Welcome, Guest
You have to register before you can post on our site.

Username
  

Password
  





Search Forums

(Advanced Search)

Forum Statistics
» Members: 6
» Latest member: MaiThao
» Forum threads: 564
» Forum posts: 566

Full Statistics

Online Users
There is currently 1 user online
» 0 Member(s) | 1 Guest(s)

Latest Threads
Chúa Nhật XXIX Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
10-19-2017, 06:30 PM
» Replies: 0
» Views: 1
Chúa Nhật XXVIII Thường N...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
10-13-2017, 05:51 AM
» Replies: 0
» Views: 13
Chúa Nhật XXVII Thường Ni...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
10-06-2017, 05:53 PM
» Replies: 0
» Views: 17
Chúa Nhật XXVI Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
09-28-2017, 05:19 PM
» Replies: 0
» Views: 30
Chúa Nhật XXV Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
09-22-2017, 04:11 AM
» Replies: 0
» Views: 32
Chúa Nhật XXIV Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
09-14-2017, 12:29 AM
» Replies: 0
» Views: 34
Chúa Nhật XXIII Thường Ni...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
09-08-2017, 04:40 AM
» Replies: 0
» Views: 37
Chúa Nhật XXII Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-31-2017, 07:58 PM
» Replies: 0
» Views: 33
Chúa Nhật XXI Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-24-2017, 06:42 PM
» Replies: 0
» Views: 46
Chúa Nhật XX Thường Niên ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-17-2017, 04:53 PM
» Replies: 0
» Views: 69

 
Information Chúa Nhật XXIX Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 10-19-2017, 06:30 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Của Thiên Chúa Trả Cho Thiên Chúa

Người Do Thái muốn gài bẫy Chúa nên đưa ra câu hỏi hóc búa. Không ngờ Chúa trả lời thật khôn ngoan: "Của César trả cho César, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa". Với câu trả lời này, Chúa Giêsu minh định hai điều:

Thứ nhất: Tôn giáo và chính trị tách biệt nhau. Chính trị không thể trở thành tôn giáo hoặc bắt tôn giáo làm nô lệ. Tôn giáo cũng không thể đi vào chính trị, đánh mất bản chất của mình.

Thứ hai: Mỗi người phải chu toàn hai nhiệm vụ. Nhiệm vụ đối với xã hội là "trả cho César" những gì của César. Nhiệm vụ đối với Thiên Chúa: "trả cho Thiên Chúa" những gì thuộc về Thiên Chúa.

Hình và huy hiệu khắc trên đồng tiền là của hoàng đế César vì thế phải trả lại cho ông. Nhưng linh hồn con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa nên linh hồn phải được trả về cho Thiên Chúa.

Để có được đồng tiền mang hình ảnh César, người dân phải làm việc vất vả. Cũng thế, để linh mang hình ảnh Thiên Chúa, con người cũng phải ra sức làm việc.

Nhưng hai cách làm việc thật khác xa nhau. Để chia sẻ phần nào quyền lực của vua chúa trần gian, người ta phải làm việc theo cách vua chúa đó là tìm chiếm hữu của cải. Để trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người phải suy nghĩ và hành động như Thiên Chúa đó là yêu thương và cho đi.

Bí tích Thánh Thể là minh họa rõ nét nhất về tính cách yêu thương và cho đi của Thiên Chúa. Nói về bí tích Thánh Thể, lòng trí ta tự nhiên hướng về bữa Tiệc Ly, cuộc Khổ Nạn và cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Qua đó ta thấy một vài khía cạnh trong tình yêu của Chúa.

Đó là tình yêu phục vụ. Tin Mừng thánh Gioan thuật lại. Chúa Giêsu yêu thương những kẻ thuộc về mình thì yêu thương cho đến cùng. Nên trong bữa ăn tối, Người cầm lấy chậu nước và khăn rồi đi rửa chân cho từng môn đệ.

Đó là tình yêu tự hiến. Khi lập phép Thánh Thể. Chúa Giêsu đã nói: "Đây là Mình Thày bị nộp vì anh em; Đây là Máu Thày đổ ra cho anh em và mọi người được tha tội" (Lc 22, 19).

Đó là tình yêu hiền lành khiêm nhường. Chúa Giêsu cam lòng chịu kết án oan ức, chịu sỉ nhục, chịu hành hạ chịu chết mà chẳng một lời oán thán.

Đó tình yêu tha thứ. Không chỉ tha thứ mà còn cầu xin Chúa Cha tha cho những kẻ làm hại mình: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ lầm không biết" (Lc 23, 34). Người cũng tha thứ cho kẻ trộm lành: "Thật Ta bảo thật, hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng" (Lc 23, 43).

Đó là tình yêu muốn tiếp diễn mãi mãi. Nên Người truyền cho ta: "Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thày" (Lc 22, 19). Cử hành thánh lễ, chầu Mình Thánh, kiệu Thánh Thể để Chúa ở mãi với ta, tiếp tục bày tỏ tình yêu thương với ta.

Người mong muốn kéo dài tình yêu của Người cho đến tận cùng không gian và đến tận cùng thời gian nơi cuộc đời chúng ta. Vì thế khi ta chịu lễ, ta phải kết hiệp mật thiết với Người, nên một với Người. Nên một với Người là biến đổi để ta suy nghĩ, nói năng và hành động như Người, nghĩa là sống như Người.

Sống như Chúa là hãy có tình yêu thương phục vụ. Vì Chúa đã dạy: "Như Thày đã rửa chân cho các con, các con cũng hãy rửa chân cho nhau" (Ga 13, 14). Sống như Chúa là hãy có tình yêu tự hiến. Quên mình vì hạnh phúc của người khác. Dám hy sinh thời giờ, sức khỏe, tiền bạc vì anh em. Sống như Chúa là hãy có lòng hiền lành khiêm nhường. Vì Chúa đã dạy: "Hãy học cùng Thày, vì Thày hiền lành và khiêm nhường trong lòng" (Mt 11, 29). Sống như Chúa là hãy tha thứ, không phải chỉ tha thứ 7 lần mà đến 70 lần 7 (x. Mt 18, 21-22).

Sống như thế, ta trở nên hình ảnh sống động của Thiên Chúa giữa trần gian. Sống như thế, ta trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. Sống như thế ta tôn sùng bí tích Thánh Thể một cách thiết thực và hữu hiệu nhất. Sống như thế là sống nhờ Thánh Thể. Không còn sống cho những giá trị trần gian mau qua, nhưng sống cho những giá trị vĩnh cửu của Nước Trời.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin dạy con biết sống bí tích Thánh Thể để con được kết hiệp với Chúa và càng ngày càng nên giống Chúa hơn. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Bạn đã phải trả cho César những gì thuộc về César. Nhưng bạn có thực sự trả cho Chúa những gì thuộc về Người không?
  2. Bạn làm gì để nên giống Chúa?
  3. Qua bí tích Thánh Thể, bạn có thể hiểu được gì về tình yêu Chúa đối với bạn?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


"Cảm Nghiệm Và Loan Truyền"

Để công việc truyền giáo đem lại hoa trái, người tông đồ trước hết phải cảm nhận được tình Chúa yêu thương nơi bản thân và nơi cuộc sống của mình. Bởi lẽ sứ điệp mà chúng ta cần chuyển tải cho anh chị em là dung mạo của Thiên Chúa giàu lòng thương xót và yêu thương con người.

Truyền giáo là một sứ mạng khó khăn và đầy những chông gai thách đố, nhưng đó lại là một sứ mạng làm nên bản chất của Giáo Hội (x. Ad Gentes 2). Ý thức được tầm quan trọng và những khó khăn của công cuộc truyền giáo, Giáo Hội luôn kêu mời các tín hữu cầu nguyện và cùng cộng tác tham gia, để mệnh lệnh của Đấng Phục sinh được thực hiện trong mọi nền văn hóa và các quốc gia trên thế giới.

Trong Tông Huấn Niềm vui Tin Mừng, Đức Giáo Hoàng Phanxiô nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không chỉ là các môn đệ của Đức Chúa Giêsu Kitô mà còn là "các môn đệ truyền giáo". Đức Cha Michael Mulvey, Giám mục Giáo phận Corpus Christi - Hoa Kỳ, đã giải thích lời Đức Thánh Cha như sau: "Việc biết và đơn thuần nhận mình là môn đệ có thể bị hiểu lầm là cuộc hành trình đức tin của chúng ta chỉ liên hệ đến một vài nguyên tắc tâm linh, chẳng hạn như tham dự các lớp đào luyện ở các giáo xứ, v.v .... Trong tất cả những điều ấy chúng ta có thể có cảm giác rằng mình là những môn đệ tốt lành và trung tín, nhưng đó có phải là điều chúng ta cần ngày nay không?".

Để công việc truyền giáo đem lại hoa trái, người tông đồ trước hết phải cảm nhận được tình Chúa yêu thương nơi bản thân và nơi cuộc sống của mình. Bởi lẽ sứ điệp mà chúng ta cần chuyển tải cho anh chị em là dung mạo của Thiên Chúa giàu lòng thương xót và yêu thương con người. Một khi cảm nhận rõ nét tình yêu của Thiên Chúa nơi chính mình, lời chứng của chúng ta mới có sức thuyết phục. Cũng như một người quảng cáo về một sản phẩm. Lời quảng cáo ấy chỉ có sức lôi cuốn và thu hút khách hàng, nếu chính bản thân người quảng cáo đang sử dụng sản phẩm đó, với quả quyết đây là sản phẩm tốt nhất đối với mình. Đức Cha Mulvey mời gọi các tín hữu: "Là các môn đệ truyền giáo, sứ điệp cao cả nhất mà chúng ta phải chia sẻ và tặng cho những người khác là 'Thiên Chúa yêu thương bạn'. Thiên Chúa yêu bạn vô cùng. Thiên Chúa thương xót những yếu đuối của chúng ta và có thể tha thứ cho tội lỗi cho chúng ta. Nhiều người không biết Lòng Thương Xót nghĩa là gì; có lẽ bởi vì họ đã không cảm nghiệm được nó từ những người khác, hoặc không biết làm thế nào để cầu xin Lòng Thương Xót ấy. Đó là công việc Phúc Âm hóa; đó là sứ điệp dành cho cho mỗi môn đệ truyền giáo để chia sẻ với tha nhân". Cuối cùng, vị Giám mục kết luận: "Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm mang Đức Kitô đến cho người khác. Không ai được miễn chước lời mời gọi này" (Bài viết đăng trên South Texas Catholic ngày 1 tháng 5 năm 2014 - Bản dịch của Phạm Văn Khôi).

Lời chứng của người tông đồ cũng chỉ có sức thuyết phục khi chúng ta loan báo với niềm vui mừng hân hoan. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh đến điều này rất nhiều lần trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng. Quả vậy, nếu nội dung Phúc Âm là niềm vui, thì niềm vui ấy trước hết phải toát lên nơi cuộc đời của người loan báo. Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại với chúng ta, các tông đồ sau khi bị Công nghị Do Thái đánh đòn, cấm đoán và đe dọa, các ông "bước ra khỏi Công nghị, hân hoan vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì Danh Chúa" (Cv 5, 41). Chính niềm vui nơi các tông đồ đã giúp cho những người lắng nghe chứng từ của các ông nhận ra giá trị giáo huấn mà các ông rao giảng, đồng thời sẵn sàng gia nhập Giáo Hội. Niềm vui ấy cũng làm cho cộng đoàn tín hữu tiên khởi phát triển và tăng số nhanh chóng. Kinh nghiệm thực tế cho chúng ta thấy, nơi đâu có những linh mục lạc quan vui tươi và dấn thân phục vụ, nơi đó có cộng đoàn đức tin tốt lành. Nơi cộng đoàn ấy, vừa có chiều sâu của đời sống nội tâm, vừa có tình liên đới gắn kết giữa các thành phần Dân Chúa. Nhờ vậy, mà cộng đoàn này tỏa sáng và hướng tới những nỗ lực truyền giáo.

Theo thông lệ, nhân ngày thế giới truyền giáo, Đức Thánh Cha Phanxicô gửi đến mọi tín hữu một Sứ điệp. Qua Sứ điệp này, ngài nhắc lại bổn phận quan trọng của mỗi tín hữu là tham gia vào sứ mạng truyền giáo, tùy bậc sống và hoàn cảnh của mình. Đức Thánh Cha kêu gọi chúng ta hãy lên đường. Ngài viết như sau: "Việc truyền giáo của Hội Thánh được sinh động bởi một linh đạo của việc liên tục lên đường. Chúng ta được thách thức "ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng 'ngoại vi' đang cần ánh sáng Tin Mừng" (Evangelii Gaudium, 20). Sứ mạng của Giáo Hội thúc đẩy chúng ta liên tục lữ hành qua các sa mạc khác nhau của cuộc đời, qua các trải nghiệm khác nhau của sự đói khát sự thật và công lý" (Sứ điệp ngày thế giới truyền giáo 2017, số 6).

Chúa Giêsu là "Người rao giảng Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất" (Đức Phaolô VI, Tông huấn Loan báo Tin Mừng, số 7). Hôm nay, Người tiếp tục sai chúng ta vào lòng thế giới: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" (Mt 28, 19). Ước gì mỗi chúng ta đừng quên bổn phận cao quý ấy, để làm cho hình ảnh của Chúa tỏa sáng giữa thế gian. Amen.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXVIII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 10-13-2017, 05:51 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Mặc Áo Cưới

Với tình thương yêu, Thiên Chúa dọn tiệc mời.

Đọc dụ ngôn tiệc cưới, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước tình yêu thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa mời con người đến dự tiệc cưới Con của Người. Điều đó chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương con người.

Đó là một tình yêu nhưng không.

Thiên Chúa là vị vua cao sang. Ta chỉ là đám tiện dân hèn hạ. Sao Chúa lại mời ta. Theo lẽ thường ở đời người ta chỉ mời những người ngang vai bằng vế. Một bữa tiệc thường có mục đích củng cố uy tín của chủ nhân và ràng buộc khách mời vị vọng để khi hữu sự cần nhờ. Vua Trời mời tiện dân hèn hạ thì có lợi gì. Không những hèn hạ mà còn đui, què, mẻ, sứt nữa. Ta là những hạng rác rưởi của xã hội, chẳng có gì đền đáp cho chủ nhân. Chẳng đem lại một chút vinh dự nào cho chủ nhân. Thế mà Người vẫn mời ta. Rõ ràng là do tình thương của Người. Đó là tình yêu nhưng không. Người không mong ta có gì đền đáp. Người mời ta chỉ vì yêu thương ta mà thôi.

Đó là tình yêu chia sẻ.

Thiên Chúa tràn đầy vinh quang không còn thiếu thốn gì. Tại sao Người còn mời những con người hèn hạ vào Nước Trời làm gì cho thêm bận. Thưa vì Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Người vô biên nên Người khao khát chia sẻ. Người vô cùng tốt lành nên Người muốn thông ban hạnh phúc cho loài người. Tình yêu mãnh liệt khiến người nảy sinh những sáng kiến kỳ diệu. Cho Con Một mặc lấy bản tình loài người để nâng loài người lên. Mời gọi loài người vào hưởng hạnh phúc với Người. Nâng loài người hèn hạ lên bậc thượng khách trong tiệc cưới. Nâng loài người tôi tớ lên hàng con cái trong Nước Trời. Đưa nhân loại bơ vơ đầu đường xó chợ vào ngồi đồng bàn với hàng thần thánh trên trời.

Chẳng có gì có thể giải thích được thái độ của Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu. Đó là một tình yêu vô cùng mãnh liệt và hoàn toàn vô vị lợi. Tình yêu muốn chia sẻ hết những gì mình có. Tình yêu hoàn toàn vì người mình yêu. Mong muốn mọi sự tốt đẹp cho người mình yêu.

Tôi phải mặc áo cưới tới dự.

Tình yêu Thiên Chúa tha thiết nhưng vẫn tôn trọng tự do. Trước lời mời gọi của Thiên Chúa, tôi có thể nhận lời hoặc chối từ. Khi dọn tiệc, Chúa mong tôi tới dự. Khi mở rộng cửa trời, Chúa mong tôi bước vào. Khi mời gọi, Chúa mong tôi trả lời. Khi bày tỏ tình yêu, Chúa mong tôi đền đáp. Tuy nhiên, nhận lời đền đáp đòi phải có điều kiện. Đến dự tiệc cưới phải mặc áo cưới.

Mặc áo cưới là mặc lấy nhân phẩm. Được mời vào dự tiệc cưới Con Vua, tôi không còn là phường rác rưởi của xã hội nữa. Tôi đã được Chúa trân trọng. Nâng lên hàng thượng khách, là khách mời của Vua. Mặc áo cưới ở đây là tự trọng, cư xử như người tự do. Chúa đã phục hồi nhân phẩm cho tôi, tôi phải trân trọng giữ gìn.

Mặc áo cưới là mặc lấy tình yêu. Vì yêu thương Chúa đã mời tôi vào chung hưởng hạnh phúc với Người trong tiệc cưới. Đáp lại, tôi phải có tình yêu mến đối với Người. Tình yêu đáp đền tình yêu. Mặc áo cưới là trân trọng tình yêu của Chúa, là muốn đáp lại tình yêu của Chúa.

Mặc áo cưới là mặc lấy Chúa Kitô (x. Gl 3, 27). Được ơn cứu độ, ta trở thành em Chúa Kitô, vì thế ta phải noi gương Người mặc lấy tâm tình người con được Cha yêu thương và biết lấy tâm tình hiếu thảo đáp lại tình Cha. Mặc lấy Chúa Kitô cũng là mặc lấy con người mới là hình ảnh của Thiên Chúa công chính và thánh thiện (x. Ep 4, 24).

Thiên Chúa yêu thương mời gọi ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời. Đáp lại, ta phải đổi mới đời sống cho phù hợp với Nước Chúa, với tình yêu của Chúa và với địa vị mới của ta.

Lạy Chúa, xin cho con biết mạnh dạn đáp lại lời Chúa mời gọi.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Hằng ngày Chúa vẫn mời gọi tôi đến dự tiệc Thánh Thể, tôi có mau mắn đáp lời hay tôi thường từ chối?
  2. Mặc áo cưới là theo Chúa quyết liệt, không nửa vời tôi theo đạo nhưng tôi có thực hành Lời Chúa không?
  3. Bạn phải làm những gì để được coi là "mặc áo cưới"?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Lời Mời Của Chúa

Chúng ta tìm thấy ý nghĩa của hình ảnh tiệc cưới trong Tin Mừng: đó là lời mời gọi tin vào Chúa và đón nhận giáo huấn của Người. Đây cũng là lời mời gọi gia nhập cộng đoàn tín hữu, tức là Giáo Hội, để sống tình huynh đệ thân thương.

Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy Lời Chúa trong mấy Chúa nhật liên tiếp đều mang nội dung những lời mời. Người mời có thể là một vị vua (tiệc cưới hoàng tử), một ông chủ (mướn thợ làm vườn nho), hay đơn giản là một người cha (sai con đi làm). Những lời mời này không bó buộc khắt khe. Người được mời có thể đồng ý, có thể chối từ.

Thông thường, mời ai là thể hiện tình cảm và sự trân trọng đối với người đó. "Lời chào cao hơn mâm cỗ" như Ông Bà ta thường nói. Vì thế, người được mời cần tế nhị trong thái độ đáp lại, nhất là khi chủ thể của lời mời là một nhân vật quan trọng. Lời Chúa hôm nay cũng nói đến một lời mời, và là lời mời dự tiệc. Tuy vậy, những bữa tiệc này hoàn toàn khác với những bữa tiệc chúng ta chứng kiến hằng ngày.

Bài đọc I, ngôn sứ Isaia hướng tới một bữa tiệc trong tương lai, vào ngày Thiên Chúa can thiệp và ban ơn cứu độ. Đó sẽ là ngày vui mừng. Tang chế và sự chết không còn nữa. Đau khổ cũng chấm dứt. Đây là bữa tiệc do chính Thiên Chúa khoản đãi và ở trên núi cao. Độc giả người Do Thái dễ dàng hiểu, đây là ám chỉ hạnh phúc đời đời Chúa dành cho người công chính. Đó sẽ là khởi đầu của một cuộc sống mới trong Thiên Chúa.

Nếu bữa tiệc Ngôn sứ Isaia nhắc tới diễn tả với chúng ta về hạnh phúc Nước Trời trong tương lai, thì hình ảnh của bữa tiệc trong Tin Mừng lại quy hướng chúng ta về hiện tại. Vị vua là nhân vật chính trong câu chuyện xem ra có vẻ khác người. Ông quá dễ dãi trong việc mời thực khách, nhưng lại quá khắt khe trong trang phục của họ. Một điều lạ nữa ở thái độ của một số thực khách được mời. Phản ứng và cách hành xử của họ làm chúng ta ngỡ ngàng. Họ coi nhẹ lời mời của ông, thậm chí còn bắt đầy tớ, nhục mạ rồi giết chết. Vị vua là người dễ dãi quảng đại là thế, nhưng cũng không chịu nổi thái độ của những người này, nên đã nổi giận trước sự khước từ và thái độ gian ác của họ.. Ông đã lệnh cho đầy tớ đi ‘lùa" vào bàn tiệc tất cả những ai họ gặp ngoài đường và phố chợ. Lúc này xem ra không còn phải lựa chọn thực khách, mà ai cũng được mời đến thưởng thức một bữa tiệc thịnh soạn đã chuẩn bị sẵn sàng.

CN 28 TN A Chúng ta đừng quên bối cảnh của đoạn Tin Mừng trên đây: câu chuyện ông vua mở tiệc cưới cho hoàng tử được đặt vào thời điểm một số người Do Thái đang chống đối Chúa Giêsu một cách kịch liệt, vì Chúa đuổi người buôn ra khỏi Đền Thờ. Chúa cũng khiển trách mưu mô và sự cứng lòng tin của họ. Câu chuyện vườn nho và những tá điền bất lương (Mt 21, 33-42) đã diễn tả quá rõ thái độ của những luật sĩ và biệt phái.

Như thế, chúng ta tìm thấy ý nghĩa của hình ảnh tiệc cưới trong Tin Mừng: đó là lời mời gọi tin vào Chúa và đón nhận giáo huấn của Người. Đây cũng là lời mời gọi gia nhập cộng đoàn tín hữu, tức là Giáo Hội, để sống tình huynh đệ thân thương. Quả vậy, Giáo Hội là một gia đình, luôn mở rộng cửa để đón tất cả mọi người không phân biệt. Đây không phải là sự ép buộc, mua chuộc hay lợi dụng, nhưng mọi người đều hoàn toàn tự do trước lời mời này. Ông vua mời dự tiệc cưới cũng như người gieo giống, rất kiên trì và quảng đại, để tùy vào sự đáp trả tự do của con người. Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã đề cập tới phản ứng khác nhau của những khách được mời. Đó cũng là thái độ của con người trước lời mời gọi của Chúa. Một khi đón nhận giáo huấn của Người phải can đảm từ bỏ lối sống cũ không phù hợp, nên nhiều người kiếm cớ để chối từ. Khi nói đến trường hợp người được mời hành hạ và giết đầy tớ của vua, phải chăng Đức Giêsu muốn nhắc tới chính cái chết của Người. Người là Con Thiên Chúa, Đấng đến trần gian đề mời gọi nhân loại chia sẻ vinh quang và sự thánh thiện của Chúa, nhưng đã bị bạc đãi và giết chết.

Cần lưu ý, dù người ta đón nhận Chúa hay chối từ Người, thì vào thời điểm cuối cùng của lịch sử, họ cũng phải trình diện trước nhan Người để chịu phán xét. Đó là ý nghĩa lời phê phán của vị vua chủ tiệc, khi thấy một thực khách dự tiệc mà không mặc áo cưới. Nếu ông quảng đại rộng rãi trong việc đãi tiệc, thì lại khắt khe trong việc y phục của thực khách. Việc quảng đại đãi tiệc là việc của Chúa, việc chuẩn bị cho xứng hợp là bổn phận về phía con người. Đến ngày phán xét, mỗi người phải mang trách nhiệm về cách hành xử và thái độ của mình đối với Chúa và đối với tha nhân.

Hình ảnh bữa tiệc giúp người tín hữu kiên vững trong đức tin, mặc dù phải trải qua muôn vàn thử thách. Thánh Phaolô là một ví dụ điển hình. Đối với thánh nhân, thử thách, gian nan và thiếu thốn không quan trọng, vì ngày xác tín rằng Thiên Chúa là Đấng sẽ chu cấp dư dật cho những ai biết quảng đại cho đi (Bài đọc II).

Lời Chúa hôm nay vừa phê phán những người được mời trân trọng mà lại chối từ, vừa khẳng định: những ai được mời ồ ạt sau này cũng phải có điều kiện cần thiết để dự tiệc. Mặc dù lời mời gọi của Chúa được gửi đến hết thảy mọi người, Nước trời không phải một thứ "dồn toa" tổng hợp ai cũng được vào, nhưng là nơi dành cho những ai thiện chí thực thi Lời Chúa và bền tâm mến Chúa yêu người.

Bữa tiệc tương lai (Bài đọc I) và bữa tiệc hiện tại (Bài Tin Mừng) không phải là một ảo tưởng hoang đường nhằm ru ngủ chúng ta trước thực tại của cuộc sống. Đó chính là niềm hy vọng giúp ta vững bước, đồng thời nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện giữa cuộc đời. Ngài không ngừng mời gọi chúng ta hãy sống thánh thiện và nhân ái, để chuẩn bị cho hạnh phúc vĩnh cửu, là bữa tiệc đời đời Chúa dành cho những ai trung tín với Ngài.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXVII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 10-06-2017, 05:53 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Câu Chuyện Vườn Nho, Câu Chuyện Đời Ta

Vườn nho là một hình ảnh quen thuộc đối với người Do Thái. Chúa đã dùng hình ảnh quen thuộc này để thính giả dễ hiểu điều Chúa nói về Nước Trời. Ý nghĩa dụ ngôn này như sau. Thiên Chúa là chủ vườn nho. Vườn nho thoạt tiên được dùng để chỉ dân Do Thái. Dân Do Thái được Chúa chọn là dân riêng. Lịch sử dân Do Thái là lịch sử tình yêu thương của Chúa. Vì yêu thương Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì yêu thương Chúa đã dành sẵn cho họ một đất nước. Vì yêu thương Chúa bảo vệ họ khỏi sự quấy phá của các nước lân bang. Vì yêu thương Chúa đã sai khiến các tiên tri đến dạy dỗ họ. Quả thật dân Do Thái là một vườn nho được Chúa trồng, chăm sóc từng li từng tí. Từ rào dậu chung quanh đến xây tháp canh giữ. Từ xây bồn ép nho đến tưới bón cắt tỉa. Nhưng sự thương yêu của Chúa được đáp lại bằng sự phản bội. Người Do Thái không công nhận quyền làm chủ của Chúa. Họ giết các tiên tri được sai đến dạy dỗ họ. Họ còn giết cả Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa để chiếm lấy vườn nho làm của riêng họ. Nhưng họ có biết đâu rằng nếu để Chúa là chủ thì vườn nho còn được bảo vệ, được chăm sóc và họ còn được hưởng hoa lợi. Nhưng từ chối quyền làm chủ của Chúa, vườn nho rơi vào cảnh hoang tàn, đổ nát, không còn hoa trái. Và vì thế cuộc đời họ cũng bị diệt vong.

Câu chuyện vườn nho không chỉ nói với người Do Thái mà còn nói với tất cả chúng ta, đặc biệt các sinh viên học sinh nhân dịp đầu năm học mới. Sinh viên học sinh là những cây nho được Chúa ưu ái trồng trong vườn nho của Chúa. Vườn nho đó là Nước Chúa, là Giáo Hội, là gia đình, là trường học. Các cháu thiếu nhi, các bạn thanh niên, học sinh, sinh viên trẻ trung là những cây nho non mơn mởn được Chúa chăm sóc tưới bón trong tình thương bao la của cha mẹ, trong sự tận tâm của thày cô giáo, trong sự nhiệt thành quên mình của các linh mục, tu sĩ nam nữ. Chúa đặt lương tâm như tháp canh để cảnh báo những nguy cơ đe dọa tàn phá vườn nho. Để ngăn chặn thú dữ tàn phá, trẻ con nghịch ngơm, kẻ thù quấy phá, Chúa cẩn thận rào dậu vườn nho. Rào dậu là đặt ra những quy tắc luật lệ. Kỷ luật là phên dậu vững chắc bảo vệ những cây nho còn non yếu, bảo vệ hoa lợi khỏi kẻ thù đến phá hoại. Kỷ luật giúp bảo vệ cuộc đời của các con. Không chỉ bảo vệ sự sống mà còn tất cả những hoa trái tốt đẹp của sự sống. Bảo vệ tương lai của các con. Chúa xây bồn ép nho. Bồn ép nho là nơi làm việc. Quả nho phải trải qua quá trình ép, lọc, ủ mới lên men thành thứ rượu nho thơm lừng làm đẹp cho xã hội. Cũng vậy các con phải lao động vất vả qua nhiều công đoạn mới trở nên hữu ích cho Giáo Hội và cho xã hội. Có thể nói cuộc đời của mỗi người các con là một kỳ quan về tình yêu thương của Chúa. Chúa tạo dựng nên các con để các con được hạnh phúc. Chúa đã định sẵn cho các con một định mệnh tốt đẹp cao quý trong thánh ý Chúa.

Tiếc là có nhiều người không hiểu được điều đó, nên đã chối bỏ quyền Chúa làm chủ đời mình. Vì xua đuổi Chúa nên ma quỷ đã xâm nhập cuộc đời họ. Có nhiều người đã bỏ tháp canh lương tâm nên không còn tỉnh thức trước những nguy cơ đe dọa tàn phá sự sống. Có nhiều người đã phá đổ những phên dậu kỷ luật, biến vườn nho tâm hồn thành bãi đất hoang mặc cho mọi người chà đạp, tàn phá. Có nhiều người đã bỏ quên bồn ép nho, không chịu làm việc, chỉ rong chơi ngày tháng nên cả cuộc đời tiêu tốn biết bao sự thương yêu, tiền bạc, công sức của cha mẹ, thày cô giáo, các bề trên trong Giáo Hội mà không sinh được hoa trái gì cho cuộc đời.

Các con, sinh viên học sinh thân mến,

Đầu năm học mới là dịp các con chỉnh đốn lại vườn nho tâm hồn các con. Hãy để Chúa làm chủ cuộc đời các con. Hãy tin tưởng định mệnh Chúa dành cho các con là định mệnh tốt đẹp nhất. Tương lai Chúa dọn sẵn cho các con là tương lai tươi sáng không gì có thể so sánh được. Hãy đón nhận tình yêu thương của cha mẹ, thày cô giáo, và các bề trên trong Giáo Hội. Tình yêu thương chăm sóc của các ngài là nước mát tưới cho cây đời các con xanh tươi. Hãy tuân theo sự hướng dẫn của tháp canh lương tâm để các con biết phân biệt thật giả, trắng đen, thiện ác giữa lúc vàng thau lẫn lộn, biết chọn lựa con đường tốt đẹp cho tương lai. Hãy sống theo sự hướng dẫn của luật lệ, luật xã hội, luật học đường, luật sự sống, luật Giáo Hội. Đó chính là cách tự bảo vệ trước những lực lượng xấu, trước những cơn cám dỗ ngọt ngào đang rình chờ trói chặt những cuộc đời ẻo lả, mềm yếu, buông tuồng. Hãy làm việc trong bồn ép nho. Sự siêng năng chăm chỉ, lòng say mê học tập chính là chìa khóa của sự thành công.

Năm học mới là một ân huệ nhưng cũng là một trách nhiệm. Các con được ban nhiều, các con sẽ bị đòi hỏi nhiều. Năm học mới được ban tặng để các con sinh lợi. Sinh lợi để xứng đáng với tình thương của Chúa. Sinh lợi để xứng đáng với xã hội, quê hương đất nước. Sinh lợi chính là thăng tiến bản thân, làm lợi cho chính các con trước hết.

Xin Chúa ban phúc lành cho năm học mới để các thày cô giáo, các học sinh sinh viên thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp, góp phần thăng tiến bản thân, gia đình, Giáo Hội và xã hội. Amen..

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Chúa đã ban cho bạn sự sống và còn đặt biết bao người, biết bao phương tiện, hoàn cảnh để nuôi dưỡng và phát triển sự sống đó. Bạn có nhận biết điều này không?
  2. Bạn có nhìn nhận Chúa làm chủ đời mình và có thái độ xứng hợp không?
  3. Phát triển là một trách nhiệm. Bạn có chu toàn trách nhiệm đó không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Mẹ Đầy Ơn Phúc

Khi chào kính Đức Mẹ là đấng "đầy ơn phúc", Sứ thần còn muốn diễn tả vinh dự cao cả của Mẹ, là được Chúa chọn làm người cộng sự trong công cuộc nhập thể và cứu độ trần gian.

Trong tâm trạng hân hoan vui mừng và cảm nhận rõ nét những điều kỳ diệu Chúa đã làm cho mình, Đức Maria đã thốt lên: "Từ nay, muôn thế hệ sẽ khen tôi có phúc!". Lời ca có tính tiên tri ấy đã được thực hiện. Quả vậy, hai ngàn năm nay, những tín hữu công giáo khắp năm châu đều tôn vinh Đức Mẹ là "Đấng đầy ơn phúc". Không dừng lại ở những lời ca tụng, mà Đức Mẹ còn được tôn vinh qua những nhạc phẩm và những tác phẩm nghệ thuật bất hủ. Mẹ là đề tài gợi hứng cho biết bao danh họa và nghệ sĩ, nhạc sĩ. Họ đã dốc hết tâm huyết của mình để làm nên những tác phẩm để đời, nhằm tôn vinh thiên chức cao cả và nét đẹp siêu nhiên của Đức Mẹ.

"Mẹ đầy ơn phúc". Đó không phải chỉ là lời ca tụng của con người, mà còn là lời chào của sứ thần Gabrien, đại diện của Thiên Chúa. Đó là lời chào từ trời cao, ngỏ với một thiếu nữ đơn sơ đạo hạnh quê ở thành Nagiarét. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu gọi những ai nghèo khó, khiêm nhường, thật thà, bao dung, đạo đức và sẵn sàng chịu bách hại vì chính Đạo là những "người có phúc", hoặc là những "người được chúc phúc". Nhưng đối với Đức Trinh nữ Maria, lời chào của Sứ thần lại ca tụng Mẹ là người "đầy ơn phúc". Lời chào này diễn tả phúc lộc viên mãn nơi Đức Mẹ. Phúc lộc ấy, vừa là ơn ban từ trời, vừa là do lòng yêu mến và vâng phục của Mẹ đối với Chúa. Khi chào kính Đức Mẹ là đấng "đầy ơn phúc", Sứ thần còn muốn diễn tả vinh dự cao cả của Mẹ, là được Chúa chọn làm người cộng sự trong công cuộc nhập thể và cứu độ trần gian.

"Em thật có phúc vì em đã tin rằng những gì Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện". Đó là lời khen ngợi của Bà Elisabeth dành cho Đức Maria. Mẹ có phúc vì Mẹ đã tin. Như vậy, bất luận là ai, hễ ai tin vào Chúa, thì được kể như người có phúc. "Phúc cho ai không thấy mà có lòng tin" Chúa Giêsu phục sinh đã phán với tông đồ Tôma như vậy.

Trong ngày lễ Mân Côi, cũng như trong tháng Mười dâng kính Đức Mẹ, chúng ta lặp lại lời chào trân trọng "Kính mừng Maria đầy ơn phúc" để tôn vinh Mẹ Thiên Chúa. Cùng với kinh Kính Mừng, chúng ta lần một hạt trong tràng chuỗi Mân Côi. Mỗi hạt trong chuỗi Mân Côi cũng là tượng trưng cho mỗi bước đường đời dương thế của chúng ta, bao gồm hạnh phúc, đau khổ, nước mắt, nụ cười. Mỗi hạt trong tràng chuỗi Mân Côi cũng đưa ta đi theo từng bước đường của Chúa Giêsu, Đấng Cứu thế, để chiêm ngắm và đón nhận giáo huấn của Người. Quả vậy, kinh Mân Côi là Tin Mừng thu gọn, phác họa cuộc đời Chúa Cứu thế, từ khi Người nhập thể đến khi chịu nạn chịu chết, phục sinh vinh quang và lên trời hiển vinh. Khi suy ngắm cuộc đời Chúa Cứu thế, chúng ta xin Người ban sức mạnh để chúng ta vươn lên giữa những khó khăn thử thách và phong ba bão táp của cuộc đời. Suy ngắm cuộc đời Chúa cũng giúp chúng ta trở nên giống như Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

"Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Sứ thần truyền". Đây chính là nét đẹp của Đức Mẹ. Với lời thưa "xin vâng", Mẹ hoàn toàn tuân theo ý Chúa. Mẹ chấp nhận những gian nan, miễn là ý Chúa được thực hiện. Lời thưa của Mẹ là mẫu mực cho cuộc đời người tín hữu chúng ta. Vâng theo ý Chúa, cộng tác với Ngài, đó là ơn gọi của người Kitô hữu. Ý của Chúa là con người sống thánh thiện ngay lành và đoàn kết yêu thương vì đều là anh chị em với nhau.

Khi tôn vinh Đức Trinh nữ Maria, chúng ta bày tỏ niềm xác tín vào tình thương yêu bao bọc của Đức Mẹ đối với các Kitô hữu. Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại sự hiện diện của Đức Mẹ giữa các môn đệ, vào lúc các ông đang lo sợ. Mẹ đã chung lời cầu nguyện với các ông. Vào lúc Chúa Thánh Thần hiện xuống, Mẹ đã chung niềm vui với các ông và cùng đón nhận sức mạnh từ trời (Bài đọc I). Hai ngàn năm đã qua, Mẹ vẫn tiếp tục hiện diện giữa Giáo Hội, để đồng hành che chở và khích lệ các Kitô hữu là những người em của Chúa Giêsu, Con của Mẹ. Hãy nhận ra sự hiện diện đầy yêu thương ấy để vững niềm tin tưởng phó thác nơi Đức Mẹ. Trong kinh "Hãy nhớ", chúng ta đọc "Xin hãy nhớ xưa nay chưa từng có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ xin bầu chữa cứu giúp, mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời". Lời kinh này là một chứng từ về hiệu quả do lời cầu bầu của Đức Mẹ. Lời kinh này cũng giúp chúng ta cậy tin và phó thác nơi Đức Mẹ, kể cả những lúc gian nan thử thách giữa biển đời trần gian.

Lạy Mẹ Mân Côi, xin cầu cho chúng con!

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXVI Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 09-28-2017, 05:19 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Sám Hối Là Khởi Điểm

Nói và làm đó là hai thái độ khác nhau. Có người nói mà không làm. Có người không nói nhưng lại làm. Đó chính là hai thái độ mà Chúa đề cập đến trong bài dụ ngôn hôm nay. Hạng người nói mà không làm đó là những người biệt phái và luật sĩ. Họ tự cho là mình đạo đức, nhưng khi Chúa Giêsu rao giảng, họ không những không tin mà còn phê phán chỉ trích những người tin Chúa, chỉ trích chính Chúa đã đón tiếp người tội lỗi. Hạng người không nói mà làm đó là những người thu thuế và những người tội lỗi. Tuy sống tội lỗi, nhưng khi nghe Chúa rao giảng, họ đã ăn năn sám hối và tin vào Chúa. Qua dụ ngôn này Chúa muốn dạy ta những bài học sau.

Bài học thứ nhất: Việc làm trọng hơn lời nói. Trong đời sống, chúng ta gặp không ít những người nói hay, nói nhiều, nhưng làm chẳng bao nhiêu. Tục ngữ Việt Nam có câu "Mười voi không được bát nước sáo" là thế. Nhưng trái lại có những người không nói giỏi, có khi không nói gì cả, nhưng lại làm rất nhiều. Nhất thời ta có thể thích những người nói hay. Nhưng sống càng lâu, ta càng mến những người nói ít làm nhiều. Trong đời sống thiêng liêng cũng thế. Chúa yêu chuộng những người làm việc hơn là những người chỉ biết nói suông. Có lần Chúa đã vạch rõ những giả dối này: "Không phải những ai nói rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Cha Ta trên trời" (Mt 7, 21). Đức tin phải biểu lộ bằng việc làm mới là đức tin sống động. Như thánh Giacôbê dạy: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2, 17). Tình yêu cũng phải có việc làm. Việc làm minh chứng tình yêu đích thực. Tin yêu Chúa phải được biểu lộ bằng việc làm.

Bài học thứ hai: Con người có thể thay đổi. Con người còn sống ở trần gian là còn thay đổi. Đó là một điều ta phải cảnh giác. Biết đâu ta đang tốt bỗng trở nên xấu. Cũng như các biệt phái và luật sĩ tự hào mình tốt, nhưng khi Chúa Giêsu đến, họ đã trở nên xấu vì không tin vào Chúa, không hoán cải đời sống. Con người có thể thay đổi. Đó là điều làm cho chúng ta hy vọng. Vì nếu ta tội lỗi yếu hèn, ta vẫn có cơ hội ăn năn trở lại. Ta không bị kết án trong tội lỗi của ta. Chúa còn cho ta có thời giờ trở lại với Chúa. Miễn là ta nhận biết mình và quyết tâm đổi mới cuộc đời.

Bài học thứ ba: Sám hối là việc cần thiết của mọi người. Đã là người ai cũng có sai lầm. Vì con người yếu đuối bất toàn. Chúa không đòi ta phải hoàn hảo không bao giờ sai lỗi. Nhưng Chúa đòi ta mỗi khi sai lỗi phải biết sám hối ăn năn. Sám hối thật cần thiết vì có sám hối ta mới được Chúa thứ tha. Chúa yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho những tâm hồn sám hối như lời Thánh Vịnh: "Một tấm lòng tan nát dày vò, Chúa sẽ chẳng khinh chê" (Tv 50). Ta hãy xem Chúa đã tha thứ cho bà Mađalena. Nhất là Chúa đã tha thứ cho người trộm lành, để thấy Chúa nhân từ thương xót biết bao. Nhưng Chúa lại chê ghét những tâm hồn kiêu căng cứng cỏi không chịu ăn năn sám hối. Trong Phúc Âm ta thấy Chúa chỉ mắng nhiếc những người tự xưng mình đạo đức nên kiêu căng khinh miệt người khác và không nghe lời Chúa. Nhưng Chúa luôn nhân từ, khoan dung, tha thứ cho những tội lỗi thật lòng ăn năn. Sám hối thật cần thiết vì tất cả chúng ta ai cũng có lầm lỗi trước mặt Chúa, cần được Chúa khoan hồng thứ tha. Sám hối thật cần thiết vì đó là khởi điểm để nên tốt, nên thánh thiện. Có sám hối ta mới biết từ bỏ nếp sống cũ. Có sám hối ta mới bắt đầu một nếp sống mới đẹp lòng Chúa.

Như thế, ta đừng chỉ nói suông mà không làm, nhưng hãy biết thực hành điều Chúa dạy. Ta đừng tự hào vì mình tốt lành mà phê bình chỉ trích người khác. Hãy tự xét mình để thấy mình tội lỗi. Và khi biết mình tội lỗi, hãy ăn năn sám hối ngay. Có sám hối ta sẽ được Chúa tha thứ. Có sám hối sẽ được anh chị em yêu thương. Nhất là có sám hối ta mới khởi sự tiến lên trên con đường thánh thiện.

Lạy Chúa xin tha thứ tội con đã phạm đến Chúa và đến anh em. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Nói và làm, việc nào cần hơn và tốt hơn?
  2. Có nhiều chương trình tốt đẹp nhưng không thực hiện, có ích gì không?
  3. Biết nhận lỗi, xin lỗi và sửa lỗi. Điều này đáng trọng hay đáng chê trách?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Thực Thi ý Chúa

Thực thi những giáo huấn của Chúa là thi hành Thánh ý của Ngài. Ai thi hành ý Chúa sẽ được hạnh phúc lâu bền. Ai làm điều gian ác, tức là đi ngược lại ý Chúa, sẽ bất hạnh ngàn thu. Tác giả Thánh vịnh đã diễn tả niềm vui của những ai tuân hành Thánh ý Chúa: "Tuân theo Thánh ý Ngài, con vui sướng hơn được tiền rừng bạc bể". (Tv 119,14).

Ý muốn của Thiên Chúa rất cao siêu huyền nhiệm và thường được gọi là "Thánh ý". Thiên Chúa chỉ muốn những điều tốt lành cho con người, như bản chất của Ngài là tốt lành. Vì ý muốn của Chúa là muốn cho con người làm điều thiện để họ được hạnh phúc, nên mỗi khi chúng ta làm những điều tốt lành là chúng ta thực thi ý Chúa.

Ngôn sứ Êdêkien (khoảng thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên) đã diễn tả ý Chúa qua lời giảng dạy của ông. Qua đó, Thiên Chúa kêu gọi người tội lỗi hãy từ bỏ con đường bất chính mà trở về phục thiện. Ngài cũng khẳng định: mỗi người phải gánh trách nhiệm về lối sống của mình, đừng nương nhờ vào công phúc của người khác, cũng đừng ỷ thế mà đổ lỗi cho các thế hệ tiền nhân. Thực thi những giáo huấn của Chúa là thi hành Thánh ý của Ngài. Ai thi hành ý Chúa sẽ được hạnh phúc lâu bền. Ai làm điều gian ác, tức là đi ngược lại ý Chúa, sẽ bất hạnh ngàn thu. Tác giả Thánh vịnh đã diễn tả niềm vui của những ai tuân hành Thánh ý Chúa: "Tuân theo Thánh ý Ngài, con vui sướng hơn được tiền rừng bạc bể". (Tv 119,14).

Làm thế nào để nhận ra Thánh ý Chúa trong đời sống chúng ta: trong câu chuyện về hai người con, Đức Giêsu đã chứng minh cho thấy thực thi ý Chúa phải thể hiện qua việc làm cụ thể, chứ không bằng lời nói suông. Hai người con tượng trưng cho hai lối sống khác nhau: người con thứ hai ngoài miệng nói sẵn sàng, nhưng lại không làm điều cha mình chỉ dạy; người con thứ nhất ban đầu từ chối, nhưng sau đó lại đi làm theo ý cha. Xem ra cả hai cách xử sự của hai người con đều cần phải điều chỉnh: người con lớn từ chối lời đề nghị của cha mình cho thấy thiếu thiện chí đón nhận lời dạy bảo của cha. Mặc dù sau đó anh có đi làm, nhưng việc khước từ lời cha chắc chắn làm cha anh buồn. Người con thứ hai lại càng đáng trách hơn nữa, bởi vì anh chỉ nói cho cha vui lòng, mà thực tâm thì không thực hành ý cha. Chúng ta dễ dàng nhận ra người cha là hình ảnh của Thiên Chúa. Ngài luôn muốn chúng ta làm những việc tốt lành, để đem lại ích lợi cho bản thân và cho cộng đoàn xã hội. Tuy vậy, trước ý muốn của Ngài, chúng ta thường xử sự theo sự ích kỷ hẹp hòi, tính toán thiệt hơn để né tránh những gì Ngài muốn.

Qua hình ảnh hai người con, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta thận trọng trong cách nhận định về một con người hay một sự việc. Dưới cái nhìn của xã hội, những người thu thuế và những cô gái điếm luôn bị khinh bỉ, xa lánh và lên án. Tuy vậy Chúa Giêsu lại khẳng định: có thể những người này lại được vào Nước Trời trước những người tự coi là công chính. Bởi lẽ họ chỉ nói mà không thực hiện Thánh Ý của Thiên Chúa. Chúa dạy chúng ta có cái nhìn thông cảm, bao dung và thận trọng hơn đối với anh chị em xung quanh. Bởi lẽ có những lúc cái nhìn bề ngoài và nhận định khái quát dễ làm cho chúng ta sai lầm. Những người biệt phái và luật sĩ dù khôn ngoan giỏi giang, nhưng chưa hẳn đã là những người ngay chính. Để nhận định tư cách của họ, còn phải xem đời sống hằng ngày của họ ra sao, họ có thực hành đức công bình mà họ vẫn rao giảng hay không, đó mới là điều quan trọng. Một người có quá khứ tội lỗi, nhưng thành tâm thiện chí ăn năn hối cải, thì họ được Chúa tha thứ. Trong cuộc sống, vì có một quá khứ nghiện ngập, tù đầy khi muốn hoàn lương vẫn gặp phải những thành kiến của những người xung quanh, để rồi những người muốn làm một con người bình thường mà cũng không được. Ngôn sứ Edêkien đã truyền lại lời của Chúa: "Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu thoát mạng sống mình!". Vâng, trong cuộc đời, chúng ta còn khắt khe hơn Thiên Chúa trong việc xét đoán anh chị em mình. Đối với Chúa, không thể vin vào một quá khứ xa xưa – dù tốt lành – để biện minh cho những lỗi lầm mình đang phạm. Thiên Chúa công minh vô cùng trong xét xử. Cũng cần tỉnh táo trước một lối suy nghĩ ỷ nại vào lòng thương xót của Chúa để sống tự do bừa bãi, dựa vào lập luận Chúa tha thứ hết. Quả vậy, Chúa tha thứ hết, nhưng phía chúng ta phải sám hối ăn năn và sửa lại đời sống của mình.

Trong việc thực hành Thánh ý của Thiên Chúa, chúng ta có một mẫu gương hoàn hảo: đó là Đức Giêsu. Tác giả thư gửi tín hữu Philipphê đã giúp chúng ta chiêm ngắn dung mạo của Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể: Người tuy là thân phận Thiên Chúa mà chấp nhận mọi thiệt thòi, tự hủy mình ra không, mang lấy thân phận nô lệ và chết trên thập giá. Đức Giêsu hạ mình giống như con người phàm trần để sống gần gũi thân thiện với chúng ta, cảm thông và chia sẻ với chúng ta những buồn vui của kiếp người. Khi mời gọi chúng ta cùng nhìn lên Đức Giêsu như mẫu mực hoàn hảo, tác giả mong ước chúng ta hãy "sống thân tình và biết cảm thương nhau... Hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chi vì ganh tỵ hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác" (Bài đọc II). Những lời khuyên trên đây rất cụ thể và rất sâu sắc. Thực hiện được những điều đó là chúng ta nên giống Đức Giêsu, thi hành Thánh ý Chúa Cha.

Chúa nhật hôm nay trùng hợp với ngày 1-10 dương lịch, lễ kính Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu và ngày đầu tháng Mân Côi. Đức Trinh nữ Maria và Thánh Têrêsa là những gương mẫu cho chúng ta về việc lắng nghe và thực thi ý Chúa. Xin các ngài cầu bầu cho chúng ta.

"Lạy Chúa, xin dạy con biết Thánh ý Chúa!". Đó là một trong những lời cầu nguyện đơn sơ và ý nghĩa nhất. Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta cầu nguyện: "Xin cho ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời" (Kinh Lạy Cha). Khi chuyên tâm làm việc thiện là chúng ta góp phần làm cho ý Chúa được thể hiện, nhờ đó, vinh quang Chúa được chiếu tỏa trong cuộc đời và hạnh phúc được lan rộng giữa thế gian.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXV Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 09-22-2017, 04:11 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Lý Lẽ Của Trái Tim

Khi nghe dụ ngôn này có nhiều người thắc mắc: Chúa có công bằng không khi ban thưởng cho người làm ít cũng bằng người làm nhiều? Hỏi như thế là chưa hiểu rằng đây chỉ là một dụ ngôn. Dụ ngôn không phải là một chuyện có thật. Nhưng chỉ là một câu chuyện dùng làm hình ảnh để giải nghĩa giáo lý của Chúa. Trong dụ ngôn, Chúa không có ý dạy về những kiến thức trần gian, nhưng muốn nói về những chân lý Nước Trời. Những bài học mà Chúa muốn dạy ta qua dụ ngôn 'Người thợ làm vườn nho giờ thứ mười một' này là:

1. Chúa yêu thương hết mọi người và mong muốn mọi người được ơn cứu độ. Vườn nho tượng trưng cho Nước Chúa. Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Người được thuê là người được mời gọi vào Nước Chúa. Tiền lương là sự sống trong Nước Chúa. Hình ảnh ông chủ ngày ngày ra chợ tìm thuê thợ là hình ảnh của Chúa yêu thương. Không phải ta đi tìm Chúa, nhưng chính Chúa đi tìm ta. Không phải tìm một lần mà tìm suốt ngày, từ giờ này sang giờ khác. Nếu những người được thuê vào buổi sáng sớm tượng trưng cho những người có số phận may mắn, có khả năng hơn người, thì những người được thuê vào cuối ngày tượng trưng cho những người kém may mắn, kém khả năng, bị thiệt thòi trong xã hội. Việc Chúa thuê hết mọi người từ sáng sớm cho đến chiều tà, từ người sang đến kẻ hèn, từ người tài giỏi đến những người kém cỏi, từ người khỏe mạnh đến người yếu kém, tất cả nói lên lòng yêu thương của Chúa. Chúa muốn mời gọi hết mọi người, mong muốn hết mọi người được ơn cứu độ, được hưởng hạnh phúc trong Nước Chúa.

2. Hạnh phúc Nước Trời là ân huệ Chúa ban. Nếu Chúa không kêu gọi thì không ai có thể được vào vườn nho của Chúa, được vào Nước Chúa. Nếu Chúa không ban hạnh phúc Nước Trời thì chẳng ai có thể tự mình chiếm lấy được. Việc Chúa ban thưởng cho những người được thuê mướn cuối cùng trước những người được thuê mướn đầu tiên làm nổi bật chân lý này: Nước Trời là ân huệ Chúa ban. Ân huệ phát xuất từ tình thương của Chúa chứ không do công đức của ta. Vì thế chẳng ai có quyền đòi hỏi. Hơn nữa, ơn Chúa ban vượt quá sức, quá lòng mong ước của ta. Hiểu biết điều này, ta sẽ không ngừng tạ ơn Chúa.

3. Chúa yêu thương và mong ta biết yêu thương như Chúa. Những người thợ làm từ sáng sớm không có gì để kêu trách Chúa về tiền lương, vì đã được thỏa thuận từ trước. Họ chỉ kêu trách vì thấy người làm ít cũng được như mình. Họ kêu trách lòng nhân từ của Chúa. Đó là điều vô lý. Và Chúa đã nêu rõ điểm vô lý đó: Tại sao kêu trách vì tôi tốt bụng? Phần mình đã được rồi, tại sao không vui mừng vì những anh em kém cỏi, kém may mắn cũng được ân huệ vào phút chót. Qua điều này Chúa muốn dạy ta hãy biết yêu thương những người kém cỏi, bé nhỏ, nghèo hèn. Một xã hội muốn tốt đẹp phải biết giúp đỡ những người bé nhỏ. Một xã hội chỉ thực sự văn minh khi biết quan tâm tới những người kém may mắn. Nếu chỉ nghĩ đến bản thân mình ta sẽ thấy cuộc đời chỉ toàn bất công. Nếu biết nghĩ đến người khác, ta sẽ thấy cuộc đời thật đẹp đẽ vì chan chứa tình người.

Qua dụ ngôn này ta thấy tư tưởng của Chúa khác hẳn tư tưởng của con người. Cách cư xử của Nước Trời khác hẳn cách cư xử của nước trần gian. Lý luận của Chúa khác hẳn lý luận của người đời. Không tìm lợi lộc cho bản thân nhưng lo tìm hạnh phúc cho người khác. Không trọng sang khinh hèn, nhưng để ý yêu thương giúp đỡ những người kém may mắn, bị bỏ rơi trong xã hội. Không dùng lý lẽ của lý trí nhưng dùng lý lẽ của con tim, một con tim luôn yêu thương, luôn mong muốn hạnh phúc cho mọi người. Chúa mong con cái Chúa cũng hãy có tư tưởng của Chúa, cư xử như Chúa và yêu thương như Chúa. Như thế mới có thể làm cho Nước Chúa mau lan rộng.

Lạy Chúa, xin cho con hiểu được đường lối Chúa và cho con luôn đi trong đường lối của Chúa. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Công bình tuyệt đối có làm cho con người hạnh phúc không, hay là còn cần tới bác ái nữa?
  2. Qua dụ ngôn này, Chúa muốn dạy tôi điều gì?
  3. Nếu bạn là người tàn tật, yếu ớt, thất bại, bạn mong chờ điều gì nơi xã hội: công bình hay bác ái?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


"Lòng Bao Dung Của Thiên Chúa và Sự ích Kỷ Của Con Người"

Chúa Giêsu đến trần gian để mạc khải cho con người tình thương bao la của Chúa Cha. Ngài thương hết mọi người và từng người, nhất là những tội nhân và những kẻ bé mọn.

Thiên Chúa không hành động nhỏ nhen như con người. Chúng ta thường có thói quen "suy bụng ra bụng của Thiên Chúa", có nghĩa là chúng ta thường gán cho Thiên Chúa những cách xử sự nơi thế giới nhân loại, cũng hận thù và tiểu nhân. Từ đó, chúng ta phàn nàn kêu trách Chúa khi đau khổ thiếu thốn. Tệ hơn, nhiều lúc chúng ta phê phán Chúa vì Ngài tốt bụng với người khác. Qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã khẳng định: "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta... Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy" (Bài đọc I). Những lời này cho thấy chúng ta phải có cái nhìn rộng lượng hơn trong cách đối xử với tha nhân, đồng thời phải thận trọng trong những suy tư về lòng bao dung của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đến trần gian để mạc khải cho con người tình thương bao la của Chúa Cha. Ngài thương hết mọi người và từng người, nhất là những tội nhân và những kẻ bé mọn. Trong khi đó, nhiều người Do Thái, đặc biệt là người Biệt phái và các luật sĩ lại ghen tỵ vì Chúa Giêsu đi lại giao du với những người tội lỗi và những hạng bần cùng. Dụ ngôn "thợ làm vườn nho" mà Chúa Giêsu kể, nhằm diễn tả lòng bao dung của Thiên Chúa và sự ích kỷ của con người. Nếu Thiên Chúa là Đấng rộng rãi bao dung, thì con người lại quá nhỏ nhen ích kỷ. Những người thợ đã làm từ đầu ngày ghen tương trước lòng tốt của ông chủ, trong khi đó, ông chủ vẫn làm đúng điều ông đã cam kết. Ông không hề làm cho họ bị thiệt hại. Họ ghen tương một cách vô lý, chỉ vì ông chủ tốt với người khác. Thái độ của những người này làm chúng ta liên tưởng đến người con cả trong dụ ngôn "Người cha nhân hậu" được Chúa nói trong Tin Mừng Thánh Luca (x. Lc 15, 25-32). Anh ghen tương và phẫn nộ vì cha mình xử tốt với đứa em khi nó đi hoang trở về. Đó cũng là thái độ của chúng ta, khi muốn Chúa phải xử theo ý muốn hẹp hòi của mình.

Khi khiếu nại và phàn nàn trách móc ông chủ, những người thợ dựa theo lý lẽ công bằng theo kiểu người đời, tức là người làm nhiều thì hưởng nhiều mà người làm ít thì hưởng ít. Tuy vậy, nơi Thiên Chúa không chỉ có công bằng, mà còn có tình thương. Đối lại với lời phàn nàn trách móc, ông chủ đã trả lời: "Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?" Qua hai câu hỏi này, ông chủ muốn phê phán những người thợ tự cho mình là đáng giá hơn người khác, để dựa vào đó mà phản đối lòng tốt của ông chủ. Người chủ vườn là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng bao dung nhân hậu. Ngài sai Con Một là Đức Giêsu đến trần gian để sống gần với họ. Điều này làm những người tự coi là "công chính" không hài lòng. Bởi lẽ, theo suy nghĩ của họ, chỉ có họ là được Chúa yêu thương. Việc Chúa Giêsu gần gũi những người thu thuế và những người tội lỗi được họ coi như một thiệt thòi đối với họ, vì thế mà họ nổi loạn và trách móc phàn nàn. Thiên Chúa yêu thương và cứu vớt những người bị đẩy ra bên lề cuộc đời. Họ là những người không ai thuê, mặc dù vào giờ thứ mười một, tức là đã xế chiều. "Không ai mướn chúng tôi!". Lời này đã diễn tả tình trạng bi đát và khốn khổ của họ. Không ai mướn, tức là ngày đó không có lương, và như thế, cả vợ con và gia đình họ cũng không có gì sống. Ông chủ vườn nho là người thấu hiểu điều đó. Vì vậy, ông trả lương cho họ giống như những người đã làm từ sáng. Đó là đồng lương của lòng nhân hậu.

Ngày hôm nay, Thiên Chúa vẫn luôn tỏ lòng nhân hậu đối với con người, không phân biệt sang giàu hay đẳng cấp xã hội. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn lương tâm: "Đâu là thái độ của tôi đối với anh chị em đồng loại?". Vì Thiên Chúa nhân hậu bao dung, nên Ngài mời gọi chúng ta hãy sám hối và bỏ đường tà, đoạn tuyệt với quá khứ, thay đổi con tim và canh tân cuộc sống: "Hãy trở về với Chúa - và Ngài sẽ xót thương, về với Thiên Chúa chúng ta vì Ngài rộng lòng tha thứ" (Bài đọc I).

Những lo toan bận tâm thường ngày không cản trở chúng ta tìm kiếm Nước Trời. "Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô" – Thánh Phaolô khuyên chúng ta như vậy. Đối với thánh nhân, sự sống hay sự chết chẳng là một điều bận tâm, vì đối với những ai yêu mến Chúa thực sự thì họ chắc chắn được lãnh nhận phần thưởng Nước Trời. Lòng mến Chúa yêu người sẽ thôi thúc chúng ta thực hiện những gì Chúa muốn: "Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo. Người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa – và Người sẽ xót thương" (Bài đọc I).

Chúa là chủ vườn nho bao dung nhân hậu. Tuy vậy, chúng ta không dựa vào lòng nhân hậu của Chúa mà trễ nải khi được mời gọi vào vườn nho của Ngài. Những người thợ được nêu trong Tin Mừng, khi được mời, đều sẵn sàng nhận lời. Vì vậy mà họ đáng được thưởng công. Vườn nho của Chúa là Giáo Hội, nơi mỗi người tìm thấy bầu khí gia đình thân thương. Vườn nho của Chúa chúng là cuộc đời, nơi chúng ta được sai đến để làm chứng cho lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Ý thức được điều này, chúng ta sẽ nhận ra giá trị của cuộc sống, nhất là niềm vinh hạnh vì được làm con cái Chúa.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXIV Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 09-14-2017, 12:29 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Tha Thứ

Thánh Gandhi nói: "Nếu áp dụng luật mắt đền mắt, thế giới sẽ chỉ toàn người mù". Sẽ không thể sống được nếu thiếu sự tha thứ. Tha thứ cần thiết cho con người như khí trời. Kể dụ ngôn hôm nay, Chúa Giêsu cho ta thấy tính cách cần thiết và cấp thiết của tha thứ.

Phải tha thứ vì con người là bất toàn. Có những xúc phạm cố ý. Nhưng rất nhiều khi xúc phạm chỉ là vô tình, thiếu ý thức. Chỉ cần một chút cảm thông, hiểu biết, tôi sẽ dễ bỏ qua, không chấp nhất. Nếu cứ mỗi lần bị xúc phạm tôi không thể nào nguôi ngoai thì chính tôi là người khổ nhất, vì tâm hồn mang nặng oán hờn sẽ không bao giờ bình an. Nếu tôi loại trừ tất cả những ai xúc phạm, thì sau cùng tôi sẽ chẳng còn sống với ai được. Tôi sẽ mất hết bạn bè. Thế giới sẽ chỉ toàn kẻ thù. Và tôi sẽ trở thành cô đơn.

Phải tha thứ vì chính ta cần được thứ tha. Tôi cần sự tha thứ của chính mình vì bản thân tôi có biết bao lầm lỗi. Nếu tôi không tự tha thứ cho mình thì lương tâm sẽ cắn rứt dày vò khiến tôi suốt đời buồn phiền. Tôi cần sự tha thứ của người khác vì tôi đã xúc phạm nhiều đến anh em. Nếu mọi người không tha thứ cho tôi thì tôi đã bị khai trừ khỏi xã hội. Tôi cần sự tha thứ của Chúa vì tôi đã lỗi phạm đến Chúa rất nhiều. Nếu Chúa thẳng tay trừng phạt những tội xúc phạm đến Người thì tôi đã chết từ lâu. Biết bản thân mình yếu đuối, nhiều lỗi lầm, cần được tha thứ, tôi sẽ dễ cảm thông tha thứ cho anh em.

Phải tha thứ vì đó là điều kiện để được thứ tha. Trong Tin Mừng, Chúa nhấn mạnh điều này rất nhiều lần. Khi dạy ta đọc kinh Lạy Cha, Chúa bắt ta phải hứa tha thứ cho anh em khi xin Người tha thứ lỗi lầm của ta. Ở cuối kinh Lạy Cha, thánh Matthêu còn thêm: "Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em" (Mt 6, 14-15).

Dụ ngôn hôm nay không những nhắc lại điều đó, mà còn cho thấy, tội ta xúc phạm đến Chúa muôn ngàn lần nặng nề hơn anh em xúc phạm đến ta. Thế mà Chúa vẫn sẵn sàng tha thứ cho ta một cách mau chóng, nhẹ nhàng, chỉ với một điều kiện là ta cũng phải tha cho anh em những lỗi lầm ít ỏi anh em xúc phạm đến ta.

Sau cùng ta cần tha thứ để trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là người Cha rất nhân từ và rất hay tha thứ. Chúa Giêsu đã khắc họa rất rõ nét chân dung nhân từ của Thiên Chúa Cha trong dụ ngôn "Người Cha nhân hậu". Và Người không ngừng mời gọi ta hãy nên hoàn thiện như Chúa Cha.

Chúa Giêsu xuống trần gian cho ta được chiêm ngưỡng khuôn mặt hiền hậu nhân từ hay tha thứ của Chúa Cha. Suốt cuộc đời trần thế, Người không ngừng tha thứ cho kẻ tội lỗi. Nhất là những kẻ đã xúc phạm đến Người. Còn cảnh tượng nào đẹp hơn cảnh tượng Người bị treo trên thập giá mà trái tim vẫn mở rộng yêu thương tha thứ. Còn lời nào đẹp hơn lời Người cầu nguyện trong lúc đau đớn tột cùng mà vẫn nhớ đến người khác, không phải nhớ đến người làm ơn mà là nhớ đến những người xúc phạm, làm hại mình: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23, 34). Và khi từ cõi chết sống lại, Người đã tha thứ cho Phêrô dù môn đệ thân tín này đã chối Người. Người đã tha thứ cho các môn đệ dù các ông đã bỏ mặc Người trong lúc gian nan.

Sự tha thứ làm nên vẻ đẹp của tâm hồn con người. Vẻ đẹp tự chế. Vẻ đẹp khoan dung. Vẻ đẹp của tâm hồn vượt lên trên chính mình. Vẻ đẹp đề cao giá trị con người.

Sự tha thứ làm nên vẻ đẹp của thế giới. Một thế giới cảm thông, chan hòa. Một thế giới chứa chan tình huynh đệ. Một thế giới mang vẻ đẹp của dung nhan Thiên Chúa.

Lạy Chúa xin thương xót chúng con.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình


Niềm Vui Của Tha Thứ

Khi tha thứ, ta mở cho người khác một con đường hướng tới tương lai. Giáo huấn Kitô giáo còn khẳng định: khi tha thứ là ta được thứ tha; khi cho đi ta sẽ nhận lãnh. Tha thứ sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui, sự thanh thản và yêu đời.

Tác giả sách Huấn ca đã diễn tả rất chính xác quan niệm và lối sống của nhiều người chúng ta trong cuộc sống đời thường: một đàng nói mình tin Chúa, đàng khác vẫn dối trá hận thù; một đàng xin Chúa tha tội, đàng khác vẫn tranh chấp nhỏ nhen; vừa ca ngợi tung hô Chúa và cầu nguyện với Ngài, vừa nói xấu vu oan cho người khác. Đó là một thứ tôn giáo hình thức, một đức tin hời hợt và một lối sống không được thấm nhuần đạo lý Tin Mừng. Một cách thức sống Đạo như thế sẽ không có tác động tích cực trong cuộc sống hằng ngày.

Con người hôm nay khó chấp nhận tha thứ cho nhau. Vì vậy mà bạo lực dối trá lan tràn, thậm chí con cái kiện cha mẹ, anh em xung đột tương tàn, vợ chồng giết hại lẫn nhau. Trong một số ngôn ngữ Âu châu, "tha thứ" có nghĩa là chấp nhận "cho người khác một ân huệ". Đó là ý nghĩa của từ "Par-don" (tiếng Pháp) hay "For-give" (tiếng Anh). Khi tha thứ, chúng ta không cho đi một món quà vật chất ở bên ngoài mình, mà cho chính con người của mình. Nói cách khác, chúng ta chấp nhận hy sinh, bị xúc phạm để bỏ qua những lầm lỗi của người khác và làm hòa với họ. Quả vậy, theo dư luận người đời, tha thứ đôi khi bị coi là hèn kém, yếu thế. Vì thế, khi chấp nhận tha thứ, cũng là chấp nhận mình hèn kém và yếu thế trước mặt người đời. Đó chính là sự "cho đi" chính danh dự và bản thân, để sống hài hòa bao dung với người khác.

Câu chuyện dụ ngôn được Đức Giêsu kể hôm nay có một cái kết buồn. Đó là số phận bi thảm dành cho người đày tớ không biết tha thứ. Khi xiết nợ và tống ngục người bạn nợ mình có một trăm quan tiền, người đầy tớ này quên rằng mình với người kia là người bạn bè đồng cảnh, cũng là hạng đầy tớ như nhau. Anh cũng quên rằng mình vừa sấp mình xuống chân ông chủ, van xin ông tha nợ cho. Nhìn thấy hình ảnh người bạn đau khổ van xin, anh không nhận ra đó cũng chính là hình ảnh của mình trước đó. Vì thế, anh ta vừa được tha một món nợ rất lớn là "mười ngàn yến vàng", và giờ đây có một trăm quan tiền người ta nợ mình thì anh nhất quyết không tha. Nên lưu ý sự chênh lệch khác biệt giữa hai món nợ. Lòng tham lam ích kỷ đã che mờ con mắt lương tâm và làm cho trái tim anh trở nên chai đá. Kết cục, người đầy tớ tham lam và ích kỷ này bị đưa trở lại nhà tù, có nghĩa là ý định tha nợ trước đây của ông chủ đã thay đổi, vì anh ta xử tàn nhẫn với bạn bè. Đó cũng là số phận của những ai giữ lòng hận thù đối với người xung quanh.

"Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha" (Bài đọc I). Bao dung nhân hậu, tha thứ yêu thương. Đó là cốt lõi của giáo huấn Kinh Thánh, Cựu ước cũng như Tân ước, nhất là trong giáo huấn của Chúa Giêsu. Tha thứ cho người khác là điều kiện để chúng ta được lãnh ơn tha thứ. Đó chính là bài học rút ra từ câu chuyện dụ ngôn mà Chúa Giêsu đã kể. Hãy tha thứ cho người khác vì chính bản thân chúng ta cũng đã hơn một lần yếu đuối phạm tội. Hãy tha thứ vì con người sống trên trần gian đều là bất toàn. Khi tha thứ, ta mở cho người khác một con đường hướng tới tương lai. Giáo huấn Kitô giáo còn khẳng định: khi tha thứ là ta được thứ tