời sự, bởi lẽ ai trong chúng ta mà không chìm đắm trong đam mê, cần phải hồi tâm và canh tân cuộc sống?

Thánh Gioan Tẩy giả luôn ý thức mình chỉ là người dọn đường. Ông thi hành sứ mạng trong sự khiêm tốn. Sau này, ông tuyên bố: "Người (Chúa Giêsu) phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại". Mùa Vọng vừa giúp chúng ta canh tân cuộc đời, vừa nhắc nhở chúng ta hãy mở đường để Chúa đến với cuộc sống hôm nay. Nói cách khác, mỗi tín hữu hãy trở thành một Gioan Tẩy giả, một tiếng kêu trong hoang địa, để khẳng định với mọi người xung quanh rằng Chúa yêu thương con người. Người đã làm người và đang ở giữa chúng ta. Giáo Hội hôm nay cần những chứng nhân đích thực, có khả năng rao giảng về sự hiện diện và lòng nhân hậu của Thiên Chúa giữa một xã hội còn nhiều người vẫn khước từ Người. Có nhiều người không muốn để Chúa can thiệp vào cuộc sống của họ. Bởi lẽ, nếu chấp nhận để Chúa đi vào cuộc đời, họ phải chịu lột xác, rời bỏ những đam mê trần tục và con đường mòn cũ. Xã hội hôm nay đang phát triển mọi mặt, nhưng cũng có nguy có trở thành hoang địa, khi con người trở nên vô cảm với nhau và vô trách nhiệm với cuộc đời.

Mùa Vọng còn hướng chúng ta về lúc chung cục của cuộc sống, tức là lúc ta kết thúc hành trình trần thế. Dù muốn hay không, ai cũng phải đi đến đoạn cuối của con đường cuộc đời. Tìm một lối đi cho mình trong ân sủng, yêu thương và bình an, đó chính là điều kiện căn bản để chúng ta kết thúc hành trình ấy trong hân hoan và hạnh phúc. Thánh Phêrô lưu ý: "Vì mọi vật ấy tiêu tan đi, nên anh em càng phải sống thánh thiện và đạo đức biết bao, khi anh em mong chờ và thôi thúc ngày Chúa đến, ngày mà các tầng trời bốc cháy tiêu tan, và ngũ hành bị thiêu rụi" (Bài đọc II). Quả vậy, sống thánh thiện trong khi chờ đợi Chúa đến, đó chính là căn tính của người Kitô hữu. Đó cũng là một điều kiện không thể thiếu để trở nên một Kitô hữu đích thực. Nếu luôn chuẩn bị sẵn sàng, chúng ta chẳng lo gì, Chúa đến lúc nào cũng được.

Hãy trở nên những người dọn đường, phá tan những vật cản để Chúa đến trần gian. Hãy tìm cho mình một con đường, đó là con đường đoạn tuyệt với u tối. Đó cũng là con đường làm cho con tim vui trở lại, vì có Chúa ở cùng chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Dọn Đường Cho Chúa

Trong một trận lũ lụt kia, nhiều du khách trên tuyến đường Bắc - Nam bị kẹt ở miền Trung. Lý do là đèo Hải Vân bị sạt lở, xe cộ không đi lại được. Nhiều đoạn đường sắt bị nước lũ cuốn đi, nên tàu Bắc - Nam cũng đành ủ rũ nằm chờ. Nhiều làng bị nước ngập, dân làng muốn thoát ra nhưng không đi được vì đường sá không còn. Nhiều đoàn cứu trợ muốn đến những làng xa xôi, nhưng không có đường đi, nên đành chịu bó tay.

Những con đường thật là quan trọng. Đường đi giúp cho người bị nạn có thể thoát ra. Đường đi giúp cho người bị nạn đón nhận được sự cứu trợ. Đường đi nối liên lạc giữa người với người. Đường sá hư hỏng làm giao thông ngừng trệ, chậm trễ việc cứu trợ, ngăn cách người với người. Muốn cho giao thông mau lẹ, muốn việc cứu trợ có kết quả, muốn cho con người gần gũi nhau, phải sửa chữa đường đi cho thật tốt.

Con đường vật lý đã cần. Nhưng con đường tâm lý còn cần hơn. Nếu con đường tâm lý bị hư hỏng thì dù có ở sát cạnh nhau, người ta cũng vẫn cứ xa nhau.

Tương tự như thế, ta cần có con đường thiêng liêng thật tốt để đón Chúa đến. Thật ra Chúa đã đến từ lâu, nhưng ta chưa đón nhận được vì con đường thiêng liêng trong tâm hồn ta đã bị hư hỏng.

Tâm hồn ta có những đỉnh đồi kiêu ngạo luôn muốn nâng mình lên, luôn khoe khoang, không bao giờ chịu thua kém người khác. Tâm hồn ta có những ngọn núi tự ái cao ngất trời xanh, không bao giờ chịu nhận lỗi, không bao giờ chịu tha thứ.

Tâm hồn ta có những hố sâu tham lam muốn chiếm đoạt tất cả, muốn thu vén tất cả vào túi riêng. Tâm hồn ta có những hố sâu chia rẽ, luôn gây ra bất hoà, luôn giận hờn, luôn ganh ghét, luôn nghi kỵ. Tâm hồn ta có những hố sâu đam mê, miệt mài đuổi theo danh, lợi, thú. Tâm hồn ta có những hố sâu dục vọng nặng nề thú tính.

Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự dối trá, không thành thật với Chúa, không thành thật với người khác và không thành thật với chính mình. Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự trốn tránh bổn phận, của sự giả hình, của sự thiếu duyệt xét lương tâm.

Tâm hồn ta có những lượn sóng gồ ghề của những lời nói độc ác, tàn nhẫn. Tâm hồn ta gồ ghề vì thói lười biếng không chịu cố gắng thăng tiến bản thân. Tâm hồn ta gồ ghề vì những phê bình chỉ trích thiếu tính cách xây dựng.

Tất cả những ngọn đồi, những vực sâu, những khúc quanh co, những lượn sóng gồ ghề ấy ngăn chặn Chúa đến với ta. Nên hôm nay, Thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi ta hãy sửa chữa con đường thiêng liêng cho tốt đẹp để đón Chúa Giêsu đến.

Hãy bạt đi thói kiêu căng tự mãn. Hãy bạt đi tính tự ái ngang ngạnh. Hãy lấp đi những hố sâu tham lam, chia rẽ, bất hoà. Hãy lấp đi những hố sâu đam mê, dục vọng. Hãy uốn thẳng lại những quanh co dối trá. Hãy uốn thẳng lại những khúc quanh giả hình. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề độc ác. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề nói hành nói xấu.

Đổi mới một con đường thì dễ, nhưng đổi mới tâm hồn không dễ chút nào. Ngoài những cố gắng bản thân, còn cần đến những phương thế. Đời sống của Thánh Gioan Baotixita đề nghị cho ta 3 phương thế rất tốt.

Phương thế thứ nhất là vào sa mạc. Sa mạc là nơi hoang vu vắng vẻ giúp ta sống cô tịch. Trong cô tịch, ta dễ chìm sâu xuống đáy lòng mình để gặp gỡ Chúa. Một mình ta diện đối diện với Chúa. Trong thân mật, Chúa sẽ dạy ta biết Thánh Ý để ta thi hành. Đức Giêsu, trước khi đi rao giảng cũng đã vào sa mạc 40 ngày để tìm Thánh Ý Chúa Cha. Sa mạc đây được hiểu là những giờ cầu nguyện riêng tư thân mật một mình ta với Chúa.

Phương thế thứ hai là mặc áo da thú. Mặc áo da thú có nghĩa là ăn mặc đơn sơ, không chải chuốt. Một tâm hồn mặc áo da thú là một tâm hồn biết sống thực với chính mình, biết nhìn nhận những yếu đuối lỗi lầm và xin Chúa tha thứ. Thái độ đơn sơ khiêm nhường như thế chính là khởi điểm để tiến lên trên con đường thánh đức.

Phương thế thứ ba là ăn châu chấu và mật ong rừng. Đây có ý nói về một đời sống khổ chế. Hãm dẹp những tính mê tật xấu, hạn chế những đòi hỏi của thân xác để bắt nó quy phục linh hồn. Giảm bớt những nhu cầu không cần thiết để bồi dưỡng đời sống tâm linh.

Thánh Gioan Baotixita đã sống theo chương trình 3 điểm này, nên Ngài đã trở thành người mở đường cho Đấng Cứu Thế. Nếu chúng ta biết áp dụng 3 phương thế ấy trong Mùa Vọng này, ta sẽ biến tâm hồn ta thành một con đường thẳng tắp cho Chúa Giáng Sinh ngự đến.

Lạy Chúa, xin cứu con khỏi mọi tội lỗi để con xứng đáng đón rước Chúa. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Con đường tâm hồn tôi có những đồi núi, vực sâu, khúc quanh nào cần sửa chữa?
  2. Tôi có cần đến những phương thế của Thánh Gioan Baotixita không?
  3. Tôi sẽ làm gì trong tuần này để thực hành Lời Chúa?
  4. Trong bài Tin Mừng Chủ nhật thứ II Mùa Vọng này, tôi tâm đắc nhất câu nào?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Huế


Mùa Vọng: Mùa Trong Veo

Trên chuyến xe xuôi miền lục tỉnh, người ta chuyển đến tôi một cuốn truyện cũ đã mất bìa để đọc cho quên đường dài. Truyện kể lại mối tình giữa một chàng trai là con sĩ quan học tập và một cô gái là con cán bộ chức quyền. Họ thương nhau và muốn kết hôn với nhau, nhưng khi công khai ý định ấy, họ đã gặp phải những lực cản từ hai phía gia đình. Đã có nhiều nghi ngờ từ phía cha chàng trai và cũng có lắm nghi ngại từ phía cha cô gái. Giải pháp phải chọn là chia xa đôi lứa.

Đành lòng làm thế, nhưng họ vẫn âm thầm chờ đợi nhau, cho đến khi cha chàng trai mãn hạn học tập về nhà và cha cô gái đã đến tuổi về hưu. Hai người cha có dịp gần gũi cảm thông làm chất keo thân ái cho tình yêu đôi trẻ có điều kiện gắn hàn. Kết truyện là đám cưới.

Truyện có hậu và có nét hấp dẫn riêng của thể loại, nhưng điều hấp dẫn hơn hết đối với tôi không phải là cốt truyện cho bằng chính tựa đề "Tình yêu trong veo": trong veo giữa hai người cha biết xoá tan ngờ vực để thêm gần gũi; trong veo giữa hai bạn trẻ biết vượt qua thử thách để giữ vững tình yêu. Xin mượn tựa đề "Tình yêu trong veo" ấy để gọi tên Mùa Vọng là mùa trong veo một tình yêu.

1. Bằng tình yêu trong veo, Thiên Chúa trao thân cho con người.

Trong khi người Do Thái còn đang mải miết với một vì Chúa ở trên cao và dường như say sưa về một Đấng ở xa con người, đến nỗi trong quan hệ nguyện cầu, thay vì xin những biểu tỏ gần gũi để dễ dàng nắm bắt, họ lại chỉ dám xin một dấu lạ điềm thiêng mãi tận trời cao vượt quá tầm nhìn; và trong niềm mong chờ Đấng Cứu Thế, vốn là mạch sống hy vọng cho cả dân tộc, họ những tưởng nghĩ rằng Người sẽ đến, nhưng là đến trong cung cách của một vị Chúa oai phong lẫm liệt, cho muôn dân nếu không phải cúi đầu sợ hãi thì cũng phải bái phục tôn thờ. Có ngờ đâu, khi Chúa đến, Người lại chọn cho mình một cách đến rất khác lạ.

Người đến thật gần: trong thân phận của một con người để làm người giữa muôn người trần thế. Người đến thật thấp: thấp đến nỗi chọn cho mình cách sống của một người cùng khổ dưới đáy xã hội. Người yêu thương con người để sẵn sàng trao thân cho họ, chấp nhận phải điều đình, chấp nhận được cưu mang, chấp nhận được sinh hạ, chấp nhận được làm người: "Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1, 14)

Phải chăng khi trao thân cho con người như thế, Thiên Chúa sẽ được thêm vinh quang? Phải chăng nếu không trao thân cho nhân loại, Thiên Chúa vẫn là Chúa, nhưng là một vị Chúa không được ai biết đến hay là một vị Chúa bị kết án phải cô đơn? Thưa không phải thế. Chính khi trao thân cho con người trong mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa không còn úp mở như trong thời Cựu Ước nữa, Người đã dứt khoát cho thấy mình là Đấng giải cứu con người và sẵn sàng làm hết cách để thực hiện bằng được chương trình của Người mà không đợi chờ mảy may vinh quang nào ngoài lợi ích cứu độ cho người trần gian. Để độ thế, Thiên Chúa đã nhập thể; để cứu người, Thiên Chúa đã làm người.

Chính hai Danh xưng được nêu lên trong phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay đã nói lên tất cả. Danh xưng Emmanuel khẳng định "Thiên Chúa ở cùng chúng ta", Danh xưng Giêsu bộc lộ "Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ" (Mt 1,23-25). Nối kết hai Danh xưng ấy nơi Đấng Cứu Thế, ta sẽ thấy một tình yêu trong veo Thiên Chúa dành cho con người: Người là Thiên Chúa ở cùng ta để cho ta ơn cứu rỗi, và Người là Thiên Chúa cứu độ ta bằng cách ở cùng ta.

2. Bằng tình yêu trong veo, con người gửi phận cho Thiên Chúa.

Nếu bằng tình yêu trong veo cứu độ, Thiên Chúa trao thân cho con người, thì Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng cho thấy những nhân vật gần gũi với mầu nhiệm Giáng Sinh nhất là Đức Maria và thánh Giuse đã bằng tình yêu trong veo tự nhiên gửi phận mình cho Thiên Chúa.

Đối với Đức Maria, tình yêu trong veo đã rõ qua tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, mà Phụng Vụ hữu ý mừng kính ở đầu Mùa Vọng. Tình yêu ấy đã rõ trong việc Mẹ dâng mình vào Đền Thánh, nhưng tình yêu ấy còn rõ ràng hơn khi tiếp cận với mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Ngày Truyền Tin, mới gặp sứ thần, Đức Maria đã bối rối, thứ bối rối của một tình yêu trong sạch buổi đầu gặp gỡ. Rồi, lúc được đề xuất làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria đã băn khoăn, thứ băn khoăn của một tình yêu trong sáng muốn được giải thích đôi câu. Và chính lúc thưa "Xin vâng" (Lc 1, 38) là cả một tình yêu trong veo như chưa bao giờ trong đến thế, Đức Maria đã gửi trọn phận mình vào tay Thiên Chúa, bất chấp đó là một mạo hiểm chết người: trinh nữ mà lại mang thai, phải ăn nói ra sao với thánh Giuse? Mới đính hôn thôi mà sắp thành mẹ, phải dàn xếp thế nào cho hợp luật pháp?

