Welcome, Guest
You have to register before you can post on our site.

Username
  

Password
  





Search Forums

(Advanced Search)

Forum Statistics
» Members: 6
» Latest member: MaiThao
» Forum threads: 594
» Forum posts: 596

Full Statistics

Online Users
There is currently 1 user online
» 0 Member(s) | 1 Guest(s)

Latest Threads
Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh T...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
05-19-2018, 06:28 AM
» Replies: 0
» Views: 2
Chúa Nhật Lễ Chúa Thăng T...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
05-12-2018, 05:41 AM
» Replies: 0
» Views: 8
Chúa Nhật VI Phục Sinh – ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
05-04-2018, 12:32 AM
» Replies: 0
» Views: 26
Chúa Nhật V Phục Sinh – N...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
04-27-2018, 08:02 PM
» Replies: 0
» Views: 21
Chúa Nhật IV Phục Sinh – ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
04-21-2018, 11:43 PM
» Replies: 0
» Views: 27
Chúa Nhật III Phục Sinh –...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
04-13-2018, 04:11 AM
» Replies: 0
» Views: 38
Chúa Nhật II Phục Sinh – ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
04-05-2018, 05:39 PM
» Replies: 0
» Views: 58
Chúa Nhật Lễ Phục Sinh Nă...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
03-31-2018, 02:21 AM
» Replies: 0
» Views: 67
Chúa Nhật Lễ Lá Năm B
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
03-21-2018, 07:08 PM
» Replies: 0
» Views: 95
Lễ Thánh Giuse
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
03-19-2018, 08:48 PM
» Replies: 0
» Views: 94

 
Information Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống – Năm B
Posted by: LongHai - 05-19-2018, 06:28 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Đấng Ban Phát Niềm Vui

Niềm vui của Chúa không chỉ là niềm vui trần gian nhất thời và bề ngoài, nhưng đó chính là niềm vui nội tâm, giúp cho con người được hạnh phúc. Niềm vui ấy là ân ban của Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, Đấng đang hiện diện trong Giáo Hội và là linh hồn của Giáo Hội. Chúa Thánh Thần chính là Đấng ban phát niềm vui.

"Niềm vui" là một điểm nhấn nổi bật trong giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô. Theo ngài, hiệu quả của sứ mạng truyền giáo bị hạn chế vì đôi khi đức tin được trình bày một cách cứng nhắc, khô khan, thiếu vắng niềm vui. Thiên Chúa hiện diện giữa dân của Ngài. Đó là niềm vui mừng lớn lao và đó cũng là điểm làm nên sự khác biệt giữa Do Thái giáo và các tôn giáo đương thời khác. Đức Giêsu là Tin Mừng của Thiên Chúa. Chính cuộc sống của Người là Tin Mừng. Người đến trần gian làm cho Tin Mừng ấy được lan tỏa mọi nẻo đường của cuộc sống. Niềm vui của Chúa không chỉ là niềm vui trần gian nhất thời và bề ngoài, nhưng đó chính là niềm vui nội tâm, giúp cho con người được hạnh phúc. Niềm vui ấy là ân ban của Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, Đấng đang hiện diện trong Giáo Hội và là linh hồn của Giáo Hội. Chúa Thánh Thần chính là Đấng ban phát niềm vui.

Đề tài "niềm vui" được trải dài trong các bài đọc Cựu ước cũng như Tân ước được đề nghị trong thánh lễ Vọng, chiều thứ Bảy, trước lễ Hiện Xuống, và được diễn tả một cách đặc biệt trong bài Tin Mừng lễ chính ngày. Thánh Gioan kể lại, trong lúc các tông đồ đang u sầu đau khổ, Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra với các ông, mặc dù các cửa nhà đều đóng kín. Việc gặp gỡ Chúa Giêsu đem lại cho các ông niềm vui vỡ òa. Bởi lẽ, trước đó, họ đau đớn chứng kiến việc thày mình bị bắt, bị tra tấn và bị giết chết. Tuy vậy, niềm vui không chỉ hệ tại ở cuộc gặp gỡ với Đấng Phục sinh, mà Đấng Phục sinh đã trao ban cho các ông Thánh Thần, Đấng là Tình Yêu muôn thuở và là Niềm Vui bất tận. "Bình an cho anh em! Như Cha đã sai Thày, Thày cũng sai anh em". Lời cầu chúc này đi đôi với cử chỉ "thổi hơi". Đây là một cách diễn tả thấm nhuần truyền thống của Cựu ước. Vì Thiên Chúa thổi hơi để ban cho con người có sức sống (x. St 2, 7). Ngôi Ba Thiên Chúa hay Chúa Thánh Thần được diễn tả như: Gió, Thần Khí, Hơi Thở, Sự Sống. Vì thế, việc Đức Giêsu "thổi hơi" trên các tông đồ nhắc lại việc Thiên Chúa ban Thần Khí của Ngài cho mọi loài tạo vật và cho con người vừa được nắn từ bùn đất. Chính nhờ Thần Khí mà vũ trụ này được tác tạo và luân chuyển xoay vòng theo một trật tự diệu kỳ. Tiếp nối ý tưởng "Thần Khí" và "Thổi hơi", bài đáp ca trong thánh lễ hôm nay tuyên xưng: "Ngài rút hơi thở chúng đi, chúng chết ngay, và chúng trở về chỗ tro bụi của mình. Nếu Ngài gửi hơi thở tới, chúng được tạo thành, và Ngài canh tân bộ mặt trái đất" (Tv 103, 29). Quả vậy, không có Chúa Thánh Thần (hay Thần Khí Thiên Chúa), sự sống trên trái đất sẽ chấm dứt, thiên nhiên vũ trụ sẽ biến thành hư vô. Chúng ta gọi Chúa Thánh Thần là "Thần Khí tác tạo" là vì thế.

Khi mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội nhìn lại lịch sử mà mình đã được sinh ra. Ngày lễ Ngũ Tuần là một lễ quan trọng của người Do Thái. Vào chính ngày này, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ. Lịch sử đã sang một trang mới. Nỗi buồn bị đẩy lui, nhường chỗ cho niềm vui; sự sợ hãi nơi các tông đồ chấm dứt, nhường chỗ cho lòng can đảm nhiệt thành loan báo Tin Mừng Phục sinh. Tác giả sách Công vụ Tông đồ đã diễn tả sự kiện Chúa Thánh Thần hiện xuống như một lễ khai sinh trọng thể của Giáo Hôi (Bài đọc I).

Đấng đã đến với Giáo Hội trong ngày lễ Ngũ Tuần vẫn hiện diện giữa chúng ta, vẫn tiếp tục ban cho chúng ta niềm vui tràn đầy và nâng đỡ chúng ta trong hành trình cuộc đời, giữa những chông gai thử thách trăm chiều. Nhờ Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội được liên kết gắn bó giữa các nền văn hóa khác nhau trên trái đất, làm thành gia đình của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh một thân thể con người để diễn tả tính đa dạng và hoàn vũ của Giáo Hội: "Cũng như chỉ có một thân thể nhưng có nhiều chi thể, mà các chi thể tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể, thì Chúa Kitô cũng vậy. Vì chưng trong một Thánh Thần, tất cả chúng ta được thanh tẩy để làm nên một thân thể, cho dù là Do Thái hay dân ngoại, nô lệ hay tự do: tất cả chúng ta đã uống trong một Thánh Thần".

Trong Tông huấn "Gaudete Exultate" mới công bố ngày 9-4-2018, Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết: "Cuộc đời Kitô hữu là cuộc đời "vui mừng trong Chúa Thánh Thần" (Rom 14, 17), vì "kết quả cần thiết của tình yêu bác ái là vui mừng; bởi vì mỗi người yêu đều vui mừng khi được kết hợp với người mình yêu ... ảnh hưởng của lòng bác ái là niềm vui.. Khi nhận được hồng ân Lời Chúa tuyệt mỹ, chúng ta ôm chặt lấy Lời ấy "giữa bao gian khổ, với niềm vui của Chúa Thánh Thần" (1 Tx 1, 6). Nếu chúng ta để cho Chúa kéo chúng ta ra khỏi cái vỏ của mình và thay đổi cuộc sống của mình, thì chúng ta có thể làm như Thánh Phaolô nói với chúng ta: "Hãy hãy luôn vui mừng trong Chúa. Tôi nhắc lại, hãy vui lên!" (Pl 4, 4) (số 122).

Lễ Hiện Xuống được cử hành trong tháng Năm, là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Đức Maria đã hiện diện với Giáo Hội trong ngày lễ Ngũ Tuần. Chúa Thánh Thần ngự đến trong khi các tông đồ quây quần xung quanh Đức Mẹ để cầu nguyện. Trong suốt chặng đường dài của lịch sử Giáo Hội, Đức Mẹ vẫn hiện diện để che chở Giáo Hội và nâng đỡ các tín hữu. Mới đây, Đức Thánh Cha Phanxicô đã thiết lập ngày lễ kính Đức Mẹ với tước hiệu "Mẹ Giáo Hội", và ngài ấn định vào ngày thứ Hai sau lễ Hiện Xuống hằng năm. Điều này giúp chúng ta liên kết với hình ảnh Đức Mẹ cầu nguyện giữa các môn đệ như đã nói trên. Mỗi người hãy dâng lên Đức Mẹ đóa hoa lòng, thể hiện qua tâm tình yêu mến, siêng năng lần hạt Mân Côi và thực thi bác ái đối với tha nhân. Đó là những đóa hoa không tàn úa với thời gian, nhưng luôn tươi đẹp và tỏa ngàn sắc hương trước dung nhan Mẹ. Chắc chắn Mẹ sẽ ban cho chúng ta hạnh phúc và niềm vui trong cuộc sống hôm nay.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật Lễ Chúa Thăng Thiên – Năm B
Posted by: LongHai - 05-12-2018, 05:41 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Quê Trời

Quê trời là phần thưởng Chúa Cha dành cho người công chính. Hạnh phúc Nước trời là được chìm mình trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi, cùng với anh chị em mình. Đó là tình yêu vĩnh cửu, viên mãn, tồn tại muôn đời.

Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó, như chính Người đã khẳng định: "Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã trao cho con" (Ga 17, 4). Và, như người lính sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về với ngành nguyệt quế chiến thắng, Đức Giêsu được cất lên trời trong vinh quang và giữa tiếng muôn thiên thần tung hô chúc tụng. "Được cất lên", đó là kiểu nói của Kinh Thánh. Độc giả Do Thái dễ dàng liên tưởng đến trường hợp của ngôn sứ Elia và ông Enốc trong Cựu ước. Hai vị này đã được Chúa cất lên không trung, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ ngôn sứ.

Việc Chúa về trời trước hết diễn tả vinh quang chiến thắng. Qua sự phục sinh, Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần. Người cũng chiến thắng những cám dỗ của thế gian nhằm lôi kéo Người từ bỏ thực thi ý định của Chúa Cha. Chúa Giêsu về trời, đem theo những dấu tích của cuộc khổ nạn (dấu đinh), như bằng chứng của sự hy sinh tự hiến để thánh ý Chúa Cha được nên trọn.

Việc Chúa Giêsu về trời đánh dấu sự hoàn tất của công trình cứu độ được thực hiện qua biến cố thập giá. Tuy vậy, sự hoàn tất này lại mở ra một gian đoạn mới trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa. Lịch sử cứu độ đã sang một trang mới kể từ biến cố phục sinh. Nhận được lệnh truyền của Chúa, các môn đệ đã hân hoan ra đi thi hành sứ vụ. Đây là một cuộc lên đường mới, đầy hứng khởi nhiệt tình. Việc Chúa được cất lên trời không làm cho các môn đệ u sầu buồn bã, trái lại các ông lại hân hoan vui vẻ, vì tin chắc có Chúa ở với mình. Từ nay, các ông được trang bị bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, cùng với khả năng làm phép lạ mà chính Chúa đã ban cho các ông, như lời căn dặn trước khi Người về trời. Với lời "sai đi" của Chúa, lãnh vực truyền giáo không còn giới hạn trong xứ Palestina, nhưng đã mở ra những chân trời mới. Nước của Chúa không còn giới hạn ở những cột mốc lãnh thổ, nhưng lan rộng đến mọi nền văn hóa, đến mọi dân tộc. Chúa đã về trời. Cũng như trời rộng bao la mênh mông thế nào, thì vương quốc bình an mà Người đã khởi sự thiết lập cũng sẽ rộng lớn như vậy.

Chúa Giêsu đã nhập thể và mang lấy thân phận con người như chúng ta. Sau khi kết thúc cuộc đời trần gian, Người đã khải hoàn về thiên quốc. Việc Chúa Giêsu về trời cũng khẳng định với chúng ta, đất và trời từ nay không còn cách biệt nữa. Dưới đất này đã có trời, và trên trời cao đã có đất. Quả vậy, nếu định nghĩa trời là nơi Thiên Chúa ngự trị, thì trong "cõi người ta" này, Thiên Chúa đang hiện hữu để chúc lành và dẫn dắt chúng ta bằng cánh tay yêu thương của Ngài. Nếu định nghĩa đất là nơi con người sinh sống, thì trên trời, hiện đã có một "Con Người" là Đức Giêsu, mẫu mực chung cho tất cả mọi người về cách sống cũng như về sự hy sinh vì tha nhân. Vì thế, liền sau khi Chúa Giêsu được cất lên, trong khi các môn đệ còn bỡ ngỡ lưu luyến, thì hai sứ thần đã nói với họ: "Hỡi người xứ Galilê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời". Qua những lời này, các sứ thần muốn khẳng định với các ông rằng, các ông hãy quay về với bổn phận, vì tuy Chúa đã về trời, Người vẫn luôn hiện diện trên mặt đất này với các ông. Từ nay, mọi bước đường truyền giáo của các ông sẽ có Chúa đi cùng. Người hiện diện thiêng liêng, vô hình nơi trần gian, và Người sẽ trở lại trong vinh quang vào thời tận cùng của lịch sử. Chính vì vậy, "Người lên trời không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước" (Kinh Tiền tụng lễ Thăng Thiên).

"Quê Trời" là niềm mơ ước của con người thuộc mọi nền văn hóa, dù khái niệm về trời rất mông lung bàng bạc. Trong quan niệm dân gian của người Việt, "Trời" không chỉ là cái vòm màu xanh ở tít trên cao, nhưng là một "Đấng", một "Ông", một "Vị". Nơi "Ông Trời" người ta tin tưởng cầu xin ơn phù trợ để mọi sự tốt lành: "Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm" (Ca dao). Trời cũng là nơi ở dành cho các anh hùng dân tộc, những người có công với nước, như trường hợp Thánh Gióng, sau khi đánh giặc Ân, cưỡi ngựa về trời.

Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta: Quê trời là phần thưởng Chúa Cha dành cho người công chính. Hạnh phúc Nước trời là được chìm mình trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi, cùng với anh chị em mình. Đó là tình yêu vĩnh cửu, viên mãn, tồn tại muôn đời. Hạnh phúc Chúa Giêsu hứa ban không phải một thứ "bánh vẽ" xa vời, một thứ "thuốc phiện mê dân" ảo tưởng, Nước Trời đã hiện diện giữa trần gian, ngay ngày hôm nay, nơi cuộc đời của mỗi người chúng ta, nếu chúng ta biết đón nhận bằng con tim rộng mở và tấm lòng chân thành.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật VI Phục Sinh – Năm B
Posted by: LongHai - 05-04-2018, 12:32 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


"Niềm Vui Trọn Vẹn"

Có được niềm vui ấy là nhờ sự hiện diện của Đức Giêsu Phục sinh. Niềm vui ấy cũng đến từ việc mọi tín hữu chuyên tâm thực hiện những gì Chúa đã dạy, nhất là đức yêu thương, nhờ đó mà niềm vui của họ là niềm vui trọn vẹn, như Chúa đã hứa.

"Tông đồ Công vụ" là cuốn sách ghi lại đời sống Giáo Hội thời kỳ sơ khai của cộng đoàn tín hữu Kitô. Tác giả luôn có cái nhìn lạc quan về đời sống đức tin và của các cộng đoàn. Những người tin Chúa gia tăng nhanh chóng. Những thày phù thùy bói toán cũng "bỏ nghề" mà gia nhập Giáo Hội của Chúa. Tâm trạng các tín hữu là vui mừng, mặc dù trải qua nhiều khó khăn ghen ghét từ phía một số đầu mục Do Thái. Có được niềm vui ấy là nhờ sự hiện diện của Đức Giêsu Phục sinh. Niềm vui ấy cũng đến từ việc mọi tín hữu chuyên tâm thực hiện những gì Chúa đã dạy, nhất là đức yêu thương, nhờ đó mà niềm vui của họ là niềm vui trọn vẹn, như Chúa đã hứa.

Chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu lên trời, Phụng vụ cho chúng ta nghe lại tâm tình của Chúa Giê-su qua những lời tâm sự của Người vào lúc kết thúc bữa tiệc ly. Đó là những lời yêu thương của một vị thầy đối với các môn đệ, của một người cha đối với các con trước lúc đi xa. Tiếp nối những lời dặn dò chúng ta đã nghe tuần trước, Chúa Giê-su tiếp tục mời gọi các môn đệ hãy ở lại trong tình yêu của Người. Nhờ việc "ở lại" này, mà mặc dù Người vắng bóng, các ông vẫn nhận rõ sự hiện diện đầy yêu thương của Người và nhờ đó lòng các ông tràn đầy niềm vui.

Thế nào là một niềm vui trọn vẹn? Đó là khi kết hợp với Chúa Giêsu để nhờ Người dẫn tới Chúa Cha. Người xác tín vào Chúa không còn ủ dột lo lắng, nhưng an vui trong mọi tình huống của cuộc đời. Niềm vui trọn vẹn cũng là niềm vui chúng ta có được khi chân thành yêu mến người khác và mong muốn điều tốt đẹp đến với họ. Bởi lẽ niềm vui được chia sẻ là niềm vui được nhân đôi, và đó là niềm vui trọn vẹn hoàn hảo. Vào thời thư thứ nhất của thánh Gioan được viết ra, đức tin của một số tín hữu bị dao động do cách lập luận của một số người, nhằm gieo rắc chia rẽ nơi cộng đoàn. Thánh Gioan an khẳng định: Thiên Chúa yêu chúng ta trước, bằng chứng là việc Ngài sai Con Một của Ngài đến trần gian để chia sẻ phận người và chịu chết vì chúng ta. Theo tác giả, thực thi đức yêu thương đồng nghĩa với việc sinh bởi Thiên Chúa và ngược lại, ghen ghét là sinh bởi ma quỷ (Bài đọc II). Sau này, thánh Phaolô khẳng định: yêu thương là chu toàn Lề Luật.

Niềm vui Phục sinh không chỉ dành cho người Do Thái, cũng không giới hạn với một số người được tuyển lựa, nhưng đó là niềm vui dành cho hết những ai thành tâm tìm kiếm Chúa và tôn thờ Người. Đó là điều Phêrô đã cảm nghiệm, sau khi chính bản thân ông chứng kiến rất nhiều điều lạ lùng phi thường Chúa đã làm. Một trong những điều lạ lùng ấy là việc trở lại của gia đình ông Cornelio. Cùng một lúc, Chúa đã soi sáng cho cả hai người, Phêrô và ông Cornelio, để cho thấy bất kỳ ai cũng được đón nhận vào cộng đoàn tín hữu, và được chia sẻ niềm vui của những con cái Chúa. Trong gia đình của Thiên Chúa, không có phân biệt loại trừ, nhưng dù trong hoàn cảnh đời sống nào chăng nữa, con người vẫn luôn là đối tượng yêu thương vô bờ của Ngài.

"Thày gọi các con là bạn hữu". Lời nói này thật thâm sâu biết bao! Chúng ta thường có thói quen đọc lướt qua những lời trong Tin Mừng, nên ít khi dừng lại suy tư ý nghĩa của những câu từ được sử dụng trong các bản văn Kinh Thánh. Có lẽ không vị sáng lập tôn giáo nào lại nói với các môn sinh của mình bằng những từ ngữ ngọt ngào như thế. Chúa coi chúng ta là bạn, tức là kể chúng ta như những người tâm phúc với Chúa. Bạn bè là những người tri âm tri kỷ, hiểu nhau và sẵn sàng hy sinh giúp đỡ nhau trong những lúc khó khăn. Nếu có Chúa là Bạn, chúng ta không còn sợ hãi lo lắng gì. Có Chúa là Bạn, chúng ta cũng nắm chắc phần rỗi. Có bao giờ chúng ta tâm sự với Chúa, thật gần gũi thân thiết, như với một người bạn không?

Giữa cuộc đời còn nhiều phong ba bão tố, Đấng Phục sinh mời gọi chúng ta "Hãy vui lên!". Lời gọi ấy xem ra vô nghĩa, đối với những người đang đau buồn trước sự ra đi của người thân, trước những đổ vỡ trong đời sống gia đình và trước những thất bại ê chề trong cuộc đời dương thế. Tuy vậy, kinh nghiệm đời thường cho ta thấy không thể ngồi mãi mà ôm nỗi đớn đau khi mất một người thân vì phía trước là cuộc sống, là tương lai và biết bao điều tốt đẹp đang chờ đợi. Lời Chúa cũng khẳng định với chúng ta, một khi vững tâm trông cậy vào Người, chúng ta sẽ vượt lên những gian nan, hàn gắn những thương tổn và cố sức để thành đạt. Sự tin cậy tín thác vào Chúa sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui trọn vẹn.

Đấng Phục sinh còn sai chúng ta lên đường để đem niềm vui vào lòng cuộc đời, để niềm vui ấy sinh hoa kết trái, làm nở rộ những đóa hoa yêu thương. Đây là sứ vụ cao cả của người tín hữu, cũng là trách nhiệm chung của tất cả chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật V Phục Sinh – Năm B
Posted by: LongHai - 04-27-2018, 08:02 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


"Ở Lại Trong Thày"

"Hãy ở lại trong Thày". Động từ "ở lại" trong Tin mừng Gioan mang nhiều ý nghĩa. Lời mời gọi này được lặp đi lặp lại nhiều lần, vào cuối bữa tiệc ly, lời mời gọi ấy càng trở nên tha thiết. Nó diễn tả tương quan thày trò, nghĩa cha con, tình bạn hữu giữa Đức Giêsu và các môn đệ.

Sau Đại lễ Phục sinh, bầu không khí hân hoan sầm uất đang lắng dần. Phụng vụ thánh lễ hằng ngày cũng như đời sống của người tín hữu cũng đang lấy lại nhịp sống bình thường. Một câu hỏi được đặt ra: Liệu ân sủng và hiệu quả của lễ Phục sinh cũng chấm dứt với thời gian? Phụng vụ trả lời: Không, Đức Giêsu Phục sinh đang hiện diện nơi thâm sâu nhất của tâm hồn con người. Sự hiện diện ấy như một nhựa sống thiêng liêng, làm cho chúng ta được an vui và mạnh mẽ. Sự hiện ấy làm nên căn bản của cuộc sống Kitô hữu và nối kết chúng ta với Chúa Cha, và như vậy, chúng ta được nếm hưởng hạnh phúc Nước trời ngay ở đời này.

"Thày là cây nho...". Cũng như hình ảnh người mục tử, hình ảnh cây nho rất gần gũi thân thương với cuộc sống của người Do Thái. Giáo lý của Chúa cao siêu về nội dung, nhưng lại đơn sơ trong cách diễn tả. Ai cũng biết cây nho cần phải vun trồng, cắt tỉa để có thể sinh hoa kết trái. Nếu hình ảnh người mục tử nhắc nhớ chúng ta về sự hy sinh cao cả của Đức Giêsu, thì hình ảnh cây nho lại mời gọi chúng ta gắn bó với Người. Nếu Đức Giêsu hy sinh để đem cho chúng ta nguồn sống mới, thì chúng ta phải đón nhận nguồn sống thiêng liêng ấy bằng tình yêu mến, cậy trông.

Cây nho mà Chúa Giêsu nói đến vừa có những cành xanh tươi tràn đầy nhựa sống, vừa có những cành héo úa cằn khô. Hình ảnh này muốn diễn tả đời sống người tín hữu. Thời nào cũng vậy, có những người đạo đức siêng năng, nhưng cũng có những người dửng dưng hờ hững. Người tín hữu không gắn bó với Chúa giống như cành khô, chỉ dùng làm củi. Trái lại, những tín hữu gắn bó, giống như cành nho gắn liền với thân, luôn an vui hạnh phúc, khi cầu nguyện họ được Chúa nhận lời. Hình ảnh gắn bó ấy được Chúa diễn tả qua lời mời gọi: "Hãy ở lại trong Thày". Động từ "ở lại" trong Tin mừng Gioan mang nhiều ý nghĩa. Lời mời gọi này được lặp đi lặp lại nhiều lần, vào cuối bữa tiệc ly, lời mời gọi ấy càng trở nên tha thiết. Nó diễn tả tương quan thày trò, nghĩa cha con, tình bạn hữu giữa Đức Giêsu và các môn đệ.

"Hãy ở lại trong Thày" tức là hãy trung tín với Thày, kể cả vào giờ phút khó khăn khủng hoảng nhất, giờ đó chính là lúc Người bị bắt trong Vườn Cây Dầu.

"Hãy ở lại trong Thày", tức là hãy kiên vững trước mọi gian lao thử thách sau này, vì họ đã ghét Thày, họ cũng sẽ ghét các con".

"Hãy ở lại trong Thày như Thày ở trong anh em". Thật vinh hạnh cho người tín hữu, bởi họ có Chúa ngự trong lòng họ, làm cho họ được "thần hóa" và nên giống Người. Điều này được diễn tả một cách cụ thể và tuyệt vời, khi chúng ta đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy suy tư về thái độ sống của mỗi người, với tư cách là tín hữu. Quả vậy, chúng ta có nhiều lúc giống như cành nho bị lìa khỏi thân cây, vì chúng ta dửng dưng đối với Thiên Chúa, dửng dưng trước lời mời gọi của Tin Mừng. Một khi không còn gắn kết với thân nho, chúng ta cũng lìa xa các cành nho khác là anh chị em đồng loại. Không liên kết với Thày Giêsu, chúng ta cũng khó mà liên kết với tha nhân. Thánh Gioan tông đồ đã nhấn mạnh đến điều này, khi đặt tình yêu thương lên hàng đầu của các thực hành Kitô giáo (Bài đọc II). Khái niệm "ở lại trong Chúa" cũng được tác giả nhấn mạnh: "Ai giữ các giới răn của Người, thì ở trong Người và Người ở trong họ". Đây là sự hòa quyện giữa tâm hồn chúng ta với Chúa Ba Ngôi, nhờ việc Ngài đến ở trong chúng ta, như chúng ta được ở trong Ngài.

Thông thường, cây nho muốn sinh hoa kết trái thì phải được cắt tỉa hằng năm. Sự cắt tỉa ấy làm cho cây rỉ máu vì đau đớn, nhưng thật cần thiết, vì nếu không cắt tỉa, cây sẽ cằn cỗi, vô dụng. Mỗi năm, khi tưởng niệm cuộc thương khó của Đức Giêsu, các tín hữu cũng được mời gọi chết đi với con người cũ để sống lại với Đấng Phục Sinh. Sự "chết đi" ấy không phải chỉ là lý thuyết suông, nhưng là những hy sinh cố gắng để vác thập giá cuộc đời, để được gắn bó hơn với Đấng đã hy sinh đến cùng vì yêu thương chúng ta.

Phaolô, vị tông đồ dân ngoại, đã để cho Chúa "cắt tỉa" đời mình. Từ một người hăng say tìm giết các tín hữu, cuộc gặp gỡ kỳ diệu với Đức Giêsu trên đường đi Đa-mát đã làm thay đổi cuộc đời ông và biến ông thành một nhân chứng trung kiên loan báo Tin Mừng. Tác giả sách Công vụ Tông đồ cho thấy Phaolô đã sớm hòa nhập với các tông đồ để thực hiện sứ mạng Chúa trao phó. Ông sẵn sàng chấp nhận những nguy hiểm đe dọa tính mạng để làm chứng cho Chúa (Bài đọc I). Ông thực sự gắn bó với Đức Giêsu, đến nỗi sau này ông viết: "Tôi không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá" (1 Cr 2, 2).

Dù trong hoàn cảnh nào của cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng có thể trở nên tông đồ của Chúa, nếu chúng ta thực sự "ở lại trong Người".

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật IV Phục Sinh – Năm B
Posted by: LongHai - 04-21-2018, 11:43 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Hiệp Thông và Hiệp Nhất

Tình hiệp thông và hiệp nhất này làm nên vẻ đẹp của Giáo Hội, tạo nên sự khác biệt độc đáo khi so với các tôn giáo khác trên thế giới. Bởi lẽ Giáo Hội do Chúa Giêsu thiết lập bao gồm mọi nền văn hóa, mọi chủng tộc, mọi ngôn ngữ và mọi ý thức hệ chính trị. Đó là một đàn chiên đông đảo, hiện diện trên mọi lãnh thổ của thế giới. Đàn chiên ấy có Chúa Giêsu là Mục tử. Nhờ vị Mục tử này, mà đàn chiên ấy trường tồn và phát triển, mặc cho những bão tố của thời gian.

Đầu tháng 3 vừa qua, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã thực hiện chuyến viếng thăm Ad Limina tại Rôma theo Giáo Luật quy định. Mục đích của chuyến viếng thăm này là viếng mộ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, đồng thời yết kiến Đức Thánh Cha, vị Mục tử tối cao của Giáo Hội Công giáo. Qua cuộc viếng thăm Ad Limina, các Giám mục trên toàn thế giới nói chung và các Giám mục Việt Nam nói riêng, thể hiện tình hiệp thông với vị Đại diện Chúa Kitô ở trần gian và tình hiệp nhất thiêng liêng trong Giáo Hội. Tình hiệp thông và hiệp nhất này làm nên vẻ đẹp của Giáo Hội, tạo nên sự khác biệt độc đáo khi so với các tôn giáo khác trên thế giới. Bởi lẽ Giáo Hội do Chúa Giêsu thiết lập bao gồm mọi nền văn hóa, mọi chủng tộc, mọi ngôn ngữ và mọi ý thức hệ chính trị. Đó là một đàn chiên đông đảo, hiện diện trên mọi lãnh thổ của thế giới. Đàn chiên ấy có Chúa Giêsu là Mục tử. Nhờ vị Mục tử này, mà đàn chiên ấy trường tồn và phát triển, mặc cho những bão tố của thời gian.

Chúa nhật thứ bốn của Mùa Phục sinh thường được gọi là "Chúa nhật Chúa Chiên lành". Trong chu kỳ cả ba năm, Phụng vụ Lời Chúa đều cho chúng ta thấy chân dung của một vị Mục tử, đó là Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh người chăn chiên để nói về sứ mạng của Người, và dùng hình ảnh đàn chiên để diễn tả cộng đoàn đức tin, tức là những ai chấp nhận làm môn đệ của Chúa. Mục tử và đàn chiên, những hình ảnh này rất gần gũi với đời sống hằng ngày của người Do Thái, là dân chủ yếu sống bằng nghề du mục và chăn chiên. Những hình ảnh này cũng thường được dùng trong Cựu ước, để diễn tả sự quan tâm chăm sóc của Chúa dành cho dân riêng Ngài đã chọn. Thiên Chúa như một mục tử. Cũng như mục tử biết rõ từng con chiên, Chúa cũng biết rõ mỗi người, và hiểu hết những trăn trở lo âu của họ. Chúa cũng biết rõ những hoàn cảnh của họ để chúc lành và nâng đỡ.

Chúa Giêsu tiếp tục dùng hình ảnh mục tử và đàn chiên để nói về cộng đoàn những người tin vào Người. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã so sánh mục tử đích thực với người chăn chiên thuê. Mục tử đích thực sẵn sàng hy sinh bảo vệ đàn chiên. Người chăn thuê sợ hãi chạy trốn khi gặp nguy hiểm. Hình ảnh vị Mục tử tốt lành được giới thiệu trong Chúa nhật thứ bốn của mùa Phục sinh, tức là sau khi chúng ta đã cử hành cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa, để chứng minh rằng Chúa Giêsu chính là Mục tử đã hiến mạng sống mình cho đàn chiên được sống. Không chỉ cho đàn chiên, mà cho tất cả những ai thành tâm thiện chí đón nhận và thực thi giáo huấn của Người.

So sánh nào cũng khập khiễng, hình ảnh người mục tử thực ra không thể diễn tả hết sứ mạng và quyền năng của Chúa Giêsu. Bởi lẽ vị Mục tử Giêsu đã chết cho đàn chiên và đã sống lại vinh quang. Hơn thế nữa, Người vẫn luôn hiện diện giữa đàn chiên và nơi mỗi con chiên. Người hiện diện để nâng đỡ, an ủi và chữa lành. Đàn chiên của Chúa, tức là Giáo Hội, nhờ sự hiện diện của Đấng Phục sinh mà luôn tràn đầy sức sống.

"Tôi còn những chiên khác không thuộc đàn này, cả những chiên đó, tôi cũng phải mang về đàn. Chúng sẽ nghe tiếng tôi, và sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên". Những lời này, vừa là ước mơ của Chúa Giêsu, vừa là sứ mạng Người trao cho những ai mang danh Người. Quả vậy, mỗi Kitô hữu có bổn phận phải giới thiệu Chúa cho những anh chị em chưa biết Người. Mỗi người phải cộng tác làm cho đàn chiên thêm tăng số. Cộng tác bằng cách nào? Thánh Gioan trả lời: Hãy nhận ra tình yêu thương của Chúa và hãy sống xứng đáng với tình yêu thương ấy. Là tín hữu Kitô, tức là những người nhận biết Chúa. Sự nhận biết ấy không dừng lại ở trí tuệ hay lý thuyết, nhưng phải được thể hiện bằng việc làm cụ thể, đó là tình mến đối với tha nhân. Tình mến làm cho chúng ta là những con người phàm hèn trở nên giống Con Thiên Chúa. Đó là một điều chắc chắn cho những ai tin vào Người (Bài đọc II).

Chúng ta vừa hân hoan mừng lễ Phục sinh. Một trong những thông điệp quan trọng mà Phụng vụ muốn gửi đến các tín hữu nhân dịp đại lễ này, đó là mỗi người đều được tái sinh trong Bí tích Thánh tẩy, nhờ sự chết của Chúa Giêsu. Bí tích Thánh tẩy làm cho chúng ta được sống lại với Chúa, giúp chúng ta đoạn tuyệt với đời sống cũ còn nhiều khuyết điểm và bất toàn để bước sang một giai đoạn mới của cuộc sống, trong sự thánh thiện và tình yêu thương. Bí tích Thánh tẩy cũng là một nghi thức kết nạp chúng ta vào đàn chiên của Chúa, một đàn chiên đông đảo, hiện diện trên khắp thế giới. Trong thực tế, ít khi chúng ta cảm nhận được vinh dự là thành viên của Giáo Hội Chúa Kitô. Những khó khăn trong cuộc sống nhiều khi làm cho chúng ta sợ hãi không dám nhận mình là người Kitô hữu. Nếu mỗi người nhận ra mình thuộc về đàn chiên của Chúa, chúng ta sẽ tự hào và tìm thấy sức mạnh, lòng can đảm để tuyên xưng danh Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã phục sinh và đang sống trong Giáo Hội của Người.

Hình ảnh Chúa Giêsu Mục tử cũng nhắc nhớ những người đã lãnh nhận thánh chức Giám mục, Linh mục và Phó tế phải sống xứng đáng với danh hiệu cao quý này. Những vị này có bổn phận phán ánh hình ảnh của Vị Mục tử nhân lành qua đời sống, ngôn từ và tương quan với cộng đoàn tín hữu và xã hội chung quanh. Tiếc rằng, trong Giáo Hội của chúng ta, đây đó có những người đã lãnh nhận thiên chức cao cả, nhưng không trung thành với Thiên chức ấy, do sự yếu đuối của bản tính con người. Vì vậy, hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho các vị có thánh chức và cầu nguyện cho ơn gọi. Xin Chúa ban cho Giáo Hội có thêm những người thợ gặt trong cánh đồng lúa chín bao la, là xã hội Việt Nam hôm nay.

Cuộc viếng thăm Ad Limina của các Giám mục Việt Nam là thể hiện rõ sự hiệp thông và hiệp nhất trong Giáo Hội. Nhờ sự hiệp thông và hiệp nhất này, chúng ta không còn đơn lẻ, kể cả trong những cộng đoàn ít người, nhưng chúng ta hiệp thông với đông đảo anh chị em trên toàn thế giới, cùng chung một đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, nhiệt thành xây dựng Giáo Hội là thân thể của Người ở trần gian. Vâng, mỗi chúng ta đều là con chiên trong đàn chiên của Chúa. Vì vậy, chúng ta phải nghe lời của Chủ chiên, là chính Đức Giêsu và những vị đại diện của Người, nhờ đó mà chúng ta được sống và sống dồi dào.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật III Phục Sinh – Năm B
Posted by: LongHai - 04-13-2018, 04:11 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Chứng Nhân Của Đấng Phục Sinh

Xã hội hôm nay rất đang cần những chứng nhân của Đấng Phục sinh. Giữa đêm đen của thù hận, bạo lực, gian dối và mưu mô mánh lới, cần lắm những ánh sáng đến từ cuộc sống lương thiện, bao dung, trung thực.

Nếu chúng ta hôm nay được hồng phúc lãnh nhận đức tin Kitô giáo, đó là nhờ những chứng nhân Phục sinh đầu tiên, tức là các môn đệ của Chúa Giêsu. Hành trình chứng nhân của họ không đơn giản, vì lúc đầu, chính họ cũng không tin Chúa đã sống lại. Nhiều nơi trong Tân ước, cụ thể là bài Tin Mừng Thánh Luca hôm nay cho thấy điều đó. Khi Chúa Giêsu từ cõi chết đến với họ, họ tưởng Người là một bóng ma. Bằng việc ăn uống trước mặt họ và cho họ rờ tận tay để thấy đây là một thân xác thực sự, Chúa đã chứng minh, Người đã sống lại. Với những bằng chứng ấy, các môn đệ đã tin tưởng và vui mừng. Không những thế, họ còn trở nên những chứng nhân của Đấng Phục sinh.

Đối với khá nhiều Kitô hữu, ý nghĩa và thông điệp của lễ Phục sinh cũng chấm dứt cùng với những lễ nghi được cử hành ồn ào. Tệ hại hơn, có người chỉ coi ngày lễ này như một cuộc tưởng niệm đơn thuần, giống như tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hay một vị anh hùng dân tộc nào đó. Đối với họ, Đức Giêsu Phục sinh cũng chỉ như một "bóng ma", một ảo ảnh hay một vĩ nhân của lịch sử đã qua. Lời Chúa hôm nay muốn giúp chúng ta xác tín vào sự phục sinh của Chúa. Thánh Phêrô đã làm cho cả cử tọa tâm phục khẩu phục, vì chứng minh Thiên Chúa của Đức Giêsu cũng là Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, tức là Thiên Chúa của lịch sử, Đấng đã can thiệp và dẫn dắt các Tổ phụ của dân tộc Do Thái. Phụng vụ cũng muốn khẳng định với chúng ta, Đấng Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta và chúng ta hãy làm chứng nhân cho Người.

"Chính anh em là chứng nhân về những điều này!". Đây là một lệnh truyền của Đấng Phục sinh. Lệnh truyền này cũng là một trong những sứ mạng cốt lõi của đời sống Kitô hữu, là sứ mạng gắn liền với Bí tích Thanh tẩy. Bởi lẽ, Bí tích này trao cho người được thanh tẩy ba sứ mạng: Ngôn sứ, Tư tế và Vua. Chuyên tâm thực thi ba sứ mạng này, chính là làm chứng cho Đấng Phục sinh trong cuộc đời.

Hãy trở lại với những chứng nhân đầu tiên của Đấng Phục sinh, đó là Thánh Phêrô và các tông đồ. Nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, Phêrô đã lược lại lịch sử cứu độ để chứng minh Đức Giêsu chính là Tôi trung của Thiên Chúa. Người đã chịu đau khổ và đã sống lại từ cõi chết. Lời giảng của ông kèm theo lời cam kết chắc chắn: "Về điều này, chúng tôi xin làm chứng". Ông cũng bạo dạn quả quyết rằng, những người đang hiện diện trước mặt ông cũng có một phần trách nhiệm trong cái chết của Chúa Giêsu, nhưng vì thiếu hiểu biết, nên trách nhiệm ấy cũng nhẹ hơn. Từ đó, Ông kêu gọi họ hãy sám hối ăn năn để xin ơn tha thứ. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục vác thánh giá và chịu khổ hình nơi gương mặt của những người bất hạnh, bệnh tật, nghèo đói. Mỗi chúng ta đề có bổn phận quan tâm đến họ. Và thật lạ lùng, khi quan tâm giúp đỡ những người trên đây là quan tâm giúp đỡ chính Chúa Giêsu. Xóa bỏ hận thù, thực thi bác ái, cổ võ hiệp nhất, đó là những việc cần thực thi để xứng đáng là chứng nhân của Đấng Phục sinh.

Làm sao có thể làm chứng cho Đấng Phục sinh, nếu chúng ta không thực sự xác tín vào Người? Vì vậy, Lời Chúa mời gọi chúng ta: Hãy sám hối và cố gắng sống thánh thiện. Thánh Gioan đã cho chúng ta những lời khuyên cụ thể và chi tiết: sống trong sạch, không dối trá, trung thành với các giới răn (Bài đọc II). Chỉ khi nào tuân giữ những điều này, chúng ta mới có khả năng làm chứng cho Đấng Phục sinh đang hiện diện trong đời sống hôm nay.

Nếu lúc ban đầu, các tông đồ nghi ngờ sự kiện Phục Sinh, thì sau này, các ông lại sẵn sàng đổ máu để làm chứng cho sự kiện ấy. Cuộc gặp gỡ với Đấng Sống lại đã tiếp sức cho các môn đệ. Từ những người sợ hãi nhút nhát đóng kín cửa vì sợ người Do Thái, các ông trở nên những chứng nhân can đảm, sẵn sàng loan báo Chúa đã sống lại, và còn hân hoan vì được xứng đáng chịu đau khổ vì Chúa (x. Cv 5, 41). Sau này, tất cả các tông đồ đã chấp nhận hy sinh mạng sống để làm chứng về điều họ đã được gặp gỡ, tức là Đấng đã từ cõi chết sống lại.

Xã hội hôm nay rất đang cần những chứng nhân của Đấng Phục sinh. Giữa đêm đen của thù hận, bạo lực, gian dối và mưu mô mánh lới, cần lắm những ánh sáng đến từ cuộc sống lương thiện, bao dung, trung thực. Để có thể trở nên một nhân chứng của Đấng Phục sinh, chúng ta phải gặp gỡ Người, phải xác tín nơi Người và phải cảm nhận niềm vui của Đấng đã sống lại. Như thế, mặc dù không nhìn thấy Đấng Phục sinh bằng con mắt thể lý, những người đương thời có thể nhận ra Người nơi chính cuộc sống của chúng ta.

"Hướng ngược gió, càng hợp để bay, tôi không sợ ngàn vạn người ngăn cản, mà chỉ sợ chính bản thân mình đầu hàng" (Sưu tầm).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Phiền Muộn, Bối Rối, & Bình An

Ngày hôm nay người ta xây được những căn nhà cao hơn, phòng ốc rộng hơn, sân vườn xanh cỏ hơn, nhưng tâm hồn của nhân loại bắt đầu co cụm nhỏ dần héo úa tàn khô.

Ngoài thất vọng, tuần Thánh và tuần Phục Sinh đầu tiên của dòng lịch sử ơn cứu rỗi cũng là hai tuần lễ đong đầy những phiền muộn, bối rối, và lo lắng không lối thoát cho những người môn đệ của Đức Giêsu.

Bắt đầu từ những giây phút bỏ chạy trong Vườn Cây Dầu cho tới giây phút chứng kiến cảnh tảng đá đang lăn tròn che kín ngôi mộ, những người Kitô hữu đầu tiên đã trải qua hết thất vọng này sang thất vọng khác. Thoạt tiên là chuyện Giuđa bán đứng đại sư phụ với một cái hôn, nối tiếp là bản án tử của Đức Giêsu được đóng dấu bởi nhà nước bảo hộ La Mã, theo sau là nhọc nhằn con đường thập giá với đá và sỏi dẫn lên Núi Sọ, tiếp nối là kinh hoàng tiếng đinh xé rách thân xác và sắc nhọn tiếng búa lạc thần đôi mắt của Đức Giêsu. Trong thất vọng, cuối cùng mọi người dẫn nhau ra về sau khi tảng đá đóng lại che kín xác Đức Giêsu.

Nhưng rất tiếc, đúng như cụ Tiên Điền đã từng nói, “đùng đùng gió giục mây vần,” câu chuyện thất vọng không chịu dừng lại ở chỗ tảng đá được lăn tới chôn lấp một xác chết, nhưng được tiếp nối với một bản tin động trời do những người đàn bà hốt hoảng chạy về thông báo vào sáng sớm thứ Hai của ngày đầu tiên trong tuần lễ. Theo như những người nữ môn đệ, xác Đức Giêsu đã không còn nằm trong ngôi mộ đá nữa. Mà nếu xác Đức Giêsu đã biến mất, không còn trong ngôi mộ, không ai trên cõi đời vào đầu thiên niên kỷ lại dùng niềm tin Phục Sinh để giải thích cho hiện tượng ngôi mộ trống; nhưng, người người từ những em bé cho tới những cụ già, từ những nhà lãnh đạo tôn giáo cho tới chính quyền bảo hộ La Mã đều tin rằng có người đã lẻn vào ngôi mộ đánh cắp mang xác Đức Giêsu đi dấu cho một âm mưu đen tối (Ga 20,2). Bởi thế, khi bản tin xác Đức Giêsu đã biến mất, nhà nước bảo hộ La Mã không chịu nhắm mắt bỏ qua, nhưng sẽ bắt đầu một cuộc tảo thanh, lùng kiếm xác của Ngài trên từng góc phố và trong từng căn nhà của kinh thành Giêrusalem. Khi cuộc săn lùng thi thể của Đức Giêsu bắt đầu, những người nam môn đệ sẽ là những nhân vật đầu tiên nằm trong danh sách bị truy nã, bị săn lùng, và bị tra khảo. Cho nên, không ai lạ chi nếu những cánh cửa của căn nhà nơi những người môn đệ đang ẩn sâu trốn kỹ bắt đầu từ đêm khuya của ngày thứ Năm tuần trước lại càng thêm cửa đóng then cài vào ngày thứ Hai đầu tuần của người Do Thái. Bởi thế, khi nhận được bản tin là xác Đức Giêsu đã biến mất, những người môn đệ của Đức Giêsu đã không đứng dậy hân hoan nhảy múa hét to, “Tạ ơn Chúa! Allelujah! Ngài đã sống lại!”, nhưng mà là ngược lại. Cho nên, vào ngày Phục Sinh đầu tiên, ngoài thất vọng, những người môn đệ lại có dịp nếm thêm mùi vị đắng cay của muộn phiền, bối rối, và hồi hộp chờ đợi giây phút cánh cửa căn nhà bật tung bởi xích xiềng, giáo mác và áo trận La Mã.

Cánh cửa rồi cũng mở ra, nhưng không phải bởi chính quyền La Mã, mà là hai người môn đệ nguyên gốc Emmau. Trong khi những người nam môn đệ của Đức Giêsu đang run sợ, tiếp tục giấu mình sâu hơn nữa vào trong bóng tối của căn phòng kín, hai người môn đệ vừa từ thị trấn Emmau quay về cung cấp một bản tin khác về thi hài của Đức Giêsu, lần này bản tin thật sự đã biến thành trái bom nổ tung và giựt đứt những sợi giây thần kinh căng cứng của những người môn đệ. Theo như hai người môn đệ của thị trấn Emmau, ngôi mộ đá đã trở thành ngôi mộ trống không phải bởi vì người ta cướp mất xác của Đức Giêsu cho những toan tính mờ ám, nhưng bởi vì Ngài đã phục sinh. Và chính Ngài đã hiện ra chuyện trò với họ trên suốt một quãng đường dài mười một cây số.

Trong căn phòng kín của gần hai ngàn năm về trước, bản tin về Đức Giêsu Phục Sinh đồng hành trên con đường Emmau không mang lại tiếng cười hân hoan tiếng hát tạ ơn Thiên Chúa, nhưng bản tin đã khiến cho những người môn đệ của Đức Giêsu lại thêm nặng trĩu đôi vai, hằn sâu vầng trán, thâm đen đôi mắt, bởi vì lo lắng và sợ hãi trước những tin đồn thiệt hư không biết đâu mà kiểm chứng. Vào giây phút hội ngộ giữa Emmau và Giêrusalem, ngoại trừ ông Cleopas và người môn đệ đồng hành, tâm hồn của người người trong căn phòng đóng kín cửa đều tiếp tục ngân vang khúc nhạc cung thứ nốt giáng (b) của những dòng nhạc chán nản, nghi ngờ, và hoang mang.

Không trách chi, khi Đức Giêsu với thể xác thần khí hiện ra, đứng giữa căn phòng đóng kín cửa, các người môn đệ của Đức Giêsu tin rằng họ đã thấy ma. Không biết có người nào té ra bất tỉnh hay không, nhưng nếu Đức Giêsu không chúc “Bình An cho các con” và trấn an họ bằng cách ngồi ăn cá nướng với những người môn đệ thân thương, có lẽ nhiều người đã bị máu cơ tim nhồi lên mà chết bởi biến cố Phục Sinh mà họ đang chứng kiến tận mắt trong căn phòng kín.

Suy Niệm

Trong ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, lời chúc bình an của Đức Kitô Phục Sinh vẫn là một điều mà bạn và tôi đang cần đến. Thế giới đã tiến vào thiên niên kỷ thứ ba với bao nhiêu tiện nghi vật chất phục vụ cho những nhu cầu cần thiết của con người. Nhưng những tiện nghi vật chất này cũng có khả năng biến thành một con dao hai lưỡi cắt đứt tay nhân loại khiến cho thế giới tiếp tục đói khát bình an.

Nhân loại ngày hôm nay đã chế được hỏa tiễn và phi thuyền bay cao lên không gian. Đồng hành với những bay cao và bay xa vào trong vũ trụ là những hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân có khả năng sát hại không biết bao nhiêu mạng người chỉ trong chớp mắt.

Ngày hôm nay người ta đã xây dựng được bao nhiêu đường xa lộ siêu tốc dẫn nối từ thành phố này sang phố thị khác, từ quốc gia này sang vương quốc kia, nhưng con đường ngăn ngắn nho nhỏ dẫn sang nhà hàng xóm cỏ hoang mọc dày che kín lối đi.

Ngày hôm nay người ta xây được những căn nhà cao hơn, phòng ốc rộng hơn, sân vườn xanh cỏ hơn, nhưng tâm hồn của nhân loại bắt đầu co cụm nhỏ dần héo úa tàn khô.

Nhân loại ngày hôm nay bay vào trời xanh thường xuyên hơn, nhiều hơn, nhưng yêu thương ít hơn, bù lại cỏ dại của toan tính, hiềm khích, và chỉ trích tiếp tục lún phún mọc cao trong từng mảnh tâm hồn.

Ngày hôm nay nhân loại có nhiều tiền bạc mua sắm nhiều hơn, nhưng hạnh phúc và bình an, hai món hàng cần thiết như hơi thở trong không gian như lương thực cho cơ thể không mấy người mua sắm được. Thiếu vắng bình an, cây hạnh phúc trong tâm hồn rũ tàn chết khô, cây bối rối và cây phiền muộn xum xuê vươn cánh đơm bông nở nhụy. Khi hai tòa nhà cao ngất trời của Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế của thành phố New York hóa ra tro bụi vào một buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001, mọi người trên thế giới đã biết rằng, không còn nơi nào trên quả địa cầu còn được gọi là vùng đất của bình an. Thật vậy, thế giới càng văn minh, nhân loại càng mất bình an chính vì đời sống tâm linh ngày càng trở nên khan hiếm hoặc héo úa trong từng mảnh tâm hồn của nhân loại. Tương tự như những người môn đệ của thuở xưa, bởi không có tâm thương yêu, tâm tha thứ, bởi không có niềm tin và Đức Giêsu hiện diện trong căn phòng kín của tâm hồn, bạn và tôi sẽ tiếp tục thất vọng, lo lắng, phiền muộn, và bối rối với cuộc sống và với chính mình. Vào những lúc bạn cảm thấy phiền muộn, bối rối, thất vọng với chính mình và với cuộc sống, mời bạn, chúng ta cùng hướng về căn phòng đóng kín cửa với Đức Giêsu Phục Sinh đang hiện diện ở giữa căn phòng, và nói với Ngài:

Lời Nguyện

Lạy Chúa, trong Mùa Phục Sinh, xin chúc lành trên con lời chúc bình an năm xưa để con thôi không còn lo lắng, phiền muộn, và bối rối như những người môn đệ trong căn phòng đóng kín cửa. Lạy Chúa, những khi con thất vọng với chính con, với những sa ngã, với những lỗi lầm của con và của anh chị em con, xin ban cho con lời chúc bình an của Chúa năm xưa, để tâm hồn của con thôi lo lắng, buồn phiền, nhưng ngập tràn hạnh phúc, và bình an.

Lm. Nguyễn Trung Tây
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình

Print this item

Information Chúa Nhật II Phục Sinh – Năm B
Posted by: LongHai - 04-05-2018, 05:39 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


"Phúc Cho Ai Không Thấy Mà Tin"

"Phúc cho ai không thấy mà tin", chúng ta tuyên xưng vững vàng Đức Giêsu "ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại". Quả vậy, trước một vấn đề mà con mắt thể lý chúng ta không nhìn thấy, chúng ta cần có đức tin. Vì nếu nhìn thấy rồi, thì đâu cần tin nữa. Chấp nhận tin như thế được Chúa tuyên bố là người có phúc.

Trong xã hội hiện đại hôm nay, việc kể lại một người đã chết ba ngày rồi sống lại sẽ bị coi là chuyện cổ tích hay ảo tưởng. Tuy vậy, sự kiện Chúa phục sinh từ cõi chết là sự kiện lịch sử và là nền tảng đức tin cho các Kitô hữu. Hai ngàn năm sau cái chết của Chúa Giêsu, có nhiều người xác tín vào sự phục sinh của Chúa, nhưng vẫn có những người phủ nhận sự sống lại của Người. Người ta dựa vào những chứng lý của khoa học và dựa vào kinh nghiệm đời thường để không tin Chúa đã sống lại. Đối với chúng ta là Kitô hữu, dựa trên lời Chúa: "Phúc cho ai không thấy mà tin", chúng ta tuyên xưng vững vàng Đức Giêsu "ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại". Quả vậy, trước một vấn đề mà con mắt thể lý chúng ta không nhìn thấy, chúng ta cần có đức tin. Vì nếu nhìn thấy rồi, thì đâu cần tin nữa. Chấp nhận tin như thế được Chúa tuyên bố là người có phúc.

Tin vào Chúa phục sinh không phải là ảo tưởng và mù quáng. Bởi lẽ Thiên Chúa là Đấng quyền năng, từ hư vô Ngài đã dựng nên trời đất, con người và muôn vật. Nếu ở khởi đầu của lịch sử, Chúa đã lấy bùn đất mà nắn thành con người, thì nay, Chúa Cha đã cho Con của Ngài từ cõi chết sống lại là điều dễ dàng và có thể hiều được. Nhiều người phủ nhận Chúa phục sinh, bởi họ chỉ dựa trên lý luận theo kiểu của con người, mà không tin rằng Chúa quyền năng có thể làm mọi sự. Đối với Ngài, mọi sự đều có thể.

Tôma, một trong mười hai tông đồ, là người đã lý luận theo kiểu con người. Ông đòi phải có những điều kiện này nọ mới tin. Nói cách khác, ông chỉ tin vào những gì ông nhìn thấy. Đây là một cách lý luận nơi nhiều người, do ảnh hưởng thuyết duy vật hôm nay. Họ chỉ tin vào vật chất và phủ nhận những thực tại thiêng liêng. Đối với họ, những gì liên quan đến thế giới siêu hình đều bị coi những điều nhảm nhí, chỉ dành cho một số người lạc hậu và dân trí thấp. Vẫn còn đó xung quanh chúng ta những Tôma, tức là những người hoài nghi sự hiện hữu của Thiên Chúa và chỉ tin vào những gì mà họ kiểm chứng bằng giác quan.

Chúa Giêsu đã đáp trả những thách thức của Tôma. Tám ngày sau, cũng vào ngày thứ nhất trong tuần, Người đã hiện đến với các tông đồ, cùng với những thương tích trên thân thể Người. Trước đó, Tôma đã ra điều kiện để tin, như tận mắt thấy những vết thương của Chúa, thì nay Người đã cho ông thấy rõ ràng. Ông chẳng còn lòng dạ nào mà xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa. Đúng hơn, ông chẳng cần làm những điều đó, vì Chúa đang ở trước mặt ông bằng xương bằng thịt và đang nói với ông: "Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin". Qua lời nói với Tôma, Chúa Giêsu phục sinh muốn gửi đến cho chúng ta một thông điệp: "Phúc thay những người không thấy mà tin". Thông điệp ấy vẫn có giá trị đến ngày hôm nay. Là những tín hữu, chưa ai trong chúng ta được thấy Chúa trực tiếp. Chúng ta chỉ cảm nhận Chúa bằng Đức tin. Con tim và lý trí mách bảo chúng ta Chúa đang hiện diện và những ai tin vào Người thì sẽ không phải thất vọng. "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!". Tôma không còn biết nói gì khác hơn là một lời tuyên xưng quyền năng của Thiên Chúa với niềm xác tín nơi Ngài. Đó là lời tuyên xưng Đức tin của một người đã hoàn toàn bị chinh phục. Đó cũng là tâm tình sám hối của một người đã chậm tin những chứng từ của anh em mình.

Ngày hôm nay, xung quanh ta, Chúa Giêsu vẫn hiện diện với những thương tích do cuộc khổ nạn thập giá. Đó không còn phải là một con người mang dấu đinh và vết thương ở cạnh sườn, nhưng đó là những anh chị em đang bầm dập vì cuộc sống đầy gian nan thử thách. Cộng đoàn tín hữu tiên khởi đã sớm nhận ra Chúa hiện diện trong Giáo Hội và nơi những người nghèo. Vì thế mà họ chuyên cần cầu nguyện, hăng hái chia sẻ và quan tâm đến những người bất hạnh. Chính Đấng Phục sinh đã dạy họ thực thi những điều đó, và liên kết họ trong tình bác ái thân thương, để rồi, qua những nghĩa cử bác ái đó, họ càng nhận ra sự hiện diện của Chúa một cách cụ thể hơn (Bài đọc I). Thánh Gioan tông đồ đã quảng diễn tình yêu dành cho Chúa và đức bác ái dành cho tha nhân đi song song với nhau không thể tách rời. Hơn thế nữa, những ai tin vào Chúa và thực thi lời dạy của Người sẽ chiến thắng thế gian và sẽ được an bình giữa biển cả ba đào đầy gian nguy thử thách (Bài đọc II).

Tin vào Chúa phục sinh được kể là người có phúc. Đó là phần thưởng cho người tin. Trong chúng ta, chưa ai nhìn thấy Chúa Phục sinh như ông Tôma và các tông đồ, nhưng chúng ta tin chắc điều đó, vì Chúa là Đấng có thể làm được mọi sự. Nhờ niềm xác tín này, chúng ta được chúc phúc, giống như Đức Trinh nữ Maria, qua lời chào của bà Elisabeth: "Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em" (Lc 1, 45). "Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin". Chúa Giêsu Phục sinh đang nói điều đó với tôi, với bạn và với cả thế giới hôm nay.

"Tất cả những gì không thể hiểu được, ít nhằm để người ta không hiểu được cho bằng để người ta hiểu nhiều hơn" (Blaise Pascal).

"Đức tin là sự tin tưởng sống động và táo bạo vào ơn Chúa, chắc chắn và vững bền tới mức một người có thể cược cả đời mình cho nó hàng nghìn lần" (Sưu tầm).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật Lễ Phục Sinh Năm B
Posted by: LongHai - 03-31-2018, 02:21 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Lễ Vọng Phục Sinh

Anh chị em thân mến!

Đêm Chúa Phục Sinh, chúng ta ca hát Halleluia! Và Hội Thánh mời gọi chúng ta hãy vui lên, bởi vì Chúa đã sống lại. Nhưng phải nói rằng, chúng ta rất khó cảm nhận được niềm vui của Mùa Phục Sinh, của Đêm Vọng Phục Sinh này. Khi anh chị em mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta cảm nhận niềm vui ấy dễ dàng. Vì ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự sinh ra. Cha mẹ sinh ra con cái và người con được chào đời. Đó là niềm vui cho gia đình, cho xã hội, cho tất cả loài người. Trong Đêm Giáng Sinh, chúng ta cảm thấy mình vui một cách rất tự nhiên. Với Đêm Vọng Phục Sinh hôm nay thì chúng ta lại không có cảm nhận ấy. Phải nói rằng, cái cảm nhận về Đêm Vọng Phục Sinh này, cái cảm nhận đầu tiên không phải là cảm nhận vui mừng mà là cảm nhận của một nỗi sợ hãi.

Bài Tin Mừng năm nay là Phụng vụ năm B theo thánh Macco (Mc 16, 1-7). Thánh Macco thuật lại câu chuyện về những người phụ nữ vào buổi sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, mang theo bình dầu thơm ra xức dầu cho Chúa, bởi vì chiều hôm qua Chúa chết vào giờ muộn quá, không kịp xức dầu thơm để ướp xác Chúa. Cho nên sáng ngày thứ nhất trong tuần, các bà mới vội vã ra đi, và khi các bà ra tới tận mộ thì các bà đã cảm nhận được điều gì đó. Chỉ trong 8 câu Tin Mừng, mà thánh Macco đã nhắc đi nhắc lại sự sợ hãi rất nhiều lần. Như là các bà ra mộ, nhìn thấy dấu chỉ của Thiên Thần đến loan tin Chúa đã sống lại, Chúa không còn ở trong mộ nữa. Thiên Thần trấn an: "Các bà đừng sợ! Bởi vì Chúa đã sống lại rồi". Sau khi nhận được lời từ Thiên Thần nhắn với các tông đồ đến Galile và Chúa sẽ gặp các ông ở đấy thì các bà vội vàng chạy về. Vừa đi vừa run lẩy bẩy, kinh hoàng hết hồn hết vía. Những người phụ nữ đi mà không dám nói với ai điều gì. Bởi vì các bà sợ. Thánh Macco đã nói với chúng ta như vậy. Cho nên, kinh nghiệm và cảm nhận về Đêm Vọng Phục Sinh không phải là niềm vui, mà là sự sợ hãi. Tại sao lại sợ hãi? Sợ hãi là bởi vì, ở đây, con người đang đứng trước sự can thiệp lạ lùng của Thiên Chúa. Người ta sợ vì nhiều lý do. Nỗi sợ tự nhiên, đó là con người đứng trước thiên nhiên, sóng cao biển cả, bão táp thì con người thấy mình nhỏ bé quá, con người bất lực nên con người sợ. Con người sợ vì mặc cảm tội lỗi, vì những việc làm xấu, sợ tiếng lương tâm oán trách, sợ Thiên Chúa phạt. Nhưng vẫn còn nỗi sợ khác, nỗi sợ của sự thánh thiện. Nỗi sợ khi mà mình đối diện với quyền năng của Thiên Chúa. Nỗi sợ khi mà đối diện với sự can thiệp của Thiên Chúa vào trong lịch sử của nhân loại. Điều ấy đã xảy ra trong Đêm Vọng Phục Sinh này.

Trong Đêm Vọng Phục Sinh, những người phụ nữ sợ sự can thiệp của Thiên Chúa vào trong nhân loại. Chúa Giêsu đã chết, Ngài đã đi vào qui luật bình thường của con người, đó là có sinh có tử. Nhưng cho tới ngày hôm nay, dòng nhân quả, một diễn tiến tự nhiên của dòng đời đã bị cắt đứt, vì hôm nay, chính Thiên Chúa can thiệp và Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu trỗi dậy từ trong cõi chết. Đứng trước mầu nhiệm cao cả này, những người phụ nữ đã sợ. Chính cái cảm nhận sợ hãi này, là bằng chứng, cho dù không đủ, nhưng là bằng chứng rất mạnh cho thấy sự can thiệp của Thiên Chúa để Chúa Giêsu sống lại. Khi Chúa Giêsu sống lại thì Chúa đã chiến thắng sự chết. Chúa đã chiến thắng đau khổ, tội lỗi và hận thù!

Trong những ngày vừa qua, chúng ta đã suy niệm về những mầu nhiệm Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể và Chúa Giêsu hiến mình trên cây Thánh Giá. Chúng ta nói rằng, Chúa Giêsu đã đưa ra một nguyên tắc sống mới, một qui luật sống mới. Đó là qui luật của sự quên mình để sống cho người khác, để phục vụ cho anh chị em của mình. Tuy nhiên, tình yêu ấy đã bị phản bội, tình yêu ấy đã bị kết án. Nhưng nếu chỉ có vậy mà thôi thì không ai dại gì mà yêu thương, không ai dại gì mà hiến mình thay cho người khác. Nhưng hôm nay, chúng ta thấy câu trả lời của Thiên Chúa. Thiên Chúa nói với chúng ta rằng: Những ai yêu thương, người ấy không bao giờ phải thất vọng. Thiên Chúa muốn khẳng định với chúng ta rằng: Thiên Chúa chiến thắng sự chết. Thiên Chúa là tình yêu đã chiến thắng hận thù. Chúa Giêsu mở đường cho chúng ta đi và ai đi theo Chúa Giêsu thì người ấy không bao giờ phải thất vọng. Đó là lời quả quyết, mạnh mẽ mà Thiên Chúa muốn nói với chúng ta trong Đêm Vọng Phục Sinh.

Chúng ta đang sống trong một thế giới, mà người ta gọi là, thế giới của nền văn minh sự chết. Người ta sống trong hận thù, trong chiến tranh, trong bạo lực, có thể chém giết nhau bất cứ lúc nào. Chúng ta đang sống trong một xã hội đầy dẫy những sự ích kỷ, những tham nhũng, những bóc lột, những chèn ép và cạm bẫy xảy ra hàng ngày trong xã hội và trên thế giới. Chúng ta đang sống trong xã hội mà người ta chỉ biết hưởng thụ, hay đi tìm khoái lạc. Một xã hội tội lỗi của cá nhân, tội lỗi của thế giới, tội lỗi của toàn thể nhân loại. Xã hội này, thế giới này, nhân loại này cứ theo qui luật bình thường như vậy thì chắc chắn sẽ đi tới tận diệt. Cuối cùng sẽ là cái chết. Đôi khi chúng ta cảm thấy thất vọng, cũng như dân Do Thái ngày xưa (x. Xh 14,15.15,1a), khi phía trước là biển cả, sau lưng là quân đội Ai Cập, họ cảm thấy cái chết gần kề, cảm thấy cùng đường, cảm thấy bế tắc, cảm thấy thất vọng. Nhưng chính trong sự thất vọng ấy thì Thiên Chúa đã can thiệp, đã mở đường cho dân Do Thái đi qua biển Đỏ. Đó là sự can thiệp mạnh mẽ của Thiên Chúa. Đó là hình ảnh báo trước cho sự can thiệp vĩ đại hơn nữa. Thiên Chúa đã mở đường cho chúng ta đi, Chúa Giêsu đã chết nhưng đã sống lại, cũng như ngày xưa, Thiên Chúa đã dẫn đường cho dân Do Thái đi thì hôm nay Chúa Giêsu cũng dẫn đường cho chúng ta đi. Và nếu chúng ta đi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng sẽ tìm thấy niềm hy vọng, giữa một thế giới đầy chết chóc và tăm tốinày. Chúng ta hãy để cho Chúa dẫn mình đi, chúng ta hãy để cho Chúa thực hiện công trình, quyền năng của Người nơi cuộc đời chúng ta. Là những Kitô hữu, chúng ta phải là sứ giả của niềm hy vọng. Niềm hy vọng không phải ở nơi tiền bạc, nơi của cải vật chất. Niềm hy vọng không phải là sức mạnh của quân đội, chính trị, nhưng là niềm hy vọng của sự thật và tình yêu. Chúng ta tin vào Chúa, chúng ta hãy đi theo Chúa.

Hôm nay, Chúa Giê su đã sống lại, Chúa mở đường cho chúng ta đi. Chúa mời gọi chúng ta đi theo con đường ấy. Trong Đêm Vọng Phục Sinh, chúng ta nhìn ngắm cây nến Phục Sinh. Đó là biểu tưởng hết sức ý nghĩa. Thế giới tăm tối này, nếu không có ánh sáng của Chúa thì vẫn chìm ngập trong bóng đêm, vẫn là tăm tối, vẫn là tội lỗi, vẫn là chết chóc. Nhưng ánh sáng của Chúa đã thắp lên để chiếu soi thế giới, chiếu soi cuộc đời của mỗi người chúng ta. Anh chị em hãy nhìn lên ánh sáng của Chúa Giêsu để mà tiến bước. Ánh sáng này, ánh sáng của chân lý, ánh sáng của tình thương Phúc Âm, luôn luôn bị những cơn lốc, những cơn gió của tội lỗi tìm cách làm tắt đi. Cơn gió của trào lưu tục hóa, luôn luôn muốn thổi mạnh lên thành bão táp để làm tắt ngúm cây nến Phục Sinh, là Lời Chúa, là tình thương của Chúa. Thánh Gioan lại khẳng định, bóng tối tìm cách trấn áp ánh sáng nhưng mà không bao giờ lại có thể làm tắt được ánh sáng của Chúa Giêsu. Ánh sáng của Chúa, một khi đã được đốt lên thì chúng ta cứ tin tưởng mà bước theo Chúa. Hôm nay Chúa Giêsu đã sống lại, đó là lời bảo đảm cho chúng ta rằng Ánh sáng của Chúa Giêsu sẽ còn mãi.

Khi Chúa Giêsu sống lại, Chúa đã đưa chúng ta sang bờ bên kia của biển Đỏ. Chúa Giêsu dẫn đưa chúng ta từ cõi chết tới cõi sống. Chúa Giê su đã đặt thế giới này trong tình trạng "bất khả hồi", không bao giờ có thể chịu thua quyền lực của sự chết. Như thánh Phaolô nói: "Chúng ta đã được cùng chết với Chúa và cùng sống lại với Chúa qua bí tích Rửa tội"( x. Cl 2,12). Chúng ta ngồi đây, theo qui luật tự nhiên, chúng ta sẽ phải chết. Nhưng trên nguyên tắc, nhờ Bí tích Rửa tội, tất cả chúng ta đang ngồi đây, chúng ta đã có sự sống lại của Chúa Giêsu rồi. Đức Kitô Phục Sinh đang ở trong chúng ta. Thần Khí của Thiên Chúa là chính Chúa Thánh Thần đang ở trong chúng ta. Chúng ta được đưa vào thế giới của sự sống, thế giới của ánh sáng. Hãy giữ lấy ngọn nến mà anh chị em đã thắp lên ở trong tay của mình, ngọn nến của linh hồn. Chúng ta hãy để cho Tin Mừng của Chúa chiếu soi chúng ta, và cho dù chúng ta có phải chết về phần xác, nhưng đừng để tâm hồn của chúng ta chết trong tội lỗi.

Anh chị em thân mến!

Anh chị em hãy luôn luôn giữ ngọn nến linh hồn mình để trở thành sứ giả của niềm hy vọng. Anh chị em hãy công bố cho mọi người biết khi chúng ta theo Chúa thì chúng ta sẽ được sống. Anh chị em hãy gieo rắc niềm hy vọng trong cuộc đời đầy tăm tối, đầy lo âu, đầy hận thù, chết chóc, đầy những ích kỷ của thế giới này. Chúng ta phải sáng lên niềm hy vọng nơi chân lý Phúc Âm. Chúa Giêsu đã sống lại, chúng ta hãy hát mừng, mà chỉ có người nào thực sự cảm nhận niềm vui ấy, mới có thể hát lên "Halleluia!". Cho nên từ cảm nhận nỗi sợ hãi, chúng ta tiến tới niềm vui và cảm nhận niềm vui mừng, bởi vì Chúa đã sống lại!

Trong niềm vui Chúa đã sống lại, tôi xin chúc mừng niềm vui tới tất cả mọi người, xin cho ngọn nến Phục Sinh này cháy sáng mãi trong cuộc đời của anh chị em. Xin niềm vui và bình an của Đức Kitô Phục Sinh ở lại mãi với tất cả mọi người chúng ta. Amen.

ĐGM. Giuse Nguyễn Năng
Trích từ nguồn: Ủy Ban Kinh Thánh


Niềm Tin Vào Chúa Phục Sinh

Chúa Kitô đã phục sinh. Đó là niềm vui của chúng ta. Còn hơn thế nữa, đó là đức tin của chúng ta, đó là niềm hy vọng của chúng ta. Niềm tin vào Chúa Kitô Phục sinh của chúng ta có cơ sở vững chắc ở những bằng chứng khác nhau.

Có bằng chứng tiêu cực của các lính canh mộ. Khi an táng Chúa Giêsu, các thượng tế đã cẩn thận xin Philatô cho đóng cửa mộ bằng một phiến đá lớn rất nặng rồi cho niêm phong và cắt cử lính canh cẩn thận. Nhưng khi Chúa sống lại, ánh sáng rực rỡ chiếu lên chói lòa, cửa mộ bật tung, lính canh hoảng sợ chạy trốn. Sau đó lính canh đi loan tin rằng: Trong khi chúng tôi ngủ, các môn đệ đến lấy trộm xác Chúa. Ai cũng biết đó là tin giả. Vì các môn đệ còn đang rất sợ hãi, trốn chạy, làm sao dám lấy trộm xác. Thánh Augustinô đã bài bác điều này khi nói: Lính canh ngủ hay thức. Nếu họ thức thì làm sao họ để cho các môn đệ lấy trộm xác Chúa. Nếu họ ngủ, làm sao họ biết là các môn đệ lấy trộm xác Chúa.

Có những bằng chứng tích cực của các môn đệ. Sáng sớm, ba người đầu tiên đã đến mộ và không thấy xác Chúa. Bà Mađalêna hốt hoảng cho rằng người ta đã lấy mất xác Chúa. Phêrô vào trước nhưng chưa có ý kiến gì. Gioan vào sau. Ông đã thấy và đã tin. Ông thấy gì? Ông thấy khăn che đầu và khăn liệm xếp đặt gọn gàng trong mộ. Là người môn đệ được Chúa yêu thương ông có một trực giác đặc biệt. Hơn nữa ông đã biết rõ thói quen của Chúa. Nhìn khăn liệm xếp đặt gọn gàng, ông nhận ra thói quen đó. Tuy nhiên niềm tin ban đầu còn mơ hồ. Niềm tin chỉ chắc chắn nhờ được củng cố bằng việc trực tiếp nhìn thấy Chúa.

Sau ngày phục sinh, Chúa hiện ra nhiều lần với nhiều người. Hiện ra với các môn đệ trong căn phòng đóng kín. Hiện ra với Tôma và cho ông xem các vết thương ở tay, chân và cạnh sườn. Hiện ra với hai môn đệ đi đường Emmaus. Hiện ra trên bờ biển và chỉ dẫn cho các môn đệ đánh một mẻ cá lạ lùng. Nhưng có lẽ cuộc hiện ra có tác động mãnh liệt nhất là với Phaolô. Thuở ấy Phaolô còn có tên là Saolê, một người Do Thái thù ghét Chúa Giêsu, hăng say đi tìm bắt những người tin Chúa. Ở Damas, ông bị một làn ánh sáng chói lọi chiếu vào khiến mù mắt. Con ngựa hất ông ngã lăn xuống đất. Và có tiếng từ trời phán bảo: "Saolê, Saolê, tại sao ngươi tìm bắt ta". Hoảng sợ Saolê thưa: "Thưa ngài, ngài là ai". Tiếng từ trời trả lời: "Ta là Giêsu mà ngươi đang tìm bắt". Từ đó Saolê tin vào Chúa Kitô Phục sinh, trở thành Phaolô, một tông đồ nhiệt thành đi loan Tin Mừng Phục Sinh cho mọi người.

Những kết quả của việc Chúa Phục sinh được thấy rõ ràng. Trước hết là sự đột biến nơi các môn đệ. Ngày Chúa chịu chết, các ông là những người nhút nhát, trốn chạy, thậm chí còn phản bội, chối Chúa. Tại sao chỉ trong một thời gian ngắn, các ngài thay đổi một cách mãnh liệt. Đang nhút nhát, ẩn trốn bỗng hiên ngang xuất hiện ở chốn công khai. Đang phản bội, chối Chúa bỗng hăng hái ra đi làm chứng cho Chúa. Đang sợ hãi bỗng trở nên can đảm lạ thường. Không những vui mừng được chịu đau khổ vì Chúa mà còn sẵn sàng chịu chết vì Chúa. Chắc chắn các ngài đã được gặp Chúa nên con người các ngài đã biến đổi tận gốc rễ. Chắc chắn các ngài đã gặp Chúa nên lời chứng của các ngài có sức thuyết phục.

Thật vậy, làm sao những người tín hữu đầu tiên tin vào lời chứng của các tông đồ đến nỗi sẵn sàng bỏ của cải làm của chung, sẵn sàng chịu sống chui rúc, trốn chạy cuộc bách hại của đế quốc La mã, sẵn sàng chịu chết vì đức tin của mình. Làm sao Giáo hội có thể tồn tại hơn 2.000 năm, qua biết bao nhiêu khó khăn thử thách do những người muốn tiêu diệt đạo gây nên. Nếu Chúa không Phục sinh, không thể giải thích được những việc đó.

Chúa Phục sinh, đó là nền tảng của đức tin. Đó là sự vững chắc của Giáo hội. Và đó là chính là niềm hy vọng lớn lao của chúng ta. Chúa phục sinh biến đổi thân phận chúng ta. Từ thân phận phải chết sẽ được sống lại với Chúa. Từ thân phận tội lỗi được trở nên trong sạch. Từ cát bụi phàm trần được trở lại làm con Chúa. Từ định mệnh mong manh phù du được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trong nhà Cha trên trời.

Lễ Chúa Phục Sinh đem lại cho ta niềm vui lớn lao. Vì thế mừng lễ Chúa Phục Sinh mời gọi ta biến đổi đời sống nên tươi mới cho xứng đáng với niềm tin, xứng đáng với phẩm giá của con người được Chúa yêu thương cứu chuộc.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, xin cho con được sống lại thật về phần linh hồn. Amen!

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


"Hãy Vui Lên!"

Chúa đã sống lại, hãy vui lên. Lễ Phục Sinh là lễ của niềm vui. Người tín hữu vui mừng hân hoan vì Chúa phục sinh là bảo chứng cho những ai tin theo Chúa sẽ được phục sinh vinh quang với Người.

Hãy vui lên, đó là nội dung bài ca của Giáo Hội long trọng loan tin Chúa đã phục sinh trong đêm canh thức. Lời mời gọi "Hãy vui lên" được nhắc đi nhắc lại như một điểm nhấn và một điệp khúc diễn tả niềm vui lớn lao kỳ diệu. Lời kêu mời đó được ngỏ với các thiên thần trên trời, đến cộng đoàn đông đảo các thánh, rồi đến các tín hữu và những ai thành tâm thiện chí. Đây là niềm vui trọng đại, giống như đối với tù nhân được giải phóng khỏi tù ngục để bước ra hưởng tự do hạnh phúc, như người đi xa lâu năm gặp lại người thân, như nai rừng tìm thấy nguồn suối, như bông hoa thấy ánh mặt trời.

Hãy vui lên và trút bỏ tang chế, vì Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ, là Đấng hằng sống. Ngài đã làm cho Đức Giêsu là Con Một của Ngài chiến thắng tử thần, sống lại vinh quang. Vâng, hãy vui lên vì từ nay sự chết không còn quyền lực gì đối với những ai tin vào Chúa. Nếu sự chết còn tồn tại, thì nó chỉ một trạm chuyển tiếp trước khi con người bước vào thế giới linh thiêng, vĩnh cửu.

Hãy vui lên vì trong Đức Giêsu phục sinh, thân phận con người tìm thấy ý nghĩa và phẩm giá của mình. Từ ngàn đời, con người không ngừng đặt ra những vấn nạn về thân phận của họ bên kia cái chết. Đức Giêsu phục sinh bước ra khỏi mồ như câu trả lời cho những vấn nạn ấy, và như bằng chứng hùng hồn về những gì Người đã tiên báo trước đó: "Này chúng ta đi lên Giêrusalem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá, và ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy" (Mt 20, 18-19). Người Do Thái đã xử với Chúa đúng y như Người tiên báo.

Lời Chúa trong Phụng vụ Đại lễ Phục Sinh giới thiệu với chúng ta những nhân chứng bằng xương bằng thịt, những người đã mắt thấy tai nghe. Họ đã nhìn thấy Chúa chết trên thập giá và nay họ được thấy Người sống lại. Trước hết, đó là lời chứng của Phêrô, vị tông đồ trưởng. Ông đã làm chứng về sự phục sinh của Chúa Giêsu tại nhà ông Cornêliô ở Xêdarê, trước mặt những "người ngoại", tức không phải là người Do Thái. Đối với Phêrô, Đức Giêsu phục sinh đã đưa nhân loại sang một trang sử mới. Từ nay, "ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội".

Bài Tin Mừng hôm nay còn giới thiệu với chúng ta chứng từ của Maria Mácđala và của Gioan, người môn đệ Chúa yêu. Có một sự kiện duy nhất là Chúa sống lại, nhưng mỗi người có một cảm nhận và một cách làm chứng khác nhau. Maria Mácđala, với tâm lý chung của người phụ nữ, vội vã chạy về gặp hai môn đệ Phêrô và Gioan để "khoe" về điều mình đã thấy. Bà không quên kèm theo một lời kết luận dựa trên phỏng đoán cá nhân: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ". Bà ngỡ ngàng kinh ngạc trước cảnh tượng vừa được chứng kiến và nóng lòng sốt ruột chạy đi loan báo cho mọi người.

Về phần mình, Gioan không hốt hoảng vội vã như Mácđala, không hăng hái hùng biện như Phêrô, nhưng chứng từ của ông mang tính nội tâm và sâu sắc. Chính ông đã ghi lại lời chứng của mình một cách khách quan: "Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào (mộ). Ông đã thấy và đã tin". Việc chứng kiến ngôi mộ trống đã lập tức làm cho Gioan liên tưởng và kết nối các sự kiện cũng như những lời báo trước của Chúa, giúp ông xác tín vững vàng rằng Chúa đã sống lại. Ngôi mộ trống thay vì làm ông hốt hoảng như Mácđala, lại giúp ông tin rằng Thày mình đang sống. Ngôi mộ trống soi sáng cho ông hiểu những lời giáo huấn của Chúa và những lời tiên báo trong Kinh Thánh.

Giáo Hội tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trong niềm xác tín Người vẫn đang sống và đang hiện diện. Chúa đã sống lại, hãy vui lên. Lễ Phục Sinh là lễ của niềm vui. Người tín hữu vui mừng hân hoan vì Chúa phục sinh là bảo chứng cho những ai tin theo Chúa sẽ được phục sinh vinh quang với Người.

Khi long trọng mừng lễ Phục Sinh, chúng ta được mời gọi hãy "sống lại về phần linh hồn", nghĩa là hãy đoạn tuyệt với tội lỗi để sống xứng đáng là con Thiên Chúa. Những thực hành của Mùa Chay gồm chay tịnh khổ chế và cầu nguyện, làm bác ái đã giúp chúng ta phần nào trút bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới được ánh sáng của Đấng Phục Sinh chiếu soi. Không chỉ có Chúa Giêsu phục sinh bước ra khỏi nấm mồ, nhưng mỗi chúng ta cũng đang bước ra từ những nấm mồ là sự ích kỷ, mưu mô và hận thù toan tính, rũ bỏ quá khứ tội lỗi để làm lại cuộc đời.

Sự Phục Sinh của Chúa là một sứ điệp cần loan báo cho con người mọi nơi, mọi thời. Những ai đã lãnh nhận phép Thanh Tẩy đều là những sứ giả loan tin vui Phục Sinh. Như Phêrô, Mácđala và Gioan, mỗi người có cách loan báo riêng của mình, nhưng nội dung của lời loan báo luôn là Chúa Giêsu phục sinh, chúng ta cũng vậy, mỗi người có hoàn cảnh riêng, những khó khăn và thuận lợi riêng, nhưng đều có sứ mạng loan báo Đấng Phục Sinh, Đấng đang sống và đang hiện diện giữa chúng ta.

Xin cho mỗi chúng ta nhiệt thành nói với anh chị em chúng ta rằng: hãy vui lên, Chúa đã sống lại. Hãy vui lên, vì chúng ta cũng được sống lại với Người.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật Lễ Lá Năm B
Posted by: LongHai - 03-21-2018, 07:08 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Ngã Rẽ Cuộc Đời

Thánh lễ hôm nay rất ý nghĩa cho giới trẻ. Trong ngày Lễ Lá, biết bao thanh thiếu niên ra đón mừng Chúa. Cả một bầu khí trẻ trung, hăng say, kính mến. Sự trẻ trung bột phát qua việc cầm cành lá, qua lời tung hô đón chào Chúa. Thật là một bầu khí cuồng nhiệt. Giới trẻ Do thái lúc ấy biểu lộ lòng kính mến thật hồn nhiên, thật dễ thương. Không khác gì giới trẻ chúng ta hôm nay.

Nhưng thánh lễ hôm nay cũng khiến ta phải suy nghĩ không ít vì những biến cố quá trái ngược. Chúa vừa vinh hiển vào thành chưa được bao lâu đã phải tủi nhục chết trên thập giá. Tại cổng thành có biết bao người ra chào đón tung hô, nhưng trên Núi Sọ chẳng còn mấy người theo Chúa. Từ chúa nhật Lễ Lá đến thứ Sáu tuần thánh thời gian không dài, nhưng biết bao người đã thay lòng đổi dạ. Từ cổng thành đến Núi Sọ đường đất không xa, nhưng biết bao người đã rẽ đường, đi ngang, về tắt. Tại sao thế? Ta hãy lần theo dấu vết của những người bỏ cuộc để nhận diện những ngã rẽ cuộc đời. Có ba ngã rẽ tiêu biểu.

Ngã rẽ của Giuđa. Giuđa là môn đệ trung tín theo Chúa trong suốt 3 năm Chúa đi rao giảng. Ông còn được Chúa tin cẩn trao phó cho công việc quan trọng: nắm giữ tài chánh. Ngày Lễ Lá chắc chắn ông có mặt. Nhưng khi Chúa chịu chết thì ông vắng mặt. Ông đã rẽ sang lối khác. Lối rẽ đuổi theo tiền bạc vật chất. Theo tiếng gọi của tiền bạc, ông đã đưa chân đi những bước xa lạ. Ông đi vào con đường khác. Ông trở thành con người khác. Ông bỏ Chúa vì tiền. Tệ hơn nữa ông bán Chúa để lấy tiền.

Ngã rẽ của Phêrô. Phêrô là môn đệ rất thân thiết của Chúa. Là người đứng đầu tông đồ đoàn. Ông thề rằng dù mọi người có bỏ Chúa thì ông vẫn trung thành với Chúa. Ngày Lễ Lá chắc chắn ông ở bên Chúa. Nhưng ngày thứ sáu tuần thánh, không thấy ông đâu. Ông đã rẽ sang lối khác: lối rẽ lười biếng và hưởng thụ. Lười biếng vì khi vào vườn Giêtsimani, Chúa kêu gọi ông hãy thức cầu nguyện với Chúa, vậy mà ông cứ ngủ. Hưởng thụ vì trong sân tòa án, thay vì theo dõi cuộc xét xử Chúa thì ông lại vào tìm hơi ấm nơi đống lửa giữa sân. An nhàn hưởng thụ đã kéo ông xa Chúa. An nhàn hưởng thụ đã đẩy ông đến chỗ chối Chúa.

Ngã rẽ của đám đông. Hàng vạn người đã theo Chúa, mê mệt nghe đến mấy ngày quên ăn, quên về. Biết bao người reo mừng nghênh đón Chúa ngày long trọng vào thành. Thế mà trên Núi Sọ chỉ thấy những người đến sỉ vả, chê bai, nhạo cười. Đám đông đã rẽ sang lối nào? Thưa họ rẽ sang lối dư luận. Thiếu lập trường, chạy theo đám đông. Thấy người ta đi nghe Chúa thì cũng đi. Thấy người ta nhạo cười Chúa thì cũng cười nhạo. Thấy người ta kết án Chúa thì cũng kết án.

Để tự nhiên, chắc chắn không ai nỡ nhẫn tâm bán Chúa, chối Chúa, lên án Chúa. Nhưng người ta thay lòng đổi dạ do tác động của tiền bạc, của hưởng thụ, của dư luận. Đó là những ngã rẽ nguy hiểm.

Những gì đã xảy ra cho Giuđa, cho Phêrô và cho đám đông năm xưa vẫn có thể xảy ra cho ta hôm nay. Làm sao để ta luôn đi trên đường theo Chúa và trung thành với Chúa? Thưa hãy Sống Lời Chúa. Năm nay (2005), Hội đồng Giám mục Việt nam đề nghị chúng ta hãy lấy Lời Chúa làm kim chỉ nam. Trong thư chung năm 2005, HĐGM đã nhắn nhủ riêng các bạn trẻ:

"Các bạn trẻ sẽ là chủ nhân của tương lai, là niềm hy vọng của Giáo Hội. Trước bao nhiêu khuynh hướng, trào lưu và thần tượng của thời đại, các bạn không được phép sai lầm khi lựa chọn tiêu chuẩn hướng dẫn hành động. Lời Chúa là Ánh Sáng duy nhất giúp các bạn trong sự lựa chọn có tính quyết định này" (Thư chung 2005, 9).

Thật là trùng hợp. Ngay lúc này đây, khi giới trẻ Hà nội đang họp nhau tại Nhà thờ Lớn này, thì tại quảng trường thánh Phêrô, Rôma, Đức Thánh Cha Bênêđíchtô cũng đang gặp gỡ giới trẻ Rôma, Italia. Và Đức Thánh Cha cũng khuyên nhủ các bạn trẻ hãy siêng năng đọc, học hỏi, suy niệm Lời Chúa để thực hành trong đời sống. Lời Chúa sẽ hướng dẫn các bạn biết sáng suốt trước những chọn lựa trong đời sống. Lời Chúa sẽ soi sáng cho các bạn trong những lúc bóng tối vây phủ. Lời Chúa sẽ ban sức mạnh khi các bạn cảm thấy yếu mệt. Lời Chúa sẽ hướng dẫn các bạn biết lối quay về nếu lỡ lạc đường. Lời Chúa sẽ biến các bạn trở thành chứng nhân cho Chúa trong xã hội hôm nay. Vì Lời Chúa sẽ ấp ủ, nuôi dưỡng để các bạn lớn lên trong tình thương yêu. Cảm nghiệm được tình yêu thương của Chúa, các bạn sẽ biết đáp lại. Và sẽ trung thành với Chúa cho đến cùng.

Lạy Chúa, xin gìn giữ chúng con trong tình thương của Chúa. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Trong ba loại ngã rẽ, bạn thấy ngã nào nguy hiểm nhất?
  2. Bản thân bạn có kinh nghiệm gì với những cám dỗ này? Bạn đã chống trả ra sao? Bạn đã thành công hay thất bại trong cuộc chiến đấu chống những cơn cám dỗ kể trên?
  3. Đối với bạn, Kinh Thánh có quan trọng không?
  4. Câu nào trong Kinh Thánh đánh động bạn nhất?
  5. Phải đọc Kinh Thánh thế nào mới có kết quả?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Nhiệt Thành Của Thập Giá

Tuần Thánh bắt đầu với Chúa nhật Lễ Lá và Phụng vụ Lễ Lá lại tiến hành với hai nhịp tương phản. Bắt đầu là cử hành việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem trong tư cách một vị vua, được dân chúng đón tiếp trọng thể, ngập tràn tiếng reo vui. Rồi ngay sau đó trong Thánh Lễ, thay cho bài Tin Mừng lại là bài tường thuật cuộc thương khó của Chúa, cuộc thương khó đầy máu và nước mắt. Hội Thánh có ý gì khi liên kết hai sự kiện tương phản này? Tại sao không đợi đến Thứ Sáu Tuần Thánh để công bố bài thương khó mà phải đọc ngay từ Chúa nhật Lễ Lá? Đã hẳn có nhiều ý nghĩa phong phú hàm chứa ở đây cần được khai triển. Một trong những nội dung đáng quan tâm là Hội Thánh muốn làm nổi bật đường lối cứu thế của Chúa Giêsu và mời gọi con cái mình bước theo Thầy.

Khi kể lại việc Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ Giê-ru-sa-lem, thánh Gioan ghi nhận: "Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt thành lo việc Nhà Chúa mà tôi đây phải thiệt thân" (Ga 2, 17). Một số Kitô hữu đã liên kết từ "nhiệt thành" ở đây – cũng như việc Chúa Giêsu được đón rước trọng thể vào thành Giêrusalem trong tư cách một vị vua – với phong trào chính trị được gọi là "Nhiệt Thành-zelos" thời bấy giờ. Ngoài ra người ta còn kết nối sự kiện này với lời các thượng tế tố cáo Chúa Giêsu trước tòa Philatô: "Ai xưng mình là vua thì chống lại Cêsarê" (Ga 19, 12). Tất cả để dẫn đến kết luận Chúa Giêsu là nhà cách mạng chính trị.

Phong trào chính trị có tên gọi "Nhiệt Thành" được khơi nguồn từ ông Mattathias, cha của anh em nhà Macabê. Vào thời đó, vua Antiôkô cưỡng bức người Do Thái phải chối đạo và tế thần trên bàn thờ, nhưng ông Mattathias tuyên bố: "Chúng tôi sẽ không tuân theo lệnh vua mà bỏ việc thờ phượng của chúng tôi để xiêu bên phải, vẹo bên trái" (1 Mac 2, 22). Và khi có một người Do Thái tiến ra tế thần trên bàn thờ theo chỉ dụ của nhà vua, thì sách Macabê kể lại: "Ông Mattathias bừng lửa nhiệt thành… ông nhào tới hạ sát hắn ngay tại bàn thờ. Ông cũng giết luôn viên chức của vua có nhiệm vụ cưỡng bức người Do Thái tế thần, rồi ông phá đổ bàn thờ". Sau đó sách Macabê kết luận: "Ông bừng lửa nhiệt thành đối với Lề Luật giống như ông Pinêát trong vụ Dimri, con của Xalu" (2, 23-26). Kể từ lúc đó, từ ngữ "nhiệt thành-zelos" trở thành khẩu hiệu diễn tả quyết tâm dùng sức mạnh và bạo lực để bảo vệ đức tin, bảo vệ Lề Luật.

Vào thời Chúa Giêsu, không ít người Do Thái đi theo phong trào này, chủ trương dùng bạo lực để xua đuổi đế quốc Rôma, giành lại chủ quyền và độc lập của dân tộc. Dựa vào một số chi tiết trong các sách Tin Mừng, người ta cũng nhìn Chúa Giêsu như một nhà cách mạng chủ trương dùng bạo lực để xây dựng một vương quốc chính trị. Đồng thời, dọc dài lịch sử Giáo Hội, hình ảnh Chúa Giêsu như một nhà cách mạng cũng được vận dụng để biện minh cho việc sử dụng bạo lực nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Thế nhưng đây có thực sự là ý hướng của Chúa Giêsu? Khi suy niệm về việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem cách trọng thể, Đức Bênêđictô XVI trả lời: "Không. Làm cách mạng bằng bạo lực, nhân danh Thiên Chúa để giết người, đó không phải là đường lối của Chúa. Lòng nhiệt thành của Người đối với vương quốc Thiên Chúa được thể hiện bằng cách thức hoàn toàn khác".

Trong ngày Lễ Lá, hình ảnh Chúa Giêsu cỡi trên lưng lừa tiến vào Giêrusalem làm dội lại lời tiên tri Zacaria: "Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi. Người là Đấng chính trực, Đấng toàn thắng; khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ" (9, 9). Vào thời tiên tri Zacaria cũng như vào thời Chúa Giêsu, con ngựa mới là biểu tượng của sức mạnh, còn lừa là phương tiện của người nghèo. Vì thế hình ảnh Vua Giêsu ngồi trên lưng lừa diễn tả một vị vua hoàn toàn khác. Người là vua của hòa bình, vua của người nghèo, vị vua đơn sơ và khiêm tốn.

Cũng lúc ấy, chúng ta khám phá lý do tại sao Phụng vụ Lễ Lá được bắt đầu bằng việc tưởng niệm Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem trong vinh quang, rồi được tiếp nối bằng việc công bố bài thương khó. Để thấy rõ hơn chân dung của vị vua hòa bình. Để thấy rõ hơn ý nghĩa của "sự nhiệt thành", không phải thứ nhiệt thành của bạo lực nhằm xây dựng một vương quốc trần thế, nhưng là sự nhiệt thành của Thập Giá, nhiệt thành của tình yêu tự hiến trọn vẹn.

Sự nhiệt thành ấy cũng chất vấn cách nhìn và cách sống của người môn đệ Chúa Giêsu ở mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh. Có những lúc người môn đệ Chúa cũng bị cám dỗ sử dụng bạo lực để gọi là phục vụ Nước Chúa. Nếu chưa phải là những hành động bạo lực thì cũng là những lời nói và ứng xử bạo lực. Dù là hành động hay lời nói thì gốc rễ vẫn là sự căm thù chất chứa trong tâm hồn, đôi khi được ẩn giấu dưới lớp áo nhiệt thành, và sự căm thù ấy đã dẫn đến biết bao hậu quả tai hại cho chính Hội Thánh của Chúa. "Chúng ta đã biết quá rõ những hậu quả tàn ác của thứ bạo lực với động cơ tôn giáo. Bạo lực không xây dựng vương quốc Thiên Chúa, vương quốc của nhân tính. Ngược lại, bạo lực là khí cụ ưa thích của tên phản-Kitô, cho dù nó núp bóng tôn giáo. Nó không phục vụ nhân loại mà phục vụ sự phi nhân" (Benedict XVI, Jesus of Nazareth, tome II, 15).

"Chúa Giêsu đã thiết lập tiêu chuẩn đánh giá lòng nhiệt thành chân chính, đó là lòng nhiệt thành của tình yêu tự hiến, và sự nhiệt thành này phải trở nên mục tiêu của đời sống Kitô hữu". Suy tư này của Đức Bênêđictô XVI đáng cho mỗi người Kitô hữu ghi nhớ để soi sáng lời nói và hành động của mình. Nhất là trong Tuần Thánh, khi đi đàng Thánh Giá, khi ôn lại những chặng đường trong cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta.

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Con Đường Theo Chúa

Con đường theo Chúa bao gồm vui mừng và đau khổ đan xen. Giữa những đau khổ gian nan, người theo Chúa luôn phải vững vàng. Trong ngày khai mạc Tuần Thánh, cùng với anh chị em tín hữu, tôi được mời gọi lắng đọng tâm hồn để nhìn lại con đường theo Chúa của tôi như thế nào.

Trong ngôn ngữ thông thường, người ta vẫn nói: tin là theo Chúa, là theo Đạo. Chữ "theo" ở đây diễn tả một hành trình dài, một hướng đi cho cả cuộc đời. Con đường theo Chúa bao gồm vui mừng và đau khổ đan xen. Giữa những đau khổ gian nan, người theo Chúa luôn phải vững vàng. Trong ngày khai mạc Tuần Thánh, cùng với anh chị em tín hữu, tôi được mời gọi lắng đọng tâm hồn để nhìn lại con đường theo Chúa của tôi như thế nào.

Trong hành trình theo Chúa, nhiều khi tôi hiểu sai sứ mạng của Người: Người dân thành Giêrusalem vui mừng khi Chúa tiến vào thành thánh. Họ nghĩ Chúa Giêsu chính là vua Đavít ngày xưa đã tái xuất hiện. Họ tung hô vui mừng, cành lá phất phới trong tay, vì nghĩ dân tộc mình sắp được giải phóng khỏi ách đô hộ của người La Mã. Chính vì thế, dân thành ùa ra đường, hòa mình vào đám rước và thể hiện niềm vui hết mình. Họ nhìn Đức Giêsu thuần túy với cái nhìn chính trị. Cái nhìn lệch lạc này đôi khi cũng là cái nhìn của tôi. Nhiều lúc tôi chỉ coi Chúa như một nhân vật lịch sử xa xưa, hoặc như một nhà cách mạng giải phóng dân nghèo. Chính vì vậy, tôi không được gặp Chúa trong đời sống nội tâm, không được nghe tiếng Chúa nơi sâu thẳm của tâm hồn và không thực hiện giáo huấn của Chúa trong cuộc sống cụ thể. Đôi khi tôi cũng giống như những người dân thành Giêrusalem tung hô: "Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!", nhưng lòng tôi trống rỗng khô khan. Lời tung hô ấy chỉ giống như những khẩu hiệu vô hồn mà tôi vẫn thấy giăng ngoài đường phố, chẳng hề tác động những người đi qua. Ngước nhìn thập giá, tôi thấy Chúa khẳng định với tôi, Ngài là Thiên Chúa tối cao. Giống như viên đại đội trưởng nọ, tôi tuyên xưng: "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa" (Mc 15, 39).

Trong hành trình theo Chúa, nhiều khi tôi chán nản. Theo Chúa là con đường dài thăm thẳm, không giống như một nghề nghiệp hoặc một chức danh ngoài đời. Trên con đường dài thăm thẳm này, nhiều lúc tôi nản lòng, nhất là những lúc đối diện với những khó khăn nghiệt ngã. Biết bao lần tôi đã hỏi: "Lạy Chúa, Chúa ở đâu trong những lúc con gặp gian nan khốn khó?". Biết bao lần đức tin của tôi xao xuyến băn khoăn, và tôi đã bị cám dỗ để tin vào những thần linh khác không phải Chúa. Tôi cũng luôn bị cám dỗ rằng Chúa không hiện hữu, để tha hồ tự do mà làm những gì mình thích. Nản lòng trước thử thách, đó cũng là cơn cám dỗ mà Chúa Giêsu đã trải qua. Người đã cầu nguyện trong vườn Cây Dầu: "Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà hãy làm điều Cha muốn" (Mc 14, 36). Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu vừa diễn tả sự lo sợ của Người trước thập giá, vừa nói lên lòng hiếu thảo và sẵn sàng tuân phục ý Chúa Cha. Lời cầu nguyện này cũng giúp tôi có thêm nghị lực, để tiếp bước theo Chúa mặc dù những chướng ngại gian nan trong cuộc đời.

Trong hành trình theo Chúa, nhiều khi tôi phản bội. Những người Do Thái tung hô Chúa khi Người vào thành thánh Giêrusalem, ngay sau đó đã thay lòng đổi dạ. Những cánh tay giơ lên để tung hô ca ngợi Chúa, rồi cũng chính những cánh tay ấy lại giơ lên "biểu quyết" lên án tử cho Người. Trước câu hỏi của Philatô, những người Do Thái đã nhiều lần hô to: "Đóng đinh nó vào thập giá". Họ đã đồng thuận việc thả Baraba để giết Chúa Giêsu. Người Do Thái đã căm ghét Chúa Giêsu hơn một kẻ phiến loạn. Nhận mình là Kitô hữu, nhiều khi tôi đã sống ngược lại với danh nghĩa cao quý này. Lối sống và cách ứng xử của tôi đã làm cho nhiều người hiểu sai lý tưởng Kitô giáo, để rồi hình ảnh Giáo Hội của Chúa Kitô trở nên biến dạng nơi cuộc đời của tôi. Nhiều khi tôi giống như Phêrô, lo sợ trước câu hỏi của một cô nữ tỳ, đã chối phăng Thày mình. Hoặc là, tôi giống như các môn đệ, sợ hãi chạy trốn khi Thày mình bị bắt, hay tôi mê ngủ khi Chúa bước vào cuộc khổ nạn đau thương. Những ngày Tuần Thánh này mời gọi tôi hãy "trở về" để củng cố lòng trung thành với Chúa, kiên định và gắn bó với Người, kể cả những lúc tăm tối gian nan.

Lễ nghi của Tam nhật Vượt qua không phải là một vở kịch, nhưng là một nghi thức gợi lại cho chúng ta cái chết của Chúa, và tình yêu thương của Người dành cho chúng ta qua cái chết này. Đó là cái chết mang ơn cứu độ cho con người. Cuộc đời của Chúa Giêsu không dừng lại ở nấm mồ, nhưng Chúa đã phục sinh sau khi trải qua sự chết. Phụng vụ của Giáo Hội trong những ngày này nhắc nhớ tôi hãy lặng thinh suy niệm, và chân thành nhìn lại mối tương quan giữa bản thân mình với Đấng chịu đóng đinh, qua đó, tôi thực sự là môn đệ của Đức Giêsu, trung thành tiếp bước theo Người.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Lễ Thánh Giuse
Posted by: LongHai - 03-19-2018, 08:48 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Lễ Thánh Giuse

a. Thánh Giuse, Người Công Chính

Khi mừng lễ thánh Giuse, tôi thường tự hỏi. Không biết thánh Giuse, người sống cách đây 2000 năm có còn thích hợp với thời đại chúng ta không? Không biết thánh Giuse, Đấng đã coi sóc một gia đình gồm toàn những đấng thánh có thể làm gương mẫu cho gia đình chúng ta, những gia đình gồm toàn những con người phàm trần không?

Tin Mừng hôm nay nói thánh Giuse là người công chính. Nhìn vào cuộc đời thánh Giuse, ta có thể hiểu được nội dung tính từ công chính. Công chính trước hết là trả lại cho người khác những gì thuộc về họ. Nói khác đi công chính là không dám nhận những gì không phải của mình. Thánh Giuse định trốn đi khi biết Đức Maria mang thai. Theo lối giải thích xưa kia thì thánh Giuse trốn đi vì nghi ngờ Đức Maria. Nhưng theo các nhà chú giải thời mới thì thánh Giuse định bỏ trốn vì thấy mình không xứng đáng với danh hiệu làm cha nuôi Đấng Cứu Thế. Chức vị làm cha Đấng Cứu Thế là một chức vị quá cao trọng, thánh Giuse thấy mình không phải là Cha Đấng Cứu Thế, không xứng đáng làm Cha Đấng Cứu Thế, nên Ngài bỏ trốn.

Công chính là chu toàn nhiệm vụ của mình. Nhiệm vụ của thánh Giuse là gìn giữ Đức Giêsu và Đức Maria. Chúa đã trao cho Ngài nhiệm vụ đó và Ngài đã hết sức chu toàn. Chu toàn với tinh thần trách nhiệm cao, không để xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Chu toàn với sự tế nhị, kính cẩn, nâng niu, hãy nhìn cảnh Thánh Gia trốn sang Ai cập, Đức Maria bế Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa. Thánh Giuse dắt lừa đi trong đêm tối. Không còn cảnh tượng nào đẹp đẽ hơn. Thánh Giuse trân trọng kho tàng Chúa trao cho Ngài gìn giữ. Thánh Giuse kính cẩn nâng niu Đức Maria và Đức Giêsu, ngài chu toàn nhiệm vụ với tinh thần dấn thân hy sinh không ngại gian khổ. Đang đêm mà Chúa bảo thức dậy trốn sang Ai cập, ngài cũng thức dậy lên đường ngay tức khắc.

Những nhiệm vụ của thánh Giuse xem ra tăm tối, không có gì vinh quang. Nhưng thánh Giuse vẫn chăm chỉ chu toàn, và không đòi cho mình nhiệm vụ nào khác. Chẳng hạn sau này các Tông đồ được mọi người kính phục, thánh Giuse vẫn không ghen tị và đòi cho mình quyền đó. Ngài thật là người công chính.

Sau cùng, công chính là trung tín với nhiệm vụ. Thánh Giuse được Chúa trao cho nhiệm vụ gìn giữ Đức Maria và Đức Giêsu, gìn giữ gia đình, ngài đã hết sức chu toàn trong hoàn cảnh thuận lợi cũng như trong hoàn cảnh khó khăn. Vì trung tín với nhiệm vụ mà thánh Giuse phải lao động vất vả để nuôi sống gia đình. Vì trung tín với nhiệm vụ mà thánh Giuse phải chung sống với súc vật trong ngày Đức Maria hạ sinh Đức Giêsu. Vì trung tín với nhiệm vụ mà thánh Giuse phải vất vả bồng bề Đức Giêsu chạy trốn sang Ai cập. Vì trung tín với nhiệm vụ mà thánh Giuse kiên trì tìm kiếm khi Đức Giêsu đi lạc 3 ngày trong Đền thờ. Trung tín không hề xao nhãng, không hề lẩn tránh, không hề lùi bước trước nhiệm vụ khó khăn, thánh Giuse thật là người công chính.

Ngày nay thánh Giuse vẫn hợp thời, vẫn là gương mẫu cho con người, vẫn là niềm mơ ước của con người. Vì thế giới ngày nay đang thiếu vắng sự công chính. Người ta gian tham nhận những gì không phải của mình. Không phải chỉ gian tham tiền bạc mà còn gian tham chức quyền, danh vọng. Vì thiếu công chính mà người ta hãm hại người khác, chiếm đoạt tiền của, danh dự của người khác. Vì thiếu công chính mà người ta sống giả dối, làm hàng giả, nói dối, mượn bằng giả. Vì thiếu công chính nên người ta trốn tránh nhiệm vụ. Chỉ thích những việc nhàn tản, phô trương, trốn tránh những việc nặng nhọc, hèn kém.

Các gia trưởng nhiều khi lười biếng, ham vui mà thiếu trách nhiệm với gia đình, với vợ con. Sự trung tín ngày nay đang là một vấn đề lớn, người ta bất tín, lừa đảo, gian dối trong đời sống xã hội, trong kinh doanh buôn bán, người ta thiếu trung tín cả trong gia đình. Chỉ một vài thử thách, thiếu thốn, người ta sẵn sàng từ bỏ nhiệm vụ, từ bỏ người thân.

Nên thánh Giuse vẫn còn là gương mẫu cần thiết cho người thời nay. Những đức tính của ngài, sự công chính của Ngài rất hữu ích để chấn chỉnh, xây dựng xã hội hôm nay.

b. Thánh Giuse, Người Đi Trong Đêm Đen

Trong các bức tranh vẽ thánh Giuse, tôi thích nhất bức tranh vẽ thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Đức Giêsu trốn sang Ai cập. Bầu trời đen thẫm. Một vài tia chớp loé lên ở cuối chân trời vừa soi đường cho Thánh gia, vừa báo hiệu cơn giông bão sắp tới. Đức Maria bồng Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa. Thánh Giuse dắt lừa. Cả người cả lừa như lẩn vào màn đêm. Bức tranh không chỉ đẹp ở nét vẽ gợi cảm, mà còn đẹp về ý nghĩa, Ngắm bức tranh, tôi thấy hiện lên cả cuộc đời thánh Giuse: một đời bước đi trong đêm tối.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối đức tin. Ngài đã sống chung với Đức Maria và Đức Giêsu, những con người của huyền nhiệm. Một người bình thường đã là một thế giới huyền bí. Một con người của huyền nhiệm lại càng sâu xa bí ẩn hơn bội phần. Đi bên những huyền nhiệm cũng như đi trong đêm tối. Thánh Giuse không hiểu gì hết. Không hiểu mà vẫn phải đón nhận. Không hiểu mà vẫn phải tin, phải yêu. Không hiểu mà vẫn phải đống hành cho đến mãn đời. Thánh Giuse giống như người lính canh được cấp trên trao cho một chiếc hộp đóng kín. Người lính canh chỉ có nhiệm vụ canh giữ mà không được phép mở ra. Trong hộp có gì? Có thể là một kho tàng quý giá. Nhưng cũng có thể là chiếc hộp rỗng không. Không biết. Nhưng vẫn phải canh giữ.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối im lặng. Ngài đi trong sự im lặng của Đức Maria, người bạn yêu quý. Trước những mầu nhiệm cao cả, Đức Maria đã lặng thinh không nói. Ngài đi trong sự im lặng của Đức Giêsu. Thiên Chúa làm người vẫn là một mầu nhiệm ẩn dấu và Đức Giêsu không hề hé lộ thân phận. Ngài đi trong sự im lặng của Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ trực tiếp nói với Ngài. Chỉ có vài lần. Mà chỉ là những tiếng vọng mô hồ, giữa đêm khuya, trong giấc ngủ. Vẫn là ngôn ngữ của im lặng. Im lặng đáng sợ. Nhất là khi phải đối đầu với nguy hiểm, với nghi ngờ, với những vấn đề hệ trọng của đời sống. Im lặng khó hiểu khi những gì thân thiết nhất trong đời lại trở nên bí ẩn, cách xa. Im lặng nguy hiểm. Nó có thể đốn ngã thân cổ thụ, làm chao đảo những niềm tin vững mạnh nhất. Ngài đi trong im lặng của chính mình. Trong cả bốn Phúc Âm, không thấy ghi lại lời nói nào của thánh Giuse. Ngài bước đi trong âm thầm lặng lẽ.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối lãng quên. Ngài bị lãng quên trong làng quê nhỏ bé, trong thân phận nghèo hèn của bác thợ mộc. Người ta không bao giờ nhắc đến Ngài. Nếu có nhắc đến, cũng chỉ để chê bai, dè bỉu, để hạ thấp thân phận của Đức Giêsu: "Giêsu con của bác Giuse thợ mộc tầm thường ấy mà. Có làm gì nên chuyện". Ngài bị lãng quên vì luôn luôn ở phía sau, luôn luôn chìm trong bóng tối.

Phúc Âm kể về Đức Maria. Sách Tông Đồ Công Vụ kể về Đức Maria. Nhưng từ khi Đức Giêsu khôn lớn không ai nói gì về Thánh Giuse nữa. Ngài chìm vào đêm tối quên lãng. Ngài luôn luôn đóng vai phụ, như hình ảnh dắt lừa đi trong đêm tối.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối thử thách. Thân phận nghèo hèn. Sống trong im lặng và lãng quên, nhưng những thử thách Ngài phải đương đầu lại rất cam go. Rất hiền lành, nhưng phải đương đầu với Hêrôđê hung hãn. Mình giữ mình chưa xong, lại phải che chở cho một hài nhi sơ sinh và một sản phụ yếâu ớt. Nhưng những thử thách, khốn khó về thể lý dù cam go thế nào cũng còn chịu được. Những thử thách đức tin mới thật là khủng khiếp. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa ư? Đức Giêsu là Con Thiên Chúa ư? Thật khó mà chấp nhận được. Sao này? Sao Vua Trời vinh hiển lại phải trốn chạy một ông vua trần thế. Các thử thách làm cho đêm tối càng đen hơn, càng dầy hơn, càng sâu hơn.

Tuy đêm có đen, tuy chân có mỏi, tuy lòng có xao xuyến nhưng Thánh Giuse vẫn bước đi. Tuy thử thách có nặng nề, Thánh Giuse vẫn chiến đấu. Cha Teilhard de Chardin nói: người chiến đấu giống như người bơi lội ngoài biển ban đêm: "Ban đêm, người bơi lội vùng vẫy trong làn nước biển có chất lân tinh, làm ánh sáng loé lên chung quanh mình".

Thánh Giuse đã chiến đấu. Những chiến đấu mạnh mẽ cũng làm loé lên chung quanh Ngài những làn ánh sáng soi bước chân Ngài đi.

Đi trong đêm tối đức tin, Ngài có ngọn lửa đức mến soi đường. Đêm đen lắm, nhưng Ngài cứ yêu mến Chúa, cứ gắn bó với Chúa, và cứ bước đi với Chúa.

Trong đêm tối im lặng. Ngài đốt lên trong tâm hồn ngọn đèn thao thức, lắng nghe, đón chờ. Niềm thao thức khiến tâm hồn Ngài nhạy bén như một phím đàn mỏng. Lời Chúa chỉ thoáng nhẹ như làn gió thoảng, phím đàn đã rung lên. Ý Chúa chỉ mờ ảo trong giấc mơ, Ngài đã đọc được và mau mắn thi hành.

Trong đêm tối lãng quên, Ngài có đèn khiêm nhường dẫn lối. Khiêm nhường chìm vào quên lãng. Khiêm nhường phục vụ, khiêm nhường sâu thẳm. Ngài có cùng tâm tình như Thánh Gioan Tẩy Giả: "Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi".

Trong đêm tối thử thách, Ngài thắp lên ngọn đèn tin yêu phó thác. Tin vững vàng vào Lời Chúa. Hoàn toàn phó thác cho Chúa. Để Chúa dẫn đường qua đêm đen mù mịt.

Lạy Thánh Giuse, con cũng đang đi trong đêm đen. Xin hãy thắp lên trong con những ngọn đèn của Thánh Cả, soi đường cho con đi đến nơi bình an.

c. Thánh Giuse, Gương Mẫu Thời Đại

Khi chọn một vị thánh bảo trợ, ta đặt mình dưới sự chở che cứu giúp của Người và cũng mong noi gương bắt chước đời sống đức hạnh của Người. Tất cả những ai xin thánh cả Giuse bảo trợ chắc chắn sẽ được Người chở che gìn giữ, như xưa Người đã gìn giữ Đức Giêsu và Đức Maria trong cuộc đời dương thế. Nhưng ít có ai noi gương được đời sống của Người. Đó là một đời sống thánh đức chiếu toả ra những nét đẹp cao quý mà ta khó bắt chước.

Nét đẹp thứ nhất ở nơi thánh Giuse mà ta khó bắt chước, đó là đức tính ít nói. Lần giở những trang Tin Mừng, ta thấy diễn tả nhiều hành động của thánh cả Giuse, nhưng không thấy trích dẫn lời nói nào của Người. Người làm nhiều nhưng nói ít. Còn ta, ta thương nói nhiều và làm ít. Tục ngữ Việt nam có câu: Đa ngôn đa quá. Ai nói nhiều sai lỗi nhiều. Thực vậy trong đời sống có biết bao hiểu lầm phát sinh từ những lời nói thiếu trung thực. Biết bao đổ vỡ do những lời nói thiếu trách nhiệm gây nên. Biết bao lời nói trống rỗng không chứa đựng nội dung xây dựng. Biết bao lời nói làm vẩn đục tâm hồn, vẩn đục môi trường đạo đức, làm ô nhiễm bầu khí bác ái. Thánh Giacôbê thật chí lý khi nói: "Ai không sai lỗi trong lời nói thì đó là người hoàn hảo. Người ấy có khả năng kiềm chế toàn thân" (Gc 3,2). Thánh Cả Giuse đã kiềm chế được lời nói, chứng tỏ Người hoàn toàn làm chủ được bản thân. Sự im lặng của Người là sự im lặng của kẻ mạnh. Sự im lặng của Người là sự im lặng của một đời sống nội tâm phong phú. Sự im lặng của Người là sự im lặng hoạt động đem lại những kết quả tốt đẹp.

Nét đẹp thứ hai ở nơi thánh Cả Giuse mà ta khó bắt chước, đó là sự vâng lời tuyệt đối. Người luôn vâng lời Chúa, dù lệnh Chúa truyền chỉ mơ hồ trong cơn mê ngủ, dù lệnh Chúa truyền nhiều khi rất khó chấp nhận. Làm sao chấp nhận được một phụ nữ đã có thai làm bạn? Không bao giờ Người thắc mắc, chối từ. Không bao giờ Người tỏ ý ngần ngại trước những mệnh lệnh khó khăn. Trong mọi nơi mọi lúc, Người luôn vâng lệnh Chúa một cách mau chóng, tức khắc, vui tươi. Thấy Đức Maria đã mang thai, Người muốn trốn đi, nhưng khi Chúa tỏ ý muốn Người ở lại nhận Đức Maria làm bạn, Người vâng lệnh ngay tức khắc. Khi Chúa muốn Người đưa Đức Giêsu và Đức Maria trốn sang Ai cập, Người đã thức dậy và tức khắc lên đường giữa đêm khuya. Thật là một sự vâng lời tuyệt đối. Còn ta, trước những lệnh truyền của Chúa, ta có thái độ nào? Nếu ta không chối từ thì cũng uốn nắn theo ý riêng. Ít nhất cũng thắc mắc, giảm nhẹ. Nếu có vâng lời thì cũng ngần ngại, chậm trễ thi hành. Sự vâng lời tuyệt đối nói lên đức tin mãnh liệt vào Chúa. Vì hoàn toàn tin tưởng nên hoàn toàn phó thác. Vì hoàn toàn phó thác nên hoàn toàn vâng phục. Dù không hiểu, nhưng cứ dấn bước lên đường. Sự vâng lời tuyệt đối nói lên một lòng mến yêu tha thiết. Vì mến yêu tha thiết nên sẵn sàng làm bất cứ điều gì, cho dù không hiểu, cho dù khó khăn. Thánh Cả Giuse có lòng tin tưởng tuyệt đối và lòng yêu mến tha thiết đối với Chúa, nên đã vâng lời Chúa một cách tuyệt đối.

Nét đẹp thứ ba ở nơi thánh Cả Giuse mà ta khó bắt chước, đó là sự khiêm nhường quên mình. Đọc trong Tin Mừng, ta không bao giờ thấy Người xuất hiện ở những nơi công khai được nhiều người biết đến, trái lại Người luôn có mặt ở những nơi tối tăm âm thầm. Người không làm những việc lớn lao trọng đại, nhưng chỉ chu toàn những bổn phận nhỏ bé thông thường. Một hình ảnh quen gặp là bức vẽ hoạ cảnh Thánh gia trốn sang Ai cập. Đức Mẹ bế Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa. Thánh Giuse đi bộ, dắt lừa âm thầm trong đêm tối. Tôi có cảm tưởng Người đã tự nguyện hạ mình xuống để Chúa được tôn vinh. Người đã tự nguyện sống âm thầm để Chúa được nhận biết. Người đã tự nguyện lùi vào bóng tối để Chúa được xuất hiện trong ánh sáng. Người đã chấp nhận bị quên lãng để Chúa được yêu mến. Còn chúng ta, chúng ta thường làm ngược lại. Ta luôn muốn nâng mình lên, nên Chúa thường bị hạ xuống. Ta luôn muốn phô trương bản thân, nên Chúa bị chìm trong âm thầm. Ta luôn muốn xuất hiện trong ánh sáng, nên Chúa bị đẩy lùi vào bóng tối. Ta luôn tìm cho mình được yêu mến, nên Chúa bị chôn vùi trong quên lãng.

Những nhân đức của thánh Cả Giuse thật khó bắt chước, nhưng đó là những đức tính rất cần cho thời đại chúng ta. Thế giới ngày nay quá ồn ào, cần có những con người hành động. Thế giới ngày nay đã chán ngán những lý thuyết, cho dù rất hay, rất đẹp, nên cần có những con người thực hành, làm chứng nhân. Thế giới ngày nay đang đánh mất niềm tin yêu phó thác, cần có thánh Cả Giuse như mẫu gương trung tín và khôn ngoan. Thế giới càng ngày càng tiến đến hưởng thụ, cá nhân chủ nghĩa, đang cần những con người khiêm nhường, phục vụ, quên mình. Nếu ta biết noi gương những nhân đức của thánh Cả Giuse, ta sẽ có thể thánh hoá bản thân, củng cố gia đình và góp phần cải tạo xã hội.

Lạy thánh Cả Giuse, xin hãy chở che gìn giữ giáo phận chúng con. Amen.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình

Print this item