Còn thánh Giuse, con người lặng thầm nhất của Mùa Vọng, đã được đặt vào một tình huống khó xử đến độ ray rứt, nhất là trong những ngày trước lúc Đấng Cứu Thế giáng sinh như Phúc Âm hôm nay mô tả. Nhưng chính ở đây ông đã chứng minh bằng những nét đẹp kín đáo hào hùng về một tình yêu trong veo từ lâu đã dệt nên đời sống qua những lựa chọn xé lòng. Là người công chính, dù ghi nhận ít nhiều dấu hiệu chuyển biến nơi Đức Maria, ông cũng chẳng dám nghi ngờ mà chỉ một thoáng băn khoăn, để rồi định chọn cho mình giải pháp âm thầm rút lui. "Đào vi thượng sách" là giải pháp an toàn nhất. Nhưng chính lúc ấy, được tỏ nguồn cơn, ông đã tiếp nhận ý Chúa và tiếp đón Đức Maria về nhà mình bằng một tình yêu trong veo, mà người trần mắt thịt dẫu có bản lĩnh cách mấy cũng khó mà dám xâm mình mạo hiểm (Mt 1, 24).

Nhìn như thế, tình yêu trong veo đã liên kết Đức Maria và thánh Giuse, để mái nhà chung sống không chỉ là nơi che nắng trú mưa cho qua ngày đoạn tháng, mà đã trở thành một mái ấm của những tấm lòng biết mở ra cưu mang Con Thiên Chúa và sẵn sàng để sinh Người ra cho dương thế, cho dẫu tình yêu trong veo ấy trên đường cứu độ như một bản trường ca sẽ không thiếu những quãng nghịch, mà việc khó xử hôm nay trong Phúc Âm mới chỉ là những nốt nhạc mở đầu.

3. Cũng bằng tình yêu trong veo, ta đón mừng lễ Giáng Sinh.

Hiểu như trên, Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng rõ ràng là một tình yêu hai chiều trao gửi: Thiên Chúa trao thân cho con người để con người biết gửi phận mình cho Thiên Chúa. Đồng thời cũng là Chúa Nhật trong veo của những tấm lòng biết gửi trao tấm lòng trong ơn cứu độ.

Trên nền tảng ấy, tình yêu trong veo đã trở nên tinh thần phải có để đón Chúa Giáng Sinh. Trong những ngày này, đi ra phố xá, đã nghe vang lên những bài ca Giáng Sinh quen thuộc; ngang qua nhà thờ, đã thấy trưng bày những bộ Noel với hang đá, cây thông, đèn sao đẹp mắt; và đi tới chỗ nào cũng thấy thấp thoáng Giáng Sinh với muôn màu lấp lánh. Nhưng có một màu được xem là không thể quên hay không bao giờ quên đối với mọi tín hữu mừng lễ Giáng Sinh, màu đó không ở trên áo quần giầy dép, môi mép tóc tai, hoa cài áo khoác, mà là ở trong tấm lòng kìa! Đó là màu trong veo của những tâm hồn trinh trong biết cưu mang ý Chúa và biết sinh hoa kết trái trong cuộc sống công minh chính trực của mình.

Nếu ngày xưa trong khúc hát quan họ Sion, câu xướng "Ai được lên Núi Chúa?" đã nhận được lời đáp "Chỉ những người thật thà ngay chính tay sạch lòng thanh mới được bước tới Thánh Cung" (Tv 23,3-4), thì hôm nay cũng thế, trong bài ca cuộc sống ai cũng nôn nao xôn xao ồn ào huyên náo tiếp cận lễ Giáng Sinh cả, kẻ tiếp thị, người tiếp tân; nhưng chỉ có những tấm lòng trinh trong mới xứng đáng trở nên Hang đá tiếp đón Chúa sinh vào. Chúa chỉ một lần đến sinh ra trên trần thế là đủ để cứu chuộc muôn người, nhưng giả như Người có đến sinh ra nhiều lần hơn nữa cũng vẫn thiếu, nếu lòng người chưa sẵn sàng một tình yêu trong veo mở ra đón nhận. Liệu ta hôm nay đã sẵn có một tâm hồn như thế trước lễ Giáng Sinh?

Hơn nữa, tình yêu trong veo cũng là tiếng nói cuối cùng của Mùa Vọng thúc đẩy ta đến với những người xung quanh. Không thể có Mùa Vọng đầy đủ nếu bỏ quên chiều kích tha nhân trong tình yêu của mình, và cũng chẳng tiếp đón Chúa cho đủ nếu từ chối tiếp nhận anh chị em gần gũi với mình trong những sinh hoạt hằng ngày.

Trong Phúc Âm, Giuse biết tiếp nhận ý Chúa "qua giấc mơ", để rồi sau đó "tỉnh dậy" ông mau mắn đón Đức Maria nên bạn đường bạn đời của mình, cho dẫu hậu thế có kẻ điều ong tiếng ve xem ông như kẻ "vô tư". Nhưng đó lại là bước đột phá của một tình yêu trong veo biết nhận ra rằng: Thiên Chúa đã ân cần trao thân cho mình qua mầu nhiệm Nhập Thể, thì mình cũng tín thác gửi phận mình trong mầu nhiệm quan phòng của Thiên Chúa. Đó là hai chiều gặp gỡ của tình yêu Giáng Sinh.

Tóm lại, tình yêu trong veo là động lực khiến Chúa đến với con người và là nguồn lực thúc đẩy con người tiếp đón Chúa, để trong cuộc sống cụ thể trở thành nỗ lực của mọi tín hữu đón lễ Giáng Sinh. Trong khi còn chuẩn bị và chưa thực sự được tiếp đón Chúa, hãy bắt đầu bằng cách thực tập tiếp đón những hình ảnh sống động của Chúa là những người ta gặp hoặc những người gặp ta bằng một tình yêu trong veo luôn thăng tiến. "Nếu không gặp Ngài trong nghèo khổ, sẽ chẳng gặp Ngài giữa cao sang. Nếu không gặp Ngài ở dưới đất, sẽ chẳng gặp Ngài chốn Thiên Đàng" (thơ Xuân Ly Băng).

Đến đây, xin được khép lại những chia sẻ Mùa Vọng năm nay. Xin cám ơn Mùa Vọng đã đem đến những ý nghĩ đẹp màu. Xin cám ơn cộng đoàn đã vui lòng lắng nghe. Hy vọng những tâm tình chia sẻ cũng cung cấp chút ý tưởng giúp mỗi người hình thành được Máng Cỏ tâm hồn. Và cám ơn đứa cháu nhỏ đã tình cờ viết lộn chữ Mùa Vọng thành chữ "Màu Vọng" để có được bốn sắc màu chia sẻ nơi đây. Qua xanh đến tím gặp hồng, dìu ta đón Chúa với lòng trong veo.

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống
Trích từ nguồn: Tổng Giáo Phận Hà Nội





Print this item

Information Chúa Nhật I Mùa Vọng – Năm B
Posted by: LongHai - 11-30-2017, 02:59 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Tỉnh Thức và Cầu Nguyện

Mùa Vọng là mùa chờ đón Chúa đến. Chúa sẽ đến nhưng ta không chắc gặp được Người. Vì Người đến rất bất ngờ và rất âm thầm. Muốn gặp được Chúa ta phải tỉnh thức.

Tỉnh thức có nghĩa là đừng mê ngủ. Chúa thường hay đến vào ban đêm nghĩa là vào lúc ta không ngờ. Đời sống có những bóng đêm ru ta ngủ say mê khiến ta không gặp được Người. Có những bóng đêm của tội lỗi giam cầm hồn ta trong giấc ngủ bạc nhược khiến ta không còn đủ sức thoát ra. Tội lỗi lôi kéo tội lỗi. Tội lỗi chồng chất giống như những tảng đá gìm ta xuống vực sâu vô tận. Có những bóng đêm của danh vọng ru hồn ta ngủ quên trên vinh quang chói lọi. Vinh quang giống như ngọn đèn đốt cháy biết bao đời thiêu thân. Có những bóng đêm của xác thịt cuốn hồn ta vào giấc mộng lạc thú. Lạc thú giống như chiếc lưới rất mềm mại, rất nhẹ nhàng, nhưng rất hiểm độc. Linh hồn đã sa vào khó có thể thoát ra. Có những bóng đêm của thói ích kỷ chỉ biết sống cho bản thân mình. Ích kỷ giống như một hang sâu, càng đi vào càng thấy tối tăm. Có những bóng đêm của tiền tài bao phủ ta trong giấc mộng giàu sang phú quí. Chìm đắm trong giấc mộng, ta sẽ chẳng nghe được bước chân Chúa đi qua.

Tỉnh thức cũng có nghĩa là tỉnh táo phân định. Chúa đến rất âm thầm và rất bé nhỏ. Người không đến với cờ quạt trống phách tưng bừng, nhưng đến trong âm thầm lặng lẽ. Người không đến trong uy nghi lẫm liệt của những vị vương đế, nhưng Người đến trong hiền lành khiêm nhường như một người phục vụ. Người không mặc gấm vóc lụa là, nhưng đơn sơ trong y phục dân dã. Người không đến như vị quan toà nghiêm khắc, nhưng như một người cha nhân hậu, một người bạn dễ thương dễ mến. Người đang đến qua những con người hiền lành bé nhỏ quanh ta. Người đang đến trong những con người khốn khổ túng cùng. Người đang đến qua những khuôn mặt xanh xao hốc hác. Người đang đến trong những tấm thân gầy guộc. Người lẫn vào giữa đám đông vô danh. Người chìm mất trong số những kẻ bị loại ra ngoài lề xã hội. Người ẩn mình giữa đám người ăn xin đang lê bước khắp các nẻo đường cát bụi. Người đang rét run với cặp mắt ngơ ngác thất thần ở giữa những nạn nhân bão lụt. Phải tỉnh táo lắm mới nhận ra Người. Phải tỉnh thức lắm mới gặp được Người.

Tỉnh thức không có nghĩa là cứ ngồi đó mà chờ đợi. Tỉnh thức là bắt tay vào hành động. Chúa như ông chủ đi vắng. Người cho ta được toàn quyền khi Người vắng nhà. Người giao trách nhiệm cho ta trông coi gia đình ta, giáo xứ ta, địa phương ta, đất nước ta và cả thế giới nơi ta đang sống. Ta được tự do hành động. Ta có trách nhiệm làm cho gia đình, xứ đạo, địa phương, đất nước, và cả thế giới được phát triển về mọi mặt. Vì thế, tỉnh thức là nhìn thấy những nhu cầu của anh em, và đáp ứng những nhu cầu đó. Tỉnh thức là nhìn thấy ý Chúa trong những trào lưu thời đại. Tỉnh thức là nhận biết Chúa hành động trong những tâm hồn thiện chí thuộc các niềm tin, mầu da, quan điểm khác nhau để biết cộng tác trong việc xây dựng xã hội. Tỉnh thức là dấn thân hy sinh phục vụ anh em trong quên mình.

Ngay từ đầu mùa Vọng, Chúa mời gọi ta hãy tỉnh thức. Hãy bước ra khỏi giấc ngủ miệt mài, lười biếng. Hãy đoạn tuyệt với những giấc mộng phù hoa. Hãy thôi đuổi theo những đam mê dục vọng. Hãy nói không với những đồng tiền bất chính.

Hãy tỉnh táo phân định để nhận ra dung mạo thực sự của Đức Kitô. Đừng chạy theo những khuôn mặt mang dáng vẻ cao sang quyền quý. Đừng chạy theo những khuôn mặt nặng về quyền lực. Đừng chạy theo những lời hứa hẹn giàu sang. Dung mạo đích thực của Đức Kitô là nghèo hèn, là khiêm nhường, là bé nhỏ.

Hãy tỉnh thức để làm việc không ngừng, để quên mình, hi sinh phục vụ cho lợi ích của đồng loại.

Như thế, tỉnh thức không phải là việc dễ dàng. Tự sức ta sẽ khó mà tỉnh thức. Nên ta phải tha thiết cầu nguyện xin ơn Chúa trợ giúp. Có ơn Chúa thúc đẩy, ta mới có thể dứt bỏ con đường tội lỗi xưa cũ. Có ơn Chúa soi sáng, ta mới đủ tỉnh táo nhận ra dung mạo đích thực của Đức Giêsu. Có ơn Chúa trợ giúp, ta mới đủ hăng hái ra đi phục vụ trong quên mình.

Lạy Chúa, xin giữ hồn con tỉnh thức để con nhận biết Chúa đang đến với con trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Tỉnh thức là đừng mê ngủ. Hãy kể ra những bóng tối khiến ta mê ngủ?
  2. Tỉnh thức là tỉnh táo phân định. Làm thế nào để nhận ra khi Chúa đến?
  3. Tỉnh thức là phải hành động. Muốn tỉnh thức, bạn phải làm những gì?
  4. Mùa Vọng này, bạn quyết tâm làm gì để tỉnh thức?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Con Cần Đến Chúa

Vắng Chúa, đời sống chúng ta trở thành vô nghĩa, vì Chúa là nguồn mạch của niềm vui và hạnh phúc. Mùa Vọng là thời điểm để chúng ta suy nghĩ về sự cần thiết này và dọn lòng đón Chúa đến trong đời.

Con người cần có Chúa như thân xác cần hơi thở, như cây cỏ cần mặt trời. Vắng Chúa, đời sống chúng ta trở thành vô nghĩa, vì Chúa là nguồn mạch của niềm vui và hạnh phúc. Mùa Vọng là thời điểm để chúng ta suy nghĩ về sự cần thiết này và dọn lòng đón Chúa đến trong đời. Trước trào lưu chối bỏ Thiên Chúa, Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI đã viết: "Chủ nghĩa nhân bản loại trừ Thiên Chúa là một chủ nghĩa phi nhân... Ý thức về tình yêu bất diệt của Thiên Chúa sẽ nâng đỡ ta trên con đường dấn thân đầy khó khăn và cao cả cho công lý và phát triển các dân tộc; tình yêu này sẽ đưa ta vượt qua những thành công và thất bại trong nỗ lực kiên trì thực hiện những trật tự công chính cho chuyện nhân sinh" (Thông điệp Spe Salvi, số 78).

Ngôn sứ Isaia đã diễn tả nỗi khát vọng của con người cần có Chúa chăm sóc dưỡng nuôi. Vì vắng bóng Ngài, nên dân Israen đi lạc đường và tâm hồn họ trở nên chai đá. Nội dung Bài đọc I vừa là một khát vọng, vừa là một lời cầu nguyện xin Chúa tỏ tình thương đối với dân Ngài đã chọn. Trải qua dòng lịch sử, kinh nghiệm của dân Israen đã chứng minh, mỗi khi họ kiêu ngạo thách thức Chúa hoặc không tuân theo giáo huấn Ngài chỉ dạy, họ sẽ gặp những thảm họa tai ương trong cuộc sống. Trước nỗi trống vắng ấy, ngôn sứ Isaia đã cầu nguyện: "Lạy Chúa, xin Chúa băng qua các tầng trời mà ngự xuống!".

Lời cầu nguyện của ngôn sứ Isaia cũng là tâm tình của Giáo Hội trong Mùa Vọng: "Trời cao, hãy đổ sương mai, ngàn mây, hãy mưa Đấng Công chính!". Con người thời nay có khuynh hướng gạt bỏ Chúa ra khỏi đời sống của họ. Vì đâu có bạo lực tại học đường, trong gia đình hay trong các lãnh vực khác của xã hội? vì họ khước từ sự hiện diện của Chúa ở những nơi đó. Vì đâu có bất công, lừa đảo và mánh mung? vì nhiều người chủ trương một lối sống vô thần, không còn đặt niềm tin nơi Chúa và nơi những giá trị thiêng liêng.

Lời cầu nguyện của ngôn sứ Isaia nài xin Chúa "băng qua các tầng trời mà ngự xuống", đã được Chúa chấp nhận. Cách đây hơn hai ngàn năm, Con Thiên Chúa từ trời cao đã xuống thế làm người và ở với chúng ta. Lễ Giáng Sinh là kỷ niệm ngày Người đến thế gian. Nếu hôm nay chúng ta nài xin Chúa ngự đến, điều đó không có nghĩa là Người đang vắng bóng trong cuộc sống của chúng ta. Không, Người đang hiện diện giữa cuộc đời đầy nhiễu nhương này, nhưng con người không biết đón nhận. Vì vậy, khát vọng mong Chúa đến phải đi liền với những cố gắng để mở rộng tâm hồn đón Người. Hơn nữa, đón Chúa không phải chỉ dừng lại ở những ý niệm và công thức, mà còn ở thiện chí sống đạo đức tốt lành và nhân ái với anh chị em mình. Những tâm hồn thiện chí sẽ được Chúa ngự đến. Khi ngự đến, Người sẽ ban cho họ ân sủng, hạnh phúc và niềm vui.

Để đón Chúa, một điều kiện căn bản là phải tỉnh thức. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh người chủ và những đầy tớ. Những người đầy tớ được trao mỗi người một việc. Dù việc lớn hay nhỏ, dù quan trọng hay tầm thường, người đầy tớ nào cũng phải tỉnh thức và thận trọng. Tỉnh thức ở đây có nghĩa là chuyên cần với việc được trao và cố gắng làm theo ý của ông chủ. Tỉnh thức là lòng yêu mến, trân trọng đối với chủ mình. Tỉnh thức cũng là khôn ngoan chọn lựa cách sống giữa một xã hội giả thật lẫn lộn và đầy những mưu mô toan tính. "Hãy tỉnh thức!", đó là thông điệp được gửi đến cho mọi người, bất luận già hay trẻ, sang hay hèn. Không biết lúc nào, nhưng chắc chắn sẽ có lúc Chúa đến gặp chúng ta.

Nếu chúng ta mở rộng tâm hồn để đón Chúa hôm nay, thì cuộc gặp gỡ với Chúa vào lúc cuối đời sẽ là cuộc gặp gỡ của hạnh phúc và niềm vui, giống như người đầy tớ chuyên cần tỉnh thức. Qua những tâm tình của Thánh Phaolô, cộng đoàn tín hữu ở Côrinto được diễn tả như những người tín hữu đạo đức, đầy đủ mọi đức tính tốt đẹp của người Kitô hữu. Vì vậy, ngài coi họ như những người đang sẵn sàng đón Chúa ngự đến (Bài đọc II).

Mùa Vọng đã về. Tại nhiều xứ đạo, đã bừng lên một bầu khí hân hoan vui nhộn. Tuy vậy, những bài thánh ca du dương cùng với những mô hình hang đá lộng lẫy chỉ có ý nghĩa khi chúng giúp chúng ta đón Chúa. Chúa Giêsu đã đi vào lịch sử cách đây hơn hai ngàn năm. Người đang đi qua cuộc đời chúng ta, qua mỗi gia đình, mỗi xứ đạo và mỗi cá nhân. Những ai đón tiếp Người sẽ dư tràn hạnh phúc. Ai khước từ Chúa sẽ bất hạnh khổ đau.

Lạy Chúa, chúng con cần đến Chúa để soi sáng hướng dẫn và phù trợ chúng con trên những nẻo đường đời. Xin Chúa ngự đến tâm hồn và cuộc sống chúng con, nhờ đó cuộc đời chúng con bừng lên ánh sáng của niềm hy vọng, giữa tăm tối đau thương của cuộc đời. Amen.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXXIV Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 11-23-2017, 08:55 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Vương Quốc Tình Yêu

Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy nhiều sự thật quan trọng về kết cục của con người.

Sự thật thứ nhất là: thế giới này sẽ chấm dứt. Không có gì vĩnh cửu ở đời này. Mọi sự sẽ qua đi. Những gì được coi là bền vững lâu dài rồi cũng tan thành cát bụi. Của cải, tài năng, công danh cũng sẽ trở thành hư vô. Cả đến con người cũ cũng không còn. Sau cùng mọi người bằng nhau và phải đến trước tòa Chúa để chịu phán xét.

Sự thật thứ hai là: mọi người sẽ bị xét xử. Tất cả mọi người sẽ tụ tập lại. Tất cả mọi người sẽ phải trả lời về những gì mình đã làm trong cuộc đời. Cuộc xét xử sẽ diễn ra công khai. Những trách nhiệm liên đới sẽ được sáng tỏ. Những liên hệ thầm kín sẽ được phơi bày. Nếu trên trần gian ta phải chứng kiến bất công thì tại phiên xử cuối cùng này sẽ có công bằng tuyệt đối. Chẳng ai có thể mua chuộc vị quan tòa tối cao, quyền uy và công thẳng.

Sự thật thứ ba: sẽ có một vương quốc mới. Tuy nhiên kết thúc thế giới cũ không phải là chấm dứt tất cả. Chúa Giêsu tổng kết thế giới cũ để đưa nhân loại vào một thế giới mới. Thế giới không còn thời gian. Thế giới vĩnh cửu. Thế giới không còn đau khổ. Thế giới hạnh phúc tràn đầy. Vì Chúa sẽ thiết lập một vươn quốc mới: vương quốc tình yêu. Cuộc xét xử chính là một cuộc tuyển lựa những công dân cho vương quốc mới. Vì là vương quốc tình yêu nên chỉ những ai có tình yêu mới được vào. Luật lệ trong vương quốc mới chỉ có một luật duy nhất: luật tình yêu. Việc cai trị cũng chỉ theo một nguyên tắc duy nhất: tình yêu. Chúa Giêsu trở thành Vua Tình Yêu.

Sự thật thứ bốn: đời này là cơ hội duy nhất. Thế giới mới và vương quốc mới không phải bất ngờ mà có, nhưng được xây dựng ngay từ đời này. Đời này tuy chóng qua nhưng là cơ hội để ta xây dựng vương quốc mới. Những ai có lòng yêu thương anh em, đặc biệt những anh em nghèo khổ, bé mọn, sẽ được tuyển chọn vào Nước Trời. Đời này ngắn ngủi nhưng lại là cơ hội duy nhất. Hết đời này sẽ không còn cơ hội nữa. Sẽ đi đến chung cuộc. Vì thế ta phải vội vàng mau mắn thực hành giới luật yêu thương, kẻo không kịp.

Với dụ ngôn ngày phán xét cuối cùng, Chúa Giêsu đã tỏ lộ cho ta hết những bí mật của vận mạng thế giới. Và chỉ vẽ cho ta con đường để được nhận vào Nước Chúa: thực hành yêu thương bằng những việc làm cụ thể. Cho người đói ăn. Cho người khát uống. Cho người rách rưới ăn mặc. Thăm viếng người đau yếu và kẻ tù đầy. Đây là những việc vừa tầm tay mọi người. Ai cũng có thể làm được. Ai cũng có điều kiện để làm.

Lạy Chúa Giêsu Vua Tình Yêu, xin cho con biết thực hành yêu thương, để được nhận vào Nước Chúa. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Dụ ngôn ngày phán xét cuối cùng cho thấy những sự thật nào?
  2. Ta có thể làm chủ vận mạng mình được không?
  3. Điều kiện để được vào Nước Chúa có khó khăn gì không?
  4. Nếu mọi người đều thực hiện Lời Chúa, bạn nghĩ thế giới này sẽ như thế nào? Có trở thành vương quốc của Chúa được không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Vị Thẩm Phán Nhân Từ và Công Minh

Đức Giêsu là Vua vũ trụ, nhưng là vị Vua đến để phục vụ con người và đem cho họ sự sống, niềm vui và hạnh phúc. Là Thiên Chúa quyền năng, Đức Giêsu cũng là vị thẩm phán nhân từ và công minh. Người sẽ xét xử nhân loại về hành vi và đời sống của họ, vào lúc tận cùng của thời gian.

Quyền lực là một cám dỗ có ma lực ghê gớm đối với con người ở mọi thời đại, vì nó đem cho người ta nhiều bổng lộc, giúp họ vinh thân phì gia. Trong xã hội Việt Nam của chúng ta, những tham vọng quyền lực đã và đang làm nghèo đất nước và gây bức xúc cho người dân. Nhiều người tìm cách đút lót hối lộ để được vào guồng máy lãnh đạo của nhà nước, thậm chí vào Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của một quốc gia (Thông tin trên một số trang mạng điện tử, trong đó có BBC, cho thấy bà Châu Thị Thu Nga khai đã đút lót 30 tỷ để được làm đại biểu Quốc hội). Trong bối cảnh này, tôn vinh Đức Giêsu với tước hiệu "Vua" dễ làm cho người đương thời hiểu sai về sứ vụ của Người. Chính Chúa đã nói với quan Philatô: "Nước tôi không thuộc về thế gian này". Đức Giêsu là Vua vũ trụ, nhưng là vị Vua đến để phục vụ con người và đem cho họ sự sống, niềm vui và hạnh phúc. Là Thiên Chúa quyền năng, Đức Giêsu cũng là vị thẩm phán nhân từ và công minh. Người sẽ xét xử nhân loại về hành vi và đời sống của họ, vào lúc tận cùng của thời gian.

Vị thẩm phán này không chỉ xuất hiện vào thời tận thế, nhưng Người luôn đồng hành với con người trong hành trình dương thế. Ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã dùng hình ảnh người mục tử và đàn chiên để diễn tả sự chăm sóc của Thiên Chúa đối với Dân riêng Ngài đã chọn. Những chi tiết được nêu giúp chúng ta liên tưởng đến hình ảnh của một người mẹ, luôn hiểu thấu tình trạng của mỗi người con trong những đứa con của mình. Chúa Giêsu đến trần gian đã thực hiện những gì Cựu ước đã loan báo. Người tuyên bố, Người là Mục tử nhân lành. Người chăm sóc các tội nhân, chữa lành những người bệnh, giúp những người bị gạt ra bên lề trở lại hòa nhập cuộc sống xã hội. Không một con chiên nào bị quên lãng hay bỏ rơi, dù là những con chiên bệnh tật còm cõi. Người mục tử còn cất công lặn lội đi tìm những con chiên bị lạc. Ông vui niềm vui của đoàn chiên, ưu tư trăn trở khi thấy lợi ích của đàn chiên bị đe dọa. Chúa Giêsu đã thể hiện vương quyền của người không phải để thống trị, nhưng để yêu thương và phục vụ con người. Chúa cũng khẳng định: Người không đến trần gian để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình để cứu rỗi con người. Trọn vẹn cuộc sống và nhất là cái chết của Chúa trên thập giá đã chứng minh điều đó. Chúa chấp nhận sự chết để cho con người được sống. Người chấp nhận đau khổ để con người được hạnh phúc. Đó là vương quyền đích thực của Người. Vương quyền này, hoàn toàn khác với vương quyền thế gian.

Một cách đặc biệt, vương quyền của Đức Giêsu thể hiện qua cuộc phán xét cuối cùng, hay còn gọi là phán xét chung. Đó là ngày tận thế, khi vũ trụ này sẽ qua đi, nhường chỗ cho trời mới đất mới. Lúc đó, hậu vận tương lai của mỗi người cũng được quyết định. Chính Chúa Giêsu đã diễn tả cuộc phán xét chung, với những chi tiết cụ thể và dễ hiểu. Hình ảnh cuộc phán xét chung cũng là câu trả lời cho biết bao vấn nạn được đặt ra về sự công bằng, về đời sống thánh hiện hoặc gian ác, về sự sống bên kia sự chết. Vị Vua của ngày phán xét chung là vị thẩm phán nhân từ nhưng cũng rất công minh. Người sẽ dựa vào thái độ của mỗi người đối với người nghèo mà quyết định tương lai hậu vận của họ. Tác giả Tin Mừng nói đến sự ngạc nhiên của những người có mặt trong phiên tòa, cả những người tốt cũng như người xấu, khi họ thấy Chúa tự đồng hóa mình với những người đói khát, trần trụi, tù đày, đau yếu, cơ nhỡ… Thì ra ai giúp người nghèo là giúp Chúa. Ai bỏ rơi người nghèo là bỏ rơi Chúa. Trong ngày phán xét chung, không thấy vị Vua đề cập tới những chức tước, địa vị đạo đời của chúng ta hoặc những công lao lẫy lừng chúng ta đã làm khi sinh thời, nhưng Người nhấn mạnh đến cách chúng ta đối xử với anh chị em mình.

Người tín hữu sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Họ là công dân của một vương quốc vĩnh cửu. Vương quốc ấy đang hiện diện trên thế gian như "vương quốc của Tình yêu, vương quốc của Sự thật". Vương quốc ấy sẽ tỏ hiện hoàn toàn khi mọi sự được đặt dưới chân Chúa Giêsu là Vua muôn loài (Bài đọc II).

Là người tín hữu, chúng ta thuộc về đàn chiên của Chúa. Đây là một trong những hình ảnh thường được dùng để diễn tả Giáo Hội. Tuy vậy, so sánh nào cũng khập khiễng. Hình ảnh "con chiên" dễ gây hiểu lầm, vừa coi giáo dân như những người mù quáng mê muội phục quyền, vừa tạo cho người tín hữu lối sống thụ động, thiếu cộng tác tích cực trong việc xây dựng và điều hành cộng đoàn. Ơn gọi Kitô hữu trao trách nhiệm cho chúng ta cộng tác phần mình làm cho vương quyền của Đức Kitô lan tỏa trên thế gian này.

Sống trên đời, đừng quên sẽ có ngày phải đứng trước tòa phán xét. Hình ảnh phán xét sẽ giúp chúng ta sống tốt hơn, để không phải hổ thẹn, và nhất là không bị kết án trầm luân trước vị Thẩm phán nhân từ và công minh là Chúa Giêsu, Đấng Cứu độ chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXXIII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 11-16-2017, 07:52 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Con Đường Hạt Lúa

Khi đến Rôma, tôi thích đi viếng những hang toại đạo. Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất. Không khí trong hang thật lạnh lẽo. Hơi lạnh từ lòng đất toát ra cộng với hơi lạnh từ những nấm mồ càng làm cho khu hầm mộ trở nên lạnh lẽo đáng sợ. Người sống phải đấu tranh với cái chết. Sự chết luôn đe doạ rình rập cướp lấy mạng sống con người. Tại nơi đây, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong 3 thế kỷ. Có lẽ thánh Phêrô và thánh Phaolô cũng đã từng đi lại sinh hoạt trong những hang này. Người tín hữu sơ khai đã phải sống trong những điều kiện như thế để bảo vệ đức tin của mình.

Nhưng thật kỳ diệu. Các vua chúa của đế quốc Rôma hùng mạnh đã tìm cách tiêu diệt một nhóm người nghèo khổ yếu ớt không một tấc sắt tự vệ. Không phải chĩ bắt bớ trong một chiến dịch ngắn hạn mà là một chủ trương kéo dài suốt 300 năm. Vậy mà các vua chúa qua đi rồi, nhóm người nghèo khổ yếu ớt đó không những chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Đi dưới lòng hang toại đạo tôi mới thấm thía ý nghĩa của lời Chúa nói: "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác". Hạt giống Giáo Hội đã bị chôn chặt dưới 3, 4 tầng đất. Hạt giống đức tin đã bị vùi sâu đến 300 năm. Tất cả các thánh Tông đồ, các tín hữu sơ khai đã bị mục nát. Và các ngài đã làm trổ sinh cả một mùa gặt dồi dào phong phú. Cả châu Âu đã tin theo Chúa.

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, ta cũng thấy có sự tương tự. Khi đạo Chúa mới được truyền vào Việt Nam, lập tức bị các vua chúa phong kiến bắt bớ. Cuộc bắt bớ kéo dài khoảng 300 năm. Đủ mọi hình thức để tiêu diệt đạo. Nào là cấm cách bắt bớ. Nào là đe doạ bạc đãi. Nào là xua đuổi ra khỏi những vùng trù phú phồn vinh. Nào là phân sáp, tức là tách ly cha mẹ, anh chị em trong một gia đình bắt đi sống riêng rẽ trong các gia đình ngoại đạo. Nào là lấy thép nung đỏ khắc chữ "tả đạo" trên má ngưới có đạo. Và nhất là lên án tử hình những người có đạo. Người tín hữu trung thành với đức tin phải trốn chạy chết trên rừng thiêng nước độc. Nếu bị bắt có thể bị chết trong tù. Nếu không cũng bị xử án tử hình. Có đấng bị chém đầu. Có đấng bị trói chân tay vào chân ngựa. Bốn con ngựa kéo về bốn góc xé nát xác vị tử đạo. Có đấng bị kết án cho voi dày. Thê thảm nhất có lẽ là án bá đao. Cứ sau một hồi chiêng trống, đao phủ xẻo một miếng thịt cho đến khi chết.

Dù các vua chúa đã dùng đủ mọi cách tiêu diệt nhóm người bé nhỏ yếu ớt trong 300 năm. Trong 3 thế kỷ đó có khoảng 100 ngàn người chịu chết vì đạo. Nhưng số người tin Chúa ngày càng gia tăng. Từ một nhóm nhỏ người bị bắt bớ, nay số tín hữu tại Việt Nam đã hơn 6 triệu người. Hạt giống đức tin gieo trồng vào quê hương Việt Nam đã bị vùi sâu, đã bị mục nát, và nay đã trổ sinh một mùa gặt phong phú. Một lần nữa chúng ta lại xác tín lời Chúa dạy: "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác".

Nhìn lại lịch sử, ta càng thêm tin tưởng vào Lời Chúa. Nếu đang gặp khó khă trong đời sống đạo, ta hãy an tâm. Như Đức Giêsu đã chịu gian nan khốn khó, phải chịu bắt bớ, nhục mạ, phải chịu chết tủi hổ trên Thánh giá, các môn đệ con cái Chúa không thể đi con đường nào khác ngoài con đường Thánh giá. Như các bậc tiền nhân xưa đã chịu vất vả khổ cực để xây dựng một Giáo Hội vững mạnh như ngày nay, ta tin tưởng những gian nan khốn khó của ta rồi cũng sẽ trôi qua. Nếu ta biết chịu đựng những đau đớn, khó khăn, vất vả vì Chúa. Nếu ta vẫn trung thành với Chúa, với đức tin qua mọi gian nan thử thách, chắc chắn Chúa sẽ ban cho ta một mùa gặt bọi thu, kết quả phong phú ngoài sức tưởng tượng của ta.

Lạy Các Thánh Tử đạo Việt Nam, xin dạy con noi gương bắt chước các ngài, luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Khi mới khai sinh Giáo Hội đã bị bách hại trong 3 thế kỷ. Nhưng Giáo Hội vẫn phát triển. Điều này dạy ta điều gì?
  2. Hãy tóm tắt 3 thế kỷ đầu của Giáo Hội Việt Nam.
  3. Muốn đạo Chúa phát triển ta phải làm gì?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Giáo Phận Bà Rịa


Sinh Lợi Thiêng Liêng

Đức tin nói với chúng ta: vốn liếng Chúa ban cho chúng ta là sức khỏe, gia đình, của cải, con cái, công việc, bạn bè và môi trường sống. Chúng ta đã làm gì để cho số vốn ấy sinh lời?.

Trong xã hội hôm nay, mọi sự đều có thể biến thành hàng hóa, mọi công việc đều mang tính thương mại, kể cả trong lãnh vực tâm linh. Con người ngày càng trở nên so đo tính toán thiệt hơn trong mối tương quan xã hội. Qua hình ảnh của một xã hội thương mại, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta: hãy biết sinh lợi thiêng liêng để đem lại ích lợi lâu bền, tức là phần rỗi linh hồn.

Tự bản tính, con người sống trên đời phải lo làm ăn kiếm sống. Có những người đôn đáo suốt đời mà vẫn tay trắng, vì thiếu cần cù, khôn ngoan hoặc thiếu đức độ. Tiền nhân dạy: "Có đức mặc sức mà ăn". Điều này có nghĩa, trong công việc làm ăn, phải lấy đức làm đầu. Bởi lẽ "Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên". Người tính không bằng trời tính. Con người mưu mô, tính toán theo những tham vọng của mình, nhưng Trời lại có cách tính khác. Vì vậy, những ai tưởng mình "lấy tay che được mặt trời" sẽ bị thất bại. Người phụ nữ được diễn tả trong sách Châm ngôn, là hình ảnh người phụ nữ lý tưởng, đầy đủ mọi tiêu chuẩn: công, dung, ngôn, hạnh như truyền thống Việt Nam chúng ta. Còn hơn thế nữa, người phụ nữ nay chăm chỉ làm việc và kính sợ Chúa, đồng thời biết dùng của cải mình làm ra để giúp những kẻ khó nghèo. Đây là nét làm cho bà đáng kính trọng và đáng ca tụng, vì đức hạnh không hệ tại ở nhan sắc bề ngoài. Hình ảnh này không chỉ diễn tả những người phụ nữ nội trợ, mà là mẫu mực cho hết thảy chúng ta. Vì trong cuộc sống này, lao động thuộc bản tính của con người. Lao động lương thiện, với tâm tình mến Chúa và quảng đại chia sẻ cho người nghèo sẽ đem lại cho chúng ta muôn vàn phúc lộc. Đó cũng là một cách sinh lợi thiêng liêng, làm cho tâm hồn chúng ta được phong phú.

Theo tâm lý tự nhiên, chúng ta thường phàn nàn về những điều chưa hài lòng trong cuộc sống. Ít khi chúng ta nghĩ đến những điều tốt đẹp Chúa ban cho chúng ta. Chúng ta cũng hay so sánh mình với những người khá giả hơn mình, mà ít khi dừng lại để thấy mình còn hơn rất nhiều người xung quanh. Người hạnh phúc là người cảm nhận những niềm vui nho nhỏ ngay giữa cuộc sống còn bộn bề những gian nan. Người bất hạnh chỉ nhìn thấy những điều tiêu cực hoặc chỉ chú trọng đến những điều không hài lòng. Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta nhìn lại cuộc đời mình để thấy những điều tốt đẹp, đồng thời, xem lại cách sử dụng những vốn liếng Chúa ban như thế nào. Đức tin nói với chúng ta: vốn liếng Chúa ban cho chúng ta là sức khỏe, gia đình, của cải, con cái, công việc, bạn bè và môi trường sống. Chúng ta đã làm gì để cho số vốn ấy sinh lời?

Nếu mỗi người sống trên trần gian đều được Chúa trao cho một phần tài sản nào đó để quản lý và sinh lợi, thì có lúc Ngài sẽ tính sổ với chúng ta về cách quản lý và sử dụng của cải đã được trao phó. Bài Tin Mừng Thánh Luca phần nào phác họa khung cảnh ngày tận thế, tức là lúc Chúa xét xử con người. Lưu ý đoạn Tin Mừng này được đặt trong ngữ cảnh những bài giảng của Chúa Giêsu nói về ngày cánh chung, tức là ngày phán xét. Thiên Chúa sẽ xét xử chúng ta, giống như người kinh doanh thanh toán sổ sách vào cuối năm xem việc làm ăn buôn bán lỗ lãi thế nào. Ngài dựa trên khả năng của mỗi người để trao vốn cho họ: người nhiều thì được trao năm nén bạc, người hai nén và người khác chỉ có một nén. Việc trao vốn này cho thấy không ai trong chúng ta dựa trên khả năng kém cỏi hay đời sống nghèo nàn của mình mà biện minh cho sự lười biếng. Chúa muốn chúng ta sinh lợi, tùy khả năng của mình. Ngài không đòi người đã được trao hai nén phải sinh lợi giống như người được trao năm nén. Đến thời điểm chung cục của cuộc đời, mỗi người đều phải thanh toán sổ sách với Chúa, bất luận nghèo hay giàu, văn minh hay lạc hậu, trí thức hay bình dân.

Lý luận của người thứ ba cho thấy sự biếng nhác và thiếu thiện chí của anh: "Thưa ông, tôi biết ông là người keo kiệt, gặt nơi không gieo và thu nơi ông không phát: nên tôi khiếp sợ mà đi chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Đây của ông, xin trả lại cho ông". Người này đã quên thân phận đầy tớ của mình. Anh ta vừa lười biếng, vừa vu khống chủ là "một người keo kiệt". Anh bị ông chủ mắng là "xấu xa và biếng nhác". Anh không thật tâm với ông chủ. Bằng chứng là mặc dù anh chịu ơn ông chủ, nhưng trong đầu óc của anh luôn nghĩ xấu về chủ mình. Tại sao lại nói ông chủ là người "gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi" trong khi chính ông chủ đã trao cho anh ta một nén bạc để làm vốn? Hơn nữa, trong khi hai người đầy tớ trước rất tự tin nói với ông chủ: "Ông đã trao cho tôi năm (hai) nén, tôi đã gây lời được năm (hai) nén khác đây", thì anh đầy tớ lười nhác này lại nói với ông chủ: "Của ông vẫn còn nguyên đây này!". Anh đầy tớ xấu xa và lười nhác chưa bao giờ coi số vốn đó là như của mình, để rồi anh quan tâm làm cho sinh lợi. Một điều nhỏ nhất anh có thể làm được mà anh cũng bỏ không làm, đó là đem gửi số bạc đó vào ngân hàng để hưởng lợi. Anh đáng khiển trách không phải vì đã làm điều xấu, nhưng vì anh lười biếng không chịu làm gì. Hình phạt cho anh đã rõ ràng và thích đáng: anh bị tước mất một nén bạc được trao phó và bị tống ngục. Ngục giam ở đây được trình bày như một nơi tăm tối và khóc lóc, là nơi thiếu vắng tình yêu. Đó chính là cách diễn hỏa ngục theo niềm tin của Do Thái giáo.

Không chỉ chờ đến ngày tận thế hay ngày lâm chung mới thanh toán sổ sách với Chúa, vì Chúa đến không biết vào ngày nào giờ nào. Thánh Phaolô cảnh báo chúng ta như thế, đồng thời Ngài kêu gọi chúng ta hãy luôn sẵn sàng, đừng mê ngủ, kể cả khi mọi người xung quanh cho rằng yên ổn và an toàn.

"Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi". Đây là những lời ngọt ngào ông chủ nói với người đầy tớ đã biết khôn ngoan làm cho vốn được trao sinh lợi. Ước chi đây cũng là lời Chúa nói với chúng ta, khi chúng ta kết thúc hành trình cuộc đời để về gặp gỡ Đấng là Cha và là Cội Nguồn của muôn vật muôn loài.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXXII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 11-10-2017, 06:50 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Trinh Nữ Khôn Ngoan

Đám cưới là một sinh hoạt bình thường của con người. Chúa đã dùng một sinh hoạt bình thường của xã hội để nói về Nước Trời cho mọi người dễ hiểu. Qua dụ ngôn này, Chúa sánh ví Nước Trời giống như một đám cưới. Chúa chính là chàng rể. Linh hồn là trinh nữ. Giờ Chúa đến là giờ ta từ giã đời này. Tiệc cưới là hạnh phúc Nước Trời. Bóng đêm là những thử thách ta gặp trên đường về Nước Trời. Chàng rể đến muộn nói lên tính cách bất ngờ của giờ chết. Qua dụ ngôn này, Chúa hé mở cho ta mấy chân lý về Nước Trời.

Hạnh phúc Nước Trời là được sống với Chúa. Hình ảnh con người sống với Thiên Chúa được diễn tả thật sinh động qua hình ảnh đám cưới. Cưới ai là cho người ấy được ngang hàng, được chung hưởng địa vị, chia sẻ quyền lợi. Chúa đến cưới lấy con người. Cho con người được vào sống trong nhà Chúa, được chia sẻ hạnh phúc với Chúa. Chúa là nguồn mạch hạnh phúc. Được sống với Chúa và được Chúa yêu thương, linh hồn sẽ không còn mơ ước điều gì hơn nữa.

Con người được Chúa trân trọng. Hình ảnh chàng rể đến giữa đêm khuya thật gợi ý. Chúa đến tận nơi tìm ta. Chúa không triệu ta đến như ông vua ra lệnh cho thần dân. Nhưng Chúa trân trọng đến đón rước linh hồn. Và để đến tìm ta, Chúa phải vượt suối băng ngàn, đi trong đêm hôm khuya khoắt. Chúa yêu thương ta biết bao.

Mọi người được mời gọi. Chúa mong ước mọi người được ơn cứu độ. Chúa mong ước cho ta được hạnh phúc. Dựng nên con người, Chúa muốn mọi người được chia sẻ hạnh phúc với Chúa. Nên cả mười cô trinh nữ đều được tuyển chọn để đi đón chàng rể. Cả mười cô được dự kiến sẽ vào dự tiệc vui với chú rể. Chàng rể đến mong cả mười cô đều tham dự vào đám rước dâu và vào dự tiệc cưới.

Nhưng ai có đủ điều kiện mới được vào. Điều kiện được diễn tả như ngọn đèn cháy sáng. Đi rước dâu đòi phải cầm đèn. Đèn ai sáng mới được dự vào đám rước. Đèn tắt bị loại ra ngoài. Những người cầm đèn sáng là những người tha thiết yêu mến Chúa nên chăm lo thực hành lời Chúa, biểu lộ lòng yêu mến Chúa bằng những việc làm cụ thể. Còn những người đèn tắt là những người tuy cũng muốn vào dự tiệc cưới nhưng không chịu chuẩn bị. Họ là những người tin theo phong trào, giữ đạo theo dư luận, có tên trong sổ rửa tội, nhưng đời sống hoàn toàn như người không có đức tin. Có đèn mà không có dầu. Có đèn mà đèn để tắt. Có đạo mà không giữ đạo. Biết luật Chúa nhưng không chịu thực hành.

Các con Thiếu Nhi Thánh Thể thân mến,

Thánh Thể vốn là một bữa tiệc Chúa Giêsu mời gọi ta vào dự. Được dự tiệc Thánh Thể là được đồng bàn với Chúa. Thánh Thể là bữa tiệc hạnh phúc vì trong Thánh Thể Chúa yêu thương hiến mình cho ta. Thánh Thể là bữa tiệc đem lại sự sống đời đời. Thánh Thể là bữa tiệc cưới trong đời ta được kết hiệp nên một với Chúa. Thật hạnh phúc cho ta.

Vì yêu thương, nên Chúa Giêsu cũng đã từ trời xuống thế tìm ta. Để được con người Chúa đã phải trải qua biết bao vất vả khó nhọc. Nhất là phải chịu nhục nhã và chịu chết nữa. Hôm nay Chúa vẫn ở trong nhà chầu chờ đợi ta.

Trong nhà thờ luôn có ngọn đèn chầu. Khi không có ai thờ phượng Chúa, thì có ngọn đèn chầu lúc nào cũng thắp sáng để thờ phượng Chúa. Thiếu Nhi Thánh Thể nguyện là những ngọn đèn chầu ơ bên cạnh Chúa. Mỗi khi các con đến viếng Chúa Giêsu Thánh Thể, các con trở nên những ngọn đèn chầu. Càng có nhiều ngọn đèn chầu và những ngọn đèn chầu càng sáng lâu thì trái tim Chúa càng được sưởi ấm.

Ngọn đèn chầu của các con được sáng lâu và sáng mạnh là nhờ các con sống bí tích Thánh Thể. Như Chúa Giêsu hiến mạng sống để tuân theo thánh ý Đức Chúa Cha, Thiếu Nhi Thánh Thể hãy luôn yêu mến và làm theo ý Chúa. Như Chúa Giêsu hiến mạng sống vì tha nhân. Thiếu Nhi Thánh Thể hãy biết yêu mến mọi người. Như Chúa Giêsu đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Thiếu Nhi Thánh Thể hãy biết khiêm tốn phục vụ mọi người. Như Chúa Giêsu đã là tấm bánh bẻ ra nuôi dưỡng mọi người. Thiếu Nhi Thánh Thể hãy biết chia sẻ cơm áo với những người nghèo, viếng thăm an ủi những người buồn khổ. Thực hành bí tích Thánh Thể là chất dầu giữ cho ngọn đèn tâm hồn các con luôn cháy sáng. Với ngọn đèn cháy sáng trên tay, các con sẽ an ủi Chúa Giêsu Thánh Thể và khi Chúa đến, các con sẽ cầm đèn cháy sáng cùng Chúa vào tham dự hạnh phúc Nước Trời.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Dụ ngôn 10 cô trinh nữ có ý nghĩa gì?
  2. Bạn chuẩn bị thế nào để được vào dự tiệc Nước Trời?
  3. Chúa đến bất ngờ. Điều này dạy ta phải làm gì để sẵn sàng đón Chúa.
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Hãy Tỉnh Thức

Lời Chúa hôm nay nhắc bảo chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng khi cái chết đến, tức là hãy tỉnh thức. Bởi lẽ, như thực tế đã chứng minh, cái chết đến chẳng biết vào lúc nào, chẳng từ lứa tuổi nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Vào thời điểm cuối năm Phụng vụ, cũng là cuối năm dương lịch, trong tiết trời se lạnh của mùa đông vừa khởi đầu, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy nghĩ về chung cục của cuộc đời, tức là cái chết. Có nhiều người kiêng không muốn nghĩ tới cái chết, vì cho đó là điều xui xẻo. Nhưng dù nghĩ đến hay không, thì cái chết vẫn đi liền với cuộc sống của con người. Chẳng ai có thể phủ nhận được nó. Vậy, thay vì tránh né cái chết, Lời Chúa hôm nay nhắc bảo chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng khi cái chết đến, tức là hãy tỉnh thức. Bởi lẽ, như thực tế đã chứng minh, cái chết đến chẳng biết vào lúc nào, chẳng từ lứa tuổi nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Câu chuyện 10 cô đi đón chàng rể, trong đó có năm cô khôn ngoan và năm cô khờ dại, chuyển tải một lời mời gọi hãy tỉnh thức. Khái niệm về "tỉnh thức" ở đây rất phong phú diễn tả nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống con người cũng như đời sống đức tin.

Tỉnh thức trước hết là luôn nghĩ rằng cuộc đời này hữu hạn chóng qua. Nhiều người trong xã hội hôm nay sống mà không cần biết đến ngày mai. Họ không nghĩ tới có ngày họ phải nhắm mắt xuôi tay để rời cõi đời này. Chính vì thế, họ đắm chìm trong say sưa, sống vô trách nhiệm với gia đình và những người thân thuộc. Hơn thế nữa, họ trở nên gánh nặng cho xã hội và là mối kinh hoàng cho những người xung quanh. Xã hội hôm nay ngày càng có nhiều thanh niên trong tình trạng "ngáo đá" hoặc nghiện ma túy. Đây cũng là nguyên nhân của bạo lực, cướp của giết người. Năm cô khờ dại chắc chắn cũng chuẩn bị nhiều thứ để đi đón chàng rể, nhưng điều cốt lõi như "dầu đèn" thì họ lại không coi trọng và để ý. Có thể họ chỉ chú trọng đến nhan sắc và những gì bề ngoài. Một cái kết không ngờ đã dành cho họ, khiến họ bị xua đuổi ra ngoài. Khi nghĩ đến cuộc đời chóng qua, chúng ta cố gắng nỗ lực để vươn tới sự sống vĩnh cửu. Tác giả thư gửi tín hữu Thêxalônica (Bài đọc II) đã khẳng định với chúng ta về sự sống mới sau sự chết. Chết chỉ là sự biến đổi. Nếu sự chết là mối kinh hoàng đối với người vô tín và đối với những người gian ác, thì lại là dịp để người lành gặp gỡ Thiên Chúa và được Ngài thưởng công. Đây là câu trả lời cho một vấn nạn gai góc về ý nghĩa cuộc đời, về cái chết và sự sống đời sau. Tin vào đời sau và chuẩn bị sẵn sàng để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Đó là niềm hy vọng Kitô giáo. Người tỉnh thức là người sống niềm hy vọng ấy, đồng thời chuẩn bị những gì cần thiết, để sau khi kết thúc cuộc đời dương thế, được Chúa đón nhận vào nhà của Người.

Tỉnh thức là khôn ngoan sáng suốt chọn lựa cho mình một tương lai. Trong cuộc đời này, có người chọn cho mình những giá trị thiêng liêng bền vững, nhưng cũng có người chỉ dừng lại ở những giá trị tạm thời chóng qua. Khái niệm "Khôn - Dại" nhiều khi bị chi phối bởi quan niệm sống trong một giai đoạn hoặc ở một bối cảnh nào đó. Có những người được khen là "khôn" hôm nay, nhưng lại là "dại" ngày mai. Một tình trạng phổ biến nơi giới trẻ hiện nay là sự lạc hướng trong những chọn lựa cho mình một người bạn đời hay một nghề nghiệp. Vào lúc đang đứng ở ngã ba đường, cần phải quyết định cho chọn lựa tương lai, nhiều bạn trẻ chỉ dựa trên những tiêu chí vật chất, bổng lộc, nhan sắc, mà không để ý đến những tiêu chuẩn khác như đạo đức con người, nghề nghiệp chân chính, quan niệm tôn giáo hay thực hành đức tin. Nhiều cô gái Việt nhắm mắt đưa chân theo một mối tình vô định với một người nước ngoài, chỉ mong đổi đời mà bất chấp chênh lệch tuổi tác, khác biệt văn hóa và không cùng tôn giáo. Họ phó mặc tương lai cuộc đời, như đánh một canh bạc may rủi. Nhiều người đã phải trả giá bằng sự tủi nhục triền miên, thậm chí bằng chính mạng sống nơi xứ người.

Tỉnh thức còn là biết chọn lựa Thiên Chúa như đích điểm của cuộc đời. Tác giả sách Khôn ngoan đã giới thiệu với chúng ta về sự khôn ngoan của Thiên Chúa, được gọi là "Đức Khôn Ngoan" (Bài đọc I). Theo nội dung được diễn tả, thì Đức Khôn Ngoan vừa là một lý tưởng, vừa là một định hướng, vừa giống như một nhân vật hiện hữu trong đời. Giáo huấn Kitô giáo đã khẳng định Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa chính là Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể. Quả vậy, Đức Giêsu được Chúa Cha sai đến trần gian mạc khải cho con người về Nước Thiên Chúa. Người là Đường, là Sự thật và là Sự sống. Ai tin vào Người sẽ được sống đời đời. Chọn lựa đi theo Chúa Giêsu và sống theo giáo huấn của Người, có những lúc bị coi là dại dột trong xã hội tân tiến hôm nay. Một số người thiếu thiện cảm coi giáo huấn của Chúa là lỗi thời và ngăn cản đà tiến của con người. Lối suy nghĩ này không có gì lạ, vì nó đã tồn tại từ thời ban đầu của Giáo Hội, qua phản ánh của Thánh Phaolô trong thư gửi giáo dân Côrinhtô: "Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do Thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo. Nhưng đối với những người được gọi, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, thì Ngài là Chúa Kitô, quyền năng của Thiên Chúa, và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vì sự điên dại của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan của loài người, và sự yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sức mạnh của loài người" (1 Cr 1, 23-25).

"Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai!". Đây vừa là lời khước từ đối với những người không tỉnh thức, vừa là lời tuyên án xác định hậu vận tương lai của họ. Đây cũng là lời cảnh báo cho những ai chỉ đam mê đời này mà quên đời sau, chỉ chạy theo những tham vọng vật chất mà quên tiếng nói của lương tâm, cũng là tiếng nói của Thiên Chúa.

Trong những ngày này, theo truyền thống lâu đời trong Giáo Hội, chúng ta đến cầu nguyện bên mộ của những người thân. Hình ảnh năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan cũng giúp chúng ta xét mình về tình trạng hiện tại của đời sống. Vâng, nếu Chúa đến gọi chúng ta, chúng ta sẽ ra sao? Liệu chúng ta có chuẩn bị đủ "dầu" là lòng mến Chúa yêu người, là sự bao dung đức độ và là tình bác ái đối với anh chị em chúng ta?

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXXI Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 11-04-2017, 12:03 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Quyền Bính Để Phục Vụ

Lời Chúa hôm nay thật mạnh mẽ, khiến ta bàng hoàng, chới với. Phải chăng Chúa muốn phá đổ tất cả những cơ chế trong xã hội và trong Giáo Hội? Phải chăng tất cả chúng ta đều sai lầm? Có lẽ không nên hiểu theo nghĩa đen của mặt chữ nhưng phải hiểu theo tinh thần. Qua chân lý: Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh em, Chúa muốn dạy ta phải sống những quan hệ với xã hội theo một tinh thần mới gồm 3 khía cạnh sau đây.

1. Mọi người đều bình đẳng. Mọi người bình đẳng trong xã hội vì tất cả đều là người. Là người như nhau nên phải được kính trọng như nhau. Cũng thế, mọi người bình đẳng trước mặt Chúa. Vì mỗi người đều là hình ảnh của Thiên Chúa. Cùng là hình ảnh Thiên Chúa, nên mọi người phải kính trọng nhau. Mọi người đều là con của Cha trên trời và đều là anh em với nhau. Nên mọi người đều phải vâng phục Thiên Chúa và yêu thương anh em chung quanh mình.

2. Chức vị chỉ là một phân công. Một xã hội phải có tổ chức. Có tổ chức nên có nhiều công việc. Phân công để công việc chung được trôi chảy. Hơn nữa phải hiểu rằng mọi quyền lực đều đến từ Thiên Chúa. Làm cha mẹ là được thông phần vào quyền làm Cha của Thiên Chúa. Làm người lãnh đạo là được dự phần vào quyền cai trị của Thiên Chúa. Con người không tự mình chiếm đoạt được chức vị, nên phải khiêm nhường nhận biết ơn Chúa ban vì lợi ích của tập thể.

3. Chức vị là để phục vụ. Hãy nhìn vào một gia đình. Trong gia đình cha mẹ là quan trọng nhất, là người điều khiển gia đình. Nhưng chính cha mẹ lại phục vụ nhiều nhất. Cha lao động vất vả. Mẹ cực nhọc chăm sóc con thơ. Nhìn bề ngoài cha mẹ không khác người giúp việc. Nhưng cha mẹ điều hành gia đình trong khi phục vụ con cái thơ dại. Cha mẹ đã dùng quyền để yêu thương và phục vụ. Cũng thế, người có nhiệm vụ trong Giáo Hội và trong xã hội phải là người có lòng yêu mến anh em. Chu toàn nhiệm vụ với tình yêu thương sẽ giúp ta biết phục vụ bằng chức vụ của mình.

Không ở đâu ta có thể tìm gương mẫu cho những lời Chúa dạy hôm nay bằng tìm nơi chính Chúa Giêsu Kitô, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể.

Bí tích Thánh Thể đưa ta về phòng Tiệc Ly, nơi Chúa ăn bữa tối cuối cùng với các môn đệ. Trong khi ăn, Chúa đứng dậy, cầm chậu nước đi rửa chân cho từng môn đệ. Rồi Chúa nói: "Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân nhau. Thầy đã làm gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em?" (Ga 13, 12b-15). Quyền bính để phục vụ. Không còn minh họa nào sinh động hơn. Không còn giải nghĩa nào sáng tỏ hơn hình ảnh Chúa quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Không còn lệnh truyền nào thuyết phục hơn, vì chính Chúa đã làm gương trước.

Bí tích Thánh Thể cho ta thấy sự hiến thân phục vụ của Chúa Giêsu. Trở thành tấm bánh là để trở thành lương thực nuôi con người. Không trở thành một tượng đài uy nghi để mọi người cung kính. Không trở thành một trang sức quý giá để mọi người trân trọng. Nhưng trở thành tấm bánh để phục vụ con người. Trở thành lương thực là trở thành những gì gần gũi nhất. Trở thành lương thực là chấp nhận phục vụ sự sống: chịu nhỏ bé đi để người khác được lớn lên, chịu đau khổ cho người khác được hạnh phúc, chịu chết đi cho người khác được sống. Bí tích Thánh Thể là một mẫu gương về quyền bính phục vụ. Thiên Chúa phục vụ con người. Người Cha hy sinh cho hạnh phúc của con cái. Chúa tể vũ trụ hiến thân nuôi dưỡng loài thụ tạo.

Như thế, bí tích Thánh Thể thiết lập một mối quan hệ mới giữa con người. Quyền bính là để phục vụ. Nếu hiểu và thực hành Lời Chúa dạy hôm nay, ta sẽ biến đổi bộ mặt thế giới. Thế giới sẽ trở nên một gia đình ấm cúng chan chứa tình người. Xã hội sẽ tươi đẹp vì sống theo nền văn minh mới, nền văn minh của tình thương.

Năm Thánh Thể đã kết thúc, nhưng mầu nhiệm Thánh Thể phải tiếp tục mãi mãi trong cuộc đời chúng ta. Sống mầu nhiệm Thánh Thể là biết quan tâm phục vụ anh chị em. Sống mầu nhiệm Thánh Thể là duy trì sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa xã hội, giữa cuộc đời chúng ta. Hiện diện đó là một tấm bánh bẻ ra cho một thế giới phát triển, một thế giới chan hòa yêu thương, một thế giới hạnh phúc thực sự.

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết noi gương Chúa, phục vụ mọi người trong tình yêu thương.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Tại sao mọi người đều bình đẳng?
  2. Chức vị chỉ là một phân công trong Giáo Hội, bạn hiểu điều này thế nào?
  3. Quyền bính là để phục vụ. Bạn thấy điều này đã ứng dụng ở đâu?
  4. Bạn phải làm gì để sống bí tích Thánh Thể theo tinh thần bài Tin Mừng hôm nay?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Chỉ Có Một Cha Duy Nhất

Chỉ có Thiên Chúa là Đấng tối cao và là Cha duy nhất theo đúng nghĩa.

Khi nghe đọc đoạn Tin Mừng của Chúa nhật hôm nay, nhiều người thấy khó hiểu. Bởi lẽ, sau khi nghe lời Chúa Giêsu: "Anh em đừng gọi ai dưới đất là thầy, là cha và là người chỉ đạo", chúng ta vẫn tiếp tục gọi các linh mục là "cha". Một số vị linh mục cũng cảm thấy lúng túng trong việc giải thích những lời giáo huấn này của Chúa. Vậy phải hiểu những lời này thế nào?

Thông thường trong cuộc sống, danh xưng nói nên chức vụ hay bổn phận của một người nào đó (cha, thày, giám đốc, hiệu trưởng...). Danh xưng cũng cho thấy mối tương quan giữa người gọi và người được gọi (ông, bà, chú bác, cô, dì...).

Trong truyền thống Giáo Hội từ rất xa xưa, giáo dân gọi các linh mục là "cha". Danh xưng này nói nên sự tôn trọng của người tín hữu đối với các linh mục như những người cha thiêng liêng, đồng thời cũng diễn tả sứ mạng mà các vị này đảm trách. Tuy vậy, danh xưng "cha" không quy hướng về chính bản thân của vị linh mục. Khái niệm này vừa nói lên thiên chức cao cả của linh mục, vừa nhắc nhở linh mục phải trở nên hình ảnh của Thiên Chúa là Cha theo đúng nghĩa, là Cha duy nhất và là Cha trên trời. Nói cách khác, trong cuộc sống và trong hoạt động mục vụ, linh mục phải phản ánh hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa là đấng vô hình, con người không thể tiếp xúc, nhưng qua sự thánh thiện của một linh mục, người ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa và cảm nhận sự tốt lành của Ngài. Vì vậy, có tác giả đã gọi danh xưng "cha" của các linh mục là danh xưng mang tính "dấu chỉ", hay danh xưng "bí tích".

Nếu hiểu như thế, thì người cha người mẹ cũng là những người phản ánh hình ảnh của Cha trên trời. Họ có bổn phận thay quyền Thiên Chúa để nuôi dưỡng, giáo dục những đứa trẻ mình sinh ra. Những danh xưng là "cha", là "thày", là "mẹ", là "người chỉ đạo", là "bề trên" không phải là một tước hiệu danh dự cho bằng bổn phận. Đó là những danh xưng mang quy hướng về Thiên Chúa, "Đấng là nguồn mạch mọi danh phận làm cha trên trời dưới đất" (Ep 3, 14).

Các Bài đọc Lời Chúa hôm nay đều nhấn mạnh tới một chủ đề chính: Chỉ có Thiên Chúa là Đấng tối cao và là Cha duy nhất theo đúng nghĩa. Mọi người phải tuân phục lệnh truyền của Ngài mà đi theo con đường ngay thẳng. Nếu chú tâm tuân giữ lời dạy của Chúa, họ sẽ được hạnh phúc. Các tư tế và các ngôn sứ (trong thời Cựu ước) và các vị lãnh đạo (trong Giáo Hội hôm nay) phải lưu tâm đến việc tôn vinh Chúa, chứ không phải tôn vinh cá nhân mình. Những ai đi trệch đường sẽ chuốc lấy tai họa. Những ai hay vì nể mà vi phạm lề luật phải gánh chịu những tai ương. Giáo huấn này dựa trên uy quyền độc nhất của Thiên Chúa. Ngài là Cha duy nhất và là chủ lịch sử (Bài đọc I).

Như thế, các tư tế, ngôn sứ và những người lãnh đạo không được che lấp hình ảnh Thiên Chúa bằng con người của mình. Mọi hoạt động phải giúp tín hữu quy hướng về Chúa, gặp gỡ Ngài để hưởng niềm vui và hạnh phúc. Thánh Phaolô, trong thư gửi giáo dân thành Thêxanôlica, đã nói về những nỗ lực của bản thân trong khi thi hành sứ vụ tông đồ. Ngài không muốn trở thành gánh nặng cho người khác. Hơn thế, ngài luôn đối xử hiền hòa dịu dàng như cha mẹ ấp ủ con thơ. Quả thật, đời sống của ngài đã phản ánh sự tốt lành của Thiên Chúa, Đấng là Cha của mọi người, luôn thể hiện tình thương mến vô bờ với người đau khổ bất hạnh.

Chúa Giêsu đã khẳng định: chỉ có Chúa là Cha duy nhất và chỉ có bản thân Người (Đấng Kitô) là Thày dạy duy nhất. Người cũng lên án những người chỉ muốn làm cha mà không muốn phục vụ. Đó là những kinh sư và biệt phái. Họ muốn thay thế Thiên Chúa để nhận những lời tôn vinh của con người. Họ nói về Thiên Chúa, nhưng con người đầy tham vọng của họ đã che khuất hình ảnh của Chúa, nên người khác chỉ nhìn thấy họ mà chẳng thấy Chúa đâu.

Lời kết luận của Chúa đã nói lên thân phận của những ai sống kiêu ngạo: "Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên" (c 12). Cuộc sống xung quanh chúng ta đã nhiều lần chứng minh điều đó. Khiêm tốn nhận ra mình còn nhiều thiếu sót, để từ đó, thành tâm sám hối. Đó chính là điều kiện cần thiết để chúng ta trở nên những người con của Thiên Chúa, Đấng là Cha duy nhất luôn yêu thương và gìn giữ chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXX Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 10-27-2017, 03:11 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Luật Yêu Mến

Người Do Thái có quá nhiều luật lệ. Họ lại có thái độ duy Lề Luật. Nên tỉ mỉ tuân giữ tất cả mọi điều. Không còn biết điều nào là chính điều nào là phụ nữa. Hôm nay, nhân một câu hỏi. Chúa Giêsu đã cho ta biết chỉ có một điều luật quan trọng: LUẬT YÊU MẾN. Luật này có 2 khía cạnh.

Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn. Nghĩa là yêu mến hết khả năng, hết sức lực. Ta phải yêu mến Chúa như thế thật hợp tình hợp lý.

Vì Chúa đáng yêu đáng mến vô cùng. Chúa là nguồn mạch mọi sự thiện hảo. Ngài là toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ. Nơi Ngài không có một tì vết, khuyết điểm nào. Trong đời sống ai cũng yêu thích những gì tốt đẹp. Chúa là Đấng vô cùng tốt đẹp. Yêu mến Ngài là điều tự nhiên. Ai hiểu biết cũng đều yêu mến Chúa.

Hơn nữa Chúa còn là Đấng sinh thành ra ta. Chính Chúa ban cho ta tất cả. Ta có mặt ở đời này là do ý định của Chúa. Tất cả nhừng gì chúng ta có và chúng ta là đều bởi Chúa. Chúa là vị ân nhân lớn nhất của ta. Yêu mến Chúa là việc làm không những tự nhiên mà còn là bổn phận nữa.

Yêu người thân cận như chính mình. Đó là điều răn thứ hai mà Chúa Giêsu nói cũng giống như điều răn thứ nhất. Thực ra đó chỉ là một điều răn vì những lý do sau:

Yêu Chúa và yêu người là hai khía cạnh của một tình yêu. Tình yêu chân thật là tình yêu không có giới hạn, không có loại trừ. Vì thế đã yêu Chúa thì phải yêu người. Nếu tình yêu bị giới hạn, có loại trừ thì sẽ trở thành giả tạo.

Tình yêu đối với tha nhân kiểm chứng tình yêu đối với Thiên Chúa. Thánh Gioan Tông đồ đã nói: "Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta nhận được từ nơi Người: Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình" (1 Ga 4, 20–21).

Còn hơn thế nữa. Ai yêu anh em là yêu chính Chúa. Vì Chúa ở trong anh em. Hơn thế nữa, Chúa ẩn thân trong những anh em bé mọn nhất. Vì thế trong ngày phán xét Chúa nói với ta rằng: "Ta bảo thật cho các người: mỗi lần các người làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các người đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25–40).

Tất cả mọi điều răn khác đều quy về hai điều răn này. Nếu ta giữ trọn vẹn giới răn này, không những ta chu toàn Lề Luật mà còn góp phần xây dựng một thế giới mới, thế giới chan hòa yêu thương, chan hòa tình người. Và đó chính là khởi điểm của thiên đàng mai sau.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Yêu mến Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn. Bạn thấy điều này có hợp tình hợp lý không?
  2. Tại sao ta phải yêu tha nhân?
  3. Bạn có cảm nghiệm được niềm vui khi ta yêu thương không?
  4. Bạn nghĩ thế nào về một thế giới trong đó chỉ có những người yêu thương nhau.
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Giới Răn Trọng Nhất

Mến Chúa và yêu người thường đi đôi với nhau và làm nên một đức mến hoàn hảo. Nói cách khác, mến Chúa mà không yêu người thì chỉ là lý thuyết suông; yêu người mà không đặt trên nền tảng vì Chúa sẽ thiếu đi khía cạnh siêu nhiên và có nguy cơ trở thành tình yêu ích kỷ. Yêu mến tha nhân là cụ thể hóa lòng yêu mến Chúa.

Khi xếp hạng một điều gì là "nhất", thông thường điều được gọi là nhất ấy chỉ có một mà thôi. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu lại khẳng định cả hai điều được coi nhà nhất. Quả vậy, sau khi trích dẫn quy định của luật Cựu ước: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi", Người nói: "Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất". Tiếp theo Người khẳng định: "Điều răn thứ hai, cũng giống như điều răn ấy, là ngươi phải yêu người thân cận như chính mình ngươi". Như vậy, mến Chúa yêu người có vẻ như hai điều răn, nhưng thực ra chỉ một giới răn duy nhất, giống như hai mặt của cùng một tấm huân chương, vì cả hai đều mang tầm quan trọng như nhau. Giới răn này là tình yêu mến nhằm tới hai đối tượng: Thiên Chúa và tha nhân. Mến Chúa và yêu người thường đi đôi với nhau và làm nên một đức mến hoàn hảo. Nói cách khác, mến Chúa mà không yêu người thì chỉ là lý thuyết suông; yêu người mà không đặt trên nền tảng vì Chúa sẽ thiếu đi khía cạnh siêu nhiên và có nguy cơ trở thành tình yêu ích kỷ. Yêu mến tha nhân là cụ thể hóa lòng yêu mến Chúa.

Tại sao phải yêu mến Thiên Chúa? Tình yêu đâu có phải là một lệnh truyền hay một điều bắt buộc? Nhiều người đã đặt ra câu hỏi này. Tình yêu mến dành cho Thiên Chúa được coi như một giới răn từ thời Cựu ước, bởi vì Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và là Đấng giải phóng con người. Mỗi người Do Thái được dạy ngay từ thuở còn thơ để nhận ra Thiên Chúa là Đấng che chở hướng dẫn dân riêng của Ngài. Vì thế, tình yêu mến mỗi con dân Do Thái dành cho Chúa vừa là lòng hiếu thảo như đối với đấng sinh thành, vừa là lòng biết ơn vì Ngài đã giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ Ai Cập để đưa về miền đất hứa.

Đối với chúng ta hôm nay, là dân Israen mới, lòng yêu mến Thiên Chúa xuất phát từ việc chân nhận Ngài là Đấng dựng nên vũ trụ và dựng nên con người. Lòng yêu mến mà chúng ta dành cho Chúa vừa là lòng biết ơn, và là lời tôn vinh quyền năng cao cả của Ngài. Đó không phải một thứ yêu mến vị lợi, nhưng xuất phát từ trái tim chân thành, như con thơ đối với cha mẹ.

Tại sao lại phải yêu mến tha nhân? Nếu tìm trong giáo huấn của Tin Mừng, chúng ta sẽ thấy câu trả lời của chính Chúa Giêsu: tha nhân là anh chị em với chúng ta, vì hết thảy chúng ta có cùng một Cha trên trời là Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn bênh vực và đứng về phía người nghèo, người góa bụa và cô nhi. Đó là một trong những điểm nhấn trong giáo huấn của Cựu ước, như Bài đọc I đã diễn tả: "Các ngươi đừng làm hại cô nhi quả phụ. Nếu các ngươi hà hiếp những kẻ ấy, họ sẽ kêu thấu đến Ta, và chính Ta đã nghe tiếng họ kêu van". Được trình bày trong lối văn chương và quan niệm của Cựu ước, Thiên Chúa còn sẵn sàng ra tay đối với những ai ức hiếp người nghèo.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu còn khẳng định: Người đồng hóa và hiện thân nơi những người bất hạnh, đến nỗi những ai xúc phạm người nghèo là xúc phạm Chúa, những ai giúp đỡ người nghèo là giúp đỡ Chúa (x. Mt 25). Chúa dạy chúng ta không chỉ yêu mến người làm ơn cho mình. Tình yêu mến này vượt qua mọi ranh giới, thậm chí yêu thương cả kẻ thù và cầu nguyện cho họ. Yêu thương kẻ thù là bằng chứng của lòng bao dung và sự tha thứ đích thực.

Đức mến là cốt lõi của Đạo Chúa. Đức mến cũng là nội dung chính của Luật Môi-sen và sách các Ngôn sứ, như lời Chúa Giêsu đã quả quyết. Sau này, Thánh Phaolô cũng diễn tả một cách rất xác tín: "Yêu thương thì chu toàn Lề luật" (Rm 13, 10).

Đức mến mà chúng ta đang bàn tới không chỉ dừng ở lý thuyết, nhưng phải được thể hiện và chứng minh qua việc làm. Thánh Phaolô đã khen ngợi cộng đoàn tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, vì những việc tốt lành họ đã làm để sống đức tin, qua việc đón tiếp các anh chị em đồng đạo và qua việc từ bỏ ngẫu thần, chuyên tâm phụng thờ Thiên Chúa. Nói cách khác, cộng đoàn tín hữu này được khen ngợi vì họ mến Chúa yêu người.

Như chúng ta vẫn đọc trong câu kết của kinh Mười điều răn: "Mười điều răn ấy tóm lại hai này mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy", lòng mến là cốt lõi của Đạo Chúa và tóm lược toàn bộ giáo huấn của Ngài. Khi thực thi tình mến một cách đích thực, chúng ta trở nên quảng đại, khước từ những toan tính mưu cầu lợi ích riêng. Tình yêu đích thực sẽ làm cho con người được tự do, vì sẵn sàng hiến thân và hy sinh vì lợi ích của Nước Trời và lợi ích của tha nhân. Tình yêu hướng chúng ta về những người đang sống xung quanh mình, quan tâm tới họ và giúp cho họ hạnh phúc. Mến Chúa yêu người, đó là giới răn trọng nhất.

"Tình yêu có đôi chân đến với người nghèo. Tình yêu có đôi mắt để thấy bất hạnh và thiếu thốn. Tình yêu có đôi tai để nghe được tiếng than thở của tha nhân" (Thánh Augustinô).
"Yêu là tìm hạnh phúc của mình trong chính hạnh phúc của kẻ khác" (Léibnitz).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Con Người hay Robot?

Trong bài luận văn về bệnh vô cảm của em Phan Hoàng Yến, học sinh lớp 9A2 trường trung học Chu Văn An, Hà Nội, đã gây ấn tượng mạnh trong xã hội hôm nay. Bài văn được cô giáo cho 9,5 điểm với nhận xét: "Em có những phát hiện và suy nghĩ sâu sắc về hiện tượng đáng buồn này. Một người có trái tim nhân hậu, đa cảm và tư duy sắc sảo như em thật đáng quý."

Bài văn được viết như sau: Có được một xã hội văn minh, hiện đại ngày nay một phần lớn cũng là do những phát minh vĩ đại của con người. Một trong số đó chính là sự sáng chế ra rô-bốt, và càng ngày, rô-bốt càng được cải tiến cao hơn, tỉ mỉ hơn làm sao cho thật giống con người để giúp con người được nhiều hơn trong các công việc khó nhọc, bộn bề của cuộc sống. Chỉ lạ một điều: Đó là trong khi các nhà khoa học đang "vò đầu bứt tóc" không biết làm sao có thể tạo ra một con chip "tình cảm" để khiến "những cỗ máy vô tình" biết yêu, biết ghét, biết thương, biết giận thì dường như con người lại đi ngược lại, càng ngày càng vô tình, thờ ơ với mọi sự xung quanh. Đó chính là căn bệnh nan y đang hoành hành rộng lớn không những chỉ dừng lại ở một cá nhân mà đang len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội – bệnh vô cảm.Nhìn thấy cái xấu, cái ác mà không thấy bất bình, không căm tức, không phẫn nộ. Nhìn thấy cái đẹp mà không ngưỡng mộ, không say mê, không thích thú. Thấy cảnh tượng bi thương lại thờ ơ, không động lòng chua xót, không rung động tâm can. Vậy đó còn là con người không hay chỉ là cái xác khô của một cỗ máy?

Một tháng trước, tôi đọc được một bài báo trên mạng có đưa tin về vụ một đứa bé Trung Quốc hai tuổi bị xe tải cán.

Thương xót, đau lòng làm sao khi nhìn cô bé đau đớn nằm trên vũng máu mà không một người nào qua đường để ý, cuống cuồng gọi cấp cứu. Họ nhìn thấy rồi đấy nhưng họ lại cố tình như không thấy, đi vòng qua cô bé để tiếp tục con đường nhạt thếch, sáo mòn của mình. Càng chua xót, đau lòng, phẫn nộ hơn khi chiếc xe tải tiếp theo nhìn thấy cô bé nằm đó, vẫn thoi thóp thở, bám víu lấy cuộc đời lại vô tình chẹt cả bốn bánh xe nặng trịch đi qua người cô bé, thản nhiên đi tiếp. Người qua đường vẫn thế, vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra.


Cô bé xấu số chỉ được cấp cứu khi một người phụ nữ nhặt rác đi qua, thấy cảm thông, đau lòng nên đã bế cô đi bệnh viện. Có những con người ích kỷ, vô tâm, tàn nhẫn như vậy đấy! Không những thế, bây giờ ra đường gặp người bị cướp, bị trấn lột, bị đuổi chém nhưng lại không thấy anh hùng nào ra can ngăn, cứu giúp hay chỉ một việc nhỏ nhoi thôi là báo công an. Đó là những con người "không dại gì" và cũng chính "nhờ" những người "không dại gì" đó mà xã hội ngày càng ác độc, hỗn loạn. Chính lẽ đó mà căn bệnh vô cảm càng được thể truyền nhiễm, lây lan.

Quả thực, nếu con người sống không có tình yêu thì cũng chỉ là một Robot cô độc lạnh lùng mà thôi. Nhân loại ngày nay có thể sáng chế ra Robot để làm thay con người nhưng đáng tiếc Robot thì không có tình yêu, vì nó chỉ là cái máy không hồn. Phải chăng nó cũng là phản ảnh lối sống vô cảm không hồn của con người thời đại hôm nay? Có mọi sự nhưng thiếu tình yêu.

Robot ngày nay có thể đọc kinh, hát thánh ca nhưng không có tình yêu trong hành động của mình.

Robot ngày nay có thể đi chợ, quét nhà, ru em nhưng vô cảm với công việc của mình.

Nói đúng hơn, Robot có thể nói, có thể làm nhưng vô hồn, vô cảm, lạnh lùng vì thiếu tình yêu.

Đạo Công Giáo đặt nền tảng trên tình yêu. Yêu Chúa, yêu người. Yêu Chúa không dừng lại ở việc máy móc đi lễ hay đọc kinh nhàn chán mà phải đặt tình yêu của mình vào hành vi thờ phượng Chúa hết lòng. Yêu người không dừng lại ở đầu môi chóp lưỡi mà phải biết chạnh lòng xót thương trước những đau thương mà anh chị em mình đang trải qua.

Như thế tình yêu là lẽ sống, là vẻ đẹp của đời ky-tô hữu. Không có tình yêu thì mọi hành vi thờ phượng của người tín hữu chỉ là Robot. Không có tình yêu thì người ky-tô không thể sống chứng nhân cho tình yêu của Chúa giữa dòng đời. Cuộc đời cần tình yêu như trái đất cần mặt trời để tạo nên vẻ đẹp của vạn vật muôn màu. Cuộc đời thiếu tình yêu như đêm tối lạnh lùng cô liêu. Cách đây mấy hôm tôi đi thăm một trại tâm thần. Tôi nghe thấy họ đang đọc kinh. Họ hát. Họ đứng yên lặng cả gần 200 con người mặc dù họ bị bệnh tâm thần. Tôi ngạc nhiên sao họ lại thuộc kinh đến thế! Nhưng nhìn kỹ tôi thấy họ vô hồn. Họ đứng đó môi mấp máy chỉ ú ớ theo lời kinh của máy ghi âm phát ra mà thôi!

Lời Chúa hôm nay nhấn mạnh với chúng ta phải mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như chính mình. Mến Chúa trên hết mọi sự là đặt việc thờ phượng Chúa và thi hành ý Chúa trên mọi giá trị của cuộc sống. Yêu tha nhân như chính mình là "nếu mình muốn người khác làm cho mình điều gì thì hãy làm cho họ như vậy". Đây là hai mệnh đề trong một giới răn yêu thương mà Chúa đòi buộc chúng ta phải thi hành. Vì khi tạo dựng Chúa đã không tạo dựng chúng ta thành những Robot mà tạo dựng chúng ta có trái tim, có tự do để thăng tiến về hành vi yêu thương.

Xin cho chúng ta biết thăng tiến bản thân khi biết nồng vào những công việc của mình bằng tình yêu nồng nàn. Một tình yêu với Chúa nồng nàn để có thể kính mến Chúa trên hết mọi sự. Một tình yêu với tha nhân thẳm sâu để có thể chia sẻ, cảm thông với nhau trong mọi vui buồn. Amen.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình





Print this item

Information Chúa Nhật XXIX Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 10-19-2017, 06:30 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Của Thiên Chúa Trả Cho Thiên Chúa

Người Do Thái muốn gài bẫy Chúa nên đưa ra câu hỏi hóc búa. Không ngờ Chúa trả lời thật khôn ngoan: "Của César trả cho César, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa". Với câu trả lời này, Chúa Giêsu minh định hai điều:

Thứ nhất: Tôn giáo và chính trị tách biệt nhau. Chính trị không thể trở thành tôn giáo hoặc bắt tôn giáo làm nô lệ. Tôn giáo cũng không thể đi vào chính trị, đánh mất bản chất của mình.

Thứ hai: Mỗi người phải chu toàn hai nhiệm vụ. Nhiệm vụ đối với xã hội là "trả cho César" những gì của César. Nhiệm vụ đối với Thiên Chúa: "trả cho Thiên Chúa" những gì thuộc về Thiên Chúa.

Hình và huy hiệu khắc trên đồng tiền là của hoàng đế César vì thế phải trả lại cho ông. Nhưng linh hồn con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa nên linh hồn phải được trả về cho Thiên Chúa.

Để có được đồng tiền mang hình ảnh César, người dân phải làm việc vất vả. Cũng thế, để linh mang hình ảnh Thiên Chúa, con người cũng phải ra sức làm việc.

Nhưng hai cách làm việc thật khác xa nhau. Để chia sẻ phần nào quyền lực của vua chúa trần gian, người ta phải làm việc theo cách vua chúa đó là tìm chiếm hữu của cải. Để trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người phải suy nghĩ và hành động như Thiên Chúa đó là yêu thương và cho đi.

Bí tích Thánh Thể là minh họa rõ nét nhất về tính cách yêu thương và cho đi của Thiên Chúa. Nói về bí tích Thánh Thể, lòng trí ta tự nhiên hướng về bữa Tiệc Ly, cuộc Khổ Nạn và cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Qua đó ta thấy một vài khía cạnh trong tình yêu của Chúa.

Đó là tình yêu phục vụ. Tin Mừng thánh Gioan thuật lại. Chúa Giêsu yêu thương những kẻ thuộc về mình thì yêu thương cho đến cùng. Nên trong bữa ăn tối, Người cầm lấy chậu nước và khăn rồi đi rửa chân cho từng môn đệ.

Đó là tình yêu tự hiến. Khi lập phép Thánh Thể. Chúa Giêsu đã nói: "Đây là Mình Thày bị nộp vì anh em; Đây là Máu Thày đổ ra cho anh em và mọi người được tha tội" (Lc 22, 19).

Đó là tình yêu hiền lành khiêm nhường. Chúa Giêsu cam lòng chịu kết án oan ức, chịu sỉ nhục, chịu hành hạ chịu chết mà chẳng một lời oán thán.

Đó tình yêu tha thứ. Không chỉ tha thứ mà còn cầu xin Chúa Cha tha cho những kẻ làm hại mình: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ lầm không biết" (Lc 23, 34). Người cũng tha thứ cho kẻ trộm lành: "Thật Ta bảo thật, hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng" (Lc 23, 43).

Đó là tình yêu muốn tiếp diễn mãi mãi. Nên Người truyền cho ta: "Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thày" (Lc 22, 19). Cử hành thánh lễ, chầu Mình Thánh, kiệu Thánh Thể để Chúa ở mãi với ta, tiếp tục bày tỏ tình yêu thương với ta.

Người mong muốn kéo dài tình yêu của Người cho đến tận cùng không gian và đến tận cùng thời gian nơi cuộc đời chúng ta. Vì thế khi ta chịu lễ, ta phải kết hiệp mật thiết với Người, nên một với Người. Nên một với Người là biến đổi để ta suy nghĩ, nói năng và hành động như Người, nghĩa là sống như Người.

Sống như Chúa là hãy có tình yêu thương phục vụ. Vì Chúa đã dạy: "Như Thày đã rửa chân cho các con, các con cũng hãy rửa chân cho nhau" (Ga 13, 14). Sống như Chúa là hãy có tình yêu tự hiến. Quên mình vì hạnh phúc của người khác. Dám hy sinh thời giờ, sức khỏe, tiền bạc vì anh em. Sống như Chúa là hãy có lòng hiền lành khiêm nhường. Vì Chúa đã dạy: "Hãy học cùng Thày, vì Thày hiền lành và khiêm nhường trong lòng" (Mt 11, 29). Sống như Chúa là hãy tha thứ, không phải chỉ tha thứ 7 lần mà đến 70 lần 7 (x. Mt 18, 21-22).

Sống như thế, ta trở nên hình ảnh sống động của Thiên Chúa giữa trần gian. Sống như thế, ta trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. Sống như thế ta tôn sùng bí tích Thánh Thể một cách thiết thực và hữu hiệu nhất. Sống như thế là sống nhờ Thánh Thể. Không còn sống cho những giá trị trần gian mau qua, nhưng sống cho những giá trị vĩnh cửu của Nước Trời.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin dạy con biết sống bí tích Thánh Thể để con được kết hiệp với Chúa và càng ngày càng nên giống Chúa hơn. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Bạn đã phải trả cho César những gì thuộc về César. Nhưng bạn có thực sự trả cho Chúa những gì thuộc về Người không?
  2. Bạn làm gì để nên giống Chúa?
  3. Qua bí tích Thánh Thể, bạn có thể hiểu được gì về tình yêu Chúa đối với bạn?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


"Cảm Nghiệm Và Loan Truyền"

Để công việc truyền giáo đem lại hoa trái, người tông đồ trước hết phải cảm nhận được tình Chúa yêu thương nơi bản thân và nơi cuộc sống của mình. Bởi lẽ sứ điệp mà chúng ta cần chuyển tải cho anh chị em là dung mạo của Thiên Chúa giàu lòng thương xót và yêu thương con người.

Truyền giáo là một sứ mạng khó khăn và đầy những chông gai thách đố, nhưng đó lại là một sứ mạng làm nên bản chất của Giáo Hội (x. Ad Gentes 2). Ý thức được tầm quan trọng và những khó khăn của công cuộc truyền giáo, Giáo Hội luôn kêu mời các tín hữu cầu nguyện và cùng cộng tác tham gia, để mệnh lệnh của Đấng Phục sinh được thực hiện trong mọi nền văn hóa và các quốc gia trên thế giới.

Trong Tông Huấn Niềm vui Tin Mừng, Đức Giáo Hoàng Phanxiô nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không chỉ là các môn đệ của Đức Chúa Giêsu Kitô mà còn là "các môn đệ truyền giáo". Đức Cha Michael Mulvey, Giám mục Giáo phận Corpus Christi - Hoa Kỳ, đã giải thích lời Đức Thánh Cha như sau: "Việc biết và đơn thuần nhận mình là môn đệ có thể bị hiểu lầm là cuộc hành trình đức tin của chúng ta chỉ liên hệ đến một vài nguyên tắc tâm linh, chẳng hạn như tham dự các lớp đào luyện ở các giáo xứ, v.v .... Trong tất cả những điều ấy chúng ta có thể có cảm giác rằng mình là những môn đệ tốt lành và trung tín, nhưng đó có phải là điều chúng ta cần ngày nay không?".

Để công việc truyền giáo đem lại hoa trái, người tông đồ trước hết phải cảm nhận được tình Chúa yêu thương nơi bản thân và nơi cuộc sống của mình. Bởi lẽ sứ điệp mà chúng ta cần chuyển tải cho anh chị em là dung mạo của Thiên Chúa giàu lòng thương xót và yêu thương con người. Một khi cảm nhận rõ nét tình yêu của Thiên Chúa nơi chính mình, lời chứng của chúng ta mới có sức thuyết phục. Cũng như một người quảng cáo về một sản phẩm. Lời quảng cáo ấy chỉ có sức lôi cuốn và thu hút khách hàng, nếu chính bản thân người quảng cáo đang sử dụng sản phẩm đó, với quả quyết đây là sản phẩm tốt nhất đối với mình. Đức Cha Mulvey mời gọi các tín hữu: "Là các môn đệ truyền giáo, sứ điệp cao cả nhất mà chúng ta phải chia sẻ và tặng cho những người khác là 'Thiên Chúa yêu thương bạn'. Thiên Chúa yêu bạn vô cùng. Thiên Chúa thương xót những yếu đuối của chúng ta và có thể tha thứ cho tội lỗi cho chúng ta. Nhiều người không biết Lòng Thương Xót nghĩa là gì; có lẽ bởi vì họ đã không cảm nghiệm được nó từ những người khác, hoặc không biết làm thế nào để cầu xin Lòng Thương Xót ấy. Đó là công việc Phúc Âm hóa; đó là sứ điệp dành cho cho mỗi môn đệ truyền giáo để chia sẻ với tha nhân". Cuối cùng, vị Giám mục kết luận: "Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm mang Đức Kitô đến cho người khác. Không ai được miễn chước lời mời gọi này" (Bài viết đăng trên South Texas Catholic ngày 1 tháng 5 năm 2014 - Bản dịch của Phạm Văn Khôi).

Lời chứng của người tông đồ cũng chỉ có sức thuyết phục khi chúng ta loan báo với niềm vui mừng hân hoan. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh đến điều này rất nhiều lần trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng. Quả vậy, nếu nội dung Phúc Âm là niềm vui, thì niềm vui ấy trước hết phải toát lên nơi cuộc đời của người loan báo. Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại với chúng ta, các tông đồ sau khi bị Công nghị Do Thái đánh đòn, cấm đoán và đe dọa, các ông "bước ra khỏi Công nghị, hân hoan vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì Danh Chúa" (Cv 5, 41). Chính niềm vui nơi các tông đồ đã giúp cho những người lắng nghe chứng từ của các ông nhận ra giá trị giáo huấn mà các ông rao giảng, đồng thời sẵn sàng gia nhập Giáo Hội. Niềm vui ấy cũng làm cho cộng đoàn tín hữu tiên khởi phát triển và tăng số nhanh chóng. Kinh nghiệm thực tế cho chúng ta thấy, nơi đâu có những linh mục lạc quan vui tươi và dấn thân phục vụ, nơi đó có cộng đoàn đức tin tốt lành. Nơi cộng đoàn ấy, vừa có chiều sâu của đời sống nội tâm, vừa có tình liên đới gắn kết giữa các thành phần Dân Chúa. Nhờ vậy, mà cộng đoàn này tỏa sáng và hướng tới những nỗ lực truyền giáo.

Theo thông lệ, nhân ngày thế giới truyền giáo, Đức Thánh Cha Phanxicô gửi đến mọi tín hữu một Sứ điệp. Qua Sứ điệp này, ngài nhắc lại bổn phận quan trọng của mỗi tín hữu là tham gia vào sứ mạng truyền giáo, tùy bậc sống và hoàn cảnh của mình. Đức Thánh Cha kêu gọi chúng ta hãy lên đường. Ngài viết như sau: "Việc truyền giáo của Hội Thánh được sinh động bởi một linh đạo của việc liên tục lên đường. Chúng ta được thách thức "ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng 'ngoại vi' đang cần ánh sáng Tin Mừng" (Evangelii Gaudium, 20). Sứ mạng của Giáo Hội thúc đẩy chúng ta liên tục lữ hành qua các sa mạc khác nhau của cuộc đời, qua các trải nghiệm khác nhau của sự đói khát sự thật và công lý" (Sứ điệp ngày thế giới truyền giáo 2017, số 6).

Chúa Giêsu là "Người rao giảng Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất" (Đức Phaolô VI, Tông huấn Loan báo Tin Mừng, số 7). Hôm nay, Người tiếp tục sai chúng ta vào lòng thế giới: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" (Mt 28, 19). Ước gì mỗi chúng ta đừng quên bổn phận cao quý ấy, để làm cho hình ảnh của Chúa tỏa sáng giữa thế gian. Amen.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXVIII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 10-13-2017, 05:51 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Mặc Áo Cưới

Với tình thương yêu, Thiên Chúa dọn tiệc mời.

Đọc dụ ngôn tiệc cưới, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước tình yêu thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa mời con người đến dự tiệc cưới Con của Người. Điều đó chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương con người.

Đó là một tình yêu nhưng không.

Thiên Chúa là vị vua cao sang. Ta chỉ là đám tiện dân hèn hạ. Sao Chúa lại mời ta. Theo lẽ thường ở đời người ta chỉ mời những người ngang vai bằng vế. Một bữa tiệc thường có mục đích củng cố uy tín của chủ nhân và ràng buộc khách mời vị vọng để khi hữu sự cần nhờ. Vua Trời mời tiện dân hèn hạ thì có lợi gì. Không những hèn hạ mà còn đui, què, mẻ, sứt nữa. Ta là những hạng rác rưởi của xã hội, chẳng có gì đền đáp cho chủ nhân. Chẳng đem lại một chút vinh dự nào cho chủ nhân. Thế mà Người vẫn mời ta. Rõ ràng là do tình thương của Người. Đó là tình yêu nhưng không. Người không mong ta có gì đền đáp. Người mời ta chỉ vì yêu thương ta mà thôi.

Đó là tình yêu chia sẻ.

Thiên Chúa tràn đầy vinh quang không còn thiếu thốn gì. Tại sao Người còn mời những con người hèn hạ vào Nước Trời làm gì cho thêm bận. Thưa vì Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Người vô biên nên Người khao khát chia sẻ. Người vô cùng tốt lành nên Người muốn thông ban hạnh phúc cho loài người. Tình yêu mãnh liệt khiến người nảy sinh những sáng kiến kỳ diệu. Cho Con Một mặc lấy bản tình loài người để nâng loài người lên. Mời gọi loài người vào hưởng hạnh phúc với Người. Nâng loài người hèn hạ lên bậc thượng khách trong tiệc cưới. Nâng loài người tôi tớ lên hàng con cái trong Nước Trời. Đưa nhân loại bơ vơ đầu đường xó chợ vào ngồi đồng bàn với hàng thần thánh trên trời.

Chẳng có gì có thể giải thích được thái độ của Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu. Đó là một tình yêu vô cùng mãnh liệt và hoàn toàn vô vị lợi. Tình yêu muốn chia sẻ hết những gì mình có. Tình yêu hoàn toàn vì người mình yêu. Mong muốn mọi sự tốt đẹp cho người mình yêu.

Tôi phải mặc áo cưới tới dự.

Tình yêu Thiên Chúa tha thiết nhưng vẫn tôn trọng tự do. Trước lời mời gọi của Thiên Chúa, tôi có thể nhận lời hoặc chối từ. Khi dọn tiệc, Chúa mong tôi tới dự. Khi mở rộng cửa trời, Chúa mong tôi bước vào. Khi mời gọi, Chúa mong tôi trả lời. Khi bày tỏ tình yêu, Chúa mong tôi đền đáp. Tuy nhiên, nhận lời đền đáp đòi phải có điều kiện. Đến dự tiệc cưới phải mặc áo cưới.

Mặc áo cưới là mặc lấy nhân phẩm. Được mời vào dự tiệc cưới Con Vua, tôi không còn là phường rác rưởi của xã hội nữa. Tôi đã được Chúa trân trọng. Nâng lên hàng thượng khách, là khách mời của Vua. Mặc áo cưới ở đây là tự trọng, cư xử như người tự do. Chúa đã phục hồi nhân phẩm cho tôi, tôi phải trân trọng giữ gìn.

Mặc áo cưới là mặc lấy tình yêu. Vì yêu thương Chúa đã mời tôi vào chung hưởng hạnh phúc với Người trong tiệc cưới. Đáp lại, tôi phải có tình yêu mến đối với Người. Tình yêu đáp đền tình yêu. Mặc áo cưới là trân trọng tình yêu của Chúa, là muốn đáp lại tình yêu của Chúa.

Mặc áo cưới là mặc lấy Chúa Kitô (x. Gl 3, 27). Được ơn cứu độ, ta trở thành em Chúa Kitô, vì thế ta phải noi gương Người mặc lấy tâm tình người con được Cha yêu thương và biết lấy tâm tình hiếu thảo đáp lại tình Cha. Mặc lấy Chúa Kitô cũng là mặc lấy con người mới là hình ảnh của Thiên Chúa công chính và thánh thiện (x. Ep 4, 24).

Thiên Chúa yêu thương mời gọi ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời. Đáp lại, ta phải đổi mới đời sống cho phù hợp với Nước Chúa, với tình yêu của Chúa và với địa vị mới của ta.

Lạy Chúa, xin cho con biết mạnh dạn đáp lại lời Chúa mời gọi.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Hằng ngày Chúa vẫn mời gọi tôi đến dự tiệc Thánh Thể, tôi có mau mắn đáp lời hay tôi thường từ chối?
  2. Mặc áo cưới là theo Chúa quyết liệt, không nửa vời tôi theo đạo nhưng tôi có thực hành Lời Chúa không?
  3. Bạn phải làm những gì để được coi là "mặc áo cưới"?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Lời Mời Của Chúa

Chúng ta tìm thấy ý nghĩa của hình ảnh tiệc cưới trong Tin Mừng: đó là lời mời gọi tin vào Chúa và đón nhận giáo huấn của Người. Đây cũng là lời mời gọi gia nhập cộng đoàn tín hữu, tức là Giáo Hội, để sống tình huynh đệ thân thương.

Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy Lời Chúa trong mấy Chúa nhật liên tiếp đều mang nội dung những lời mời. Người mời có thể là một vị vua (tiệc cưới hoàng tử), một ông chủ (mướn thợ làm vườn nho), hay đơn giản là một người cha (sai con đi làm). Những lời mời này không bó buộc khắt khe. Người được mời có thể đồng ý, có thể chối từ.

Thông thường, mời ai là thể hiện tình cảm và sự trân trọng đối với người đó. "Lời chào cao hơn mâm cỗ" như Ông Bà ta thường nói. Vì thế, người được mời cần tế nhị trong thái độ đáp lại, nhất là khi chủ thể của lời mời là một nhân vật quan trọng. Lời Chúa hôm nay cũng nói đến một lời mời, và là lời mời dự tiệc. Tuy vậy, những bữa tiệc này hoàn toàn khác với những bữa tiệc chúng ta chứng kiến hằng ngày.

Bài đọc I, ngôn sứ Isaia hướng tới một bữa tiệc trong tương lai, vào ngày Thiên Chúa can thiệp và ban ơn cứu độ. Đó sẽ là ngày vui mừng. Tang chế và sự chết không còn nữa. Đau khổ cũng chấm dứt. Đây là bữa tiệc do chính Thiên Chúa khoản đãi và ở trên núi cao. Độc giả người Do Thái dễ dàng hiểu, đây là ám chỉ hạnh phúc đời đời Chúa dành cho người công chính. Đó sẽ là khởi đầu của một cuộc sống mới trong Thiên Chúa.

Nếu bữa tiệc Ngôn sứ Isaia nhắc tới diễn tả với chúng ta về hạnh phúc Nước Trời trong tương lai, thì hình ảnh của bữa tiệc trong Tin Mừng lại quy hướng chúng ta về hiện tại. Vị vua là nhân vật chính trong câu chuyện xem ra có vẻ khác người. Ông quá dễ dãi trong việc mời thực khách, nhưng lại quá khắt khe trong trang phục của họ. Một điều lạ nữa ở thái độ của một số thực khách được mời. Phản ứng và cách hành xử của họ làm chúng ta ngỡ ngàng. Họ coi nhẹ lời mời của ông, thậm chí còn bắt đầy tớ, nhục mạ rồi giết chết. Vị vua là người dễ dãi quảng đại là thế, nhưng cũng không chịu nổi thái độ của những người này, nên đã nổi giận trước sự khước từ và thái độ gian ác của họ.. Ông đã lệnh cho đầy tớ đi ‘lùa" vào bàn tiệc tất cả những ai họ gặp ngoài đường và phố chợ. Lúc này xem ra không còn phải lựa chọn thực khách, mà ai cũng được mời đến thưởng thức một bữa tiệc thịnh soạn đã chuẩn bị sẵn sàng.

CN 28 TN A Chúng ta đừng quên bối cảnh của đoạn Tin Mừng trên đây: câu chuyện ông vua mở tiệc cưới cho hoàng tử được đặt vào thời điểm một số người Do Thái đang chống đối Chúa Giêsu một cách kịch liệt, vì Chúa đuổi người buôn ra khỏi Đền Thờ. Chúa cũng khiển trách mưu mô và sự cứng lòng tin của họ. Câu chuyện vườn nho và những tá điền bất lương (Mt 21, 33-42) đã diễn tả quá rõ thái độ của những luật sĩ và biệt phái.

Như thế, chúng ta tìm thấy ý nghĩa của hình ảnh tiệc cưới trong Tin Mừng: đó là lời mời gọi tin vào Chúa và đón nhận giáo huấn của Người. Đây cũng là lời mời gọi gia nhập cộng đoàn tín hữu, tức là Giáo Hội, để sống tình huynh đệ thân thương. Quả vậy, Giáo Hội là một gia đình, luôn mở rộng cửa để đón tất cả mọi người không phân biệt. Đây không phải là sự ép buộc, mua chuộc hay lợi dụng, nhưng mọi người đều hoàn toàn tự do trước lời mời này. Ông vua mời dự tiệc cưới cũng như người gieo giống, rất kiên trì và quảng đại, để tùy vào sự đáp trả tự do của con người. Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã đề cập tới phản ứng khác nhau của những khách được mời. Đó cũng là thái độ của con người trước lời mời gọi của Chúa. Một khi đón nhận giáo huấn của Người phải can đảm từ bỏ lối sống cũ không phù hợp, nên nhiều người kiếm cớ để chối từ. Khi nói đến trường hợp người được mời hành hạ và giết đầy tớ của vua, phải chăng Đức Giêsu muốn nhắc tới chính cái chết của Người. Người là Con Thiên Chúa, Đấng đến trần gian đề mời gọi nhân loại chia sẻ vinh quang và sự thánh thiện của Chúa, nhưng đã bị bạc đãi và giết chết.

Cần lưu ý, dù người ta đón nhận Chúa hay chối từ Người, thì vào thời điểm cuối cùng của lịch sử, họ cũng phải trình diện trước nhan Người để chịu phán xét. Đó là ý nghĩa lời phê phán của vị vua chủ tiệc, khi thấy một thực khách dự tiệc mà không mặc áo cưới. Nếu ông quảng đại rộng rãi trong việc đãi tiệc, thì lại khắt khe trong việc y phục của thực khách. Việc quảng đại đãi tiệc là việc của Chúa, việc chuẩn bị cho xứng hợp là bổn phận về phía con người. Đến ngày phán xét, mỗi người phải mang trách nhiệm về cách hành xử và thái độ của mình đối với Chúa và đối với tha nhân.

Hình ảnh bữa tiệc giúp người tín hữu kiên vững trong đức tin, mặc dù phải trải qua muôn vàn thử thách. Thánh Phaolô là một ví dụ điển hình. Đối với thánh nhân, thử thách, gian nan và thiếu thốn không quan trọng, vì ngày xác tín rằng Thiên Chúa là Đấng sẽ chu cấp dư dật cho những ai biết quảng đại cho đi (Bài đọc II).

Lời Chúa hôm nay vừa phê phán những người được mời trân trọng mà lại chối từ, vừa khẳng định: những ai được mời ồ ạt sau này cũng phải có điều kiện cần thiết để dự tiệc. Mặc dù lời mời gọi của Chúa được gửi đến hết thảy mọi người, Nước trời không phải một thứ "dồn toa" tổng hợp ai cũng được vào, nhưng là nơi dành cho những ai thiện chí thực thi Lời Chúa và bền tâm mến Chúa yêu người.

Bữa tiệc tương lai (Bài đọc I) và bữa tiệc hiện tại (Bài Tin Mừng) không phải là một ảo tưởng hoang đường nhằm ru ngủ chúng ta trước thực tại của cuộc sống. Đó chính là niềm hy vọng giúp ta vững bước, đồng thời nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện giữa cuộc đời. Ngài không ngừng mời gọi chúng ta hãy sống thánh thiện và nhân ái, để chuẩn bị cho hạnh phúc vĩnh cửu, là bữa tiệc đời đời Chúa dành cho những ai trung tín với Ngài.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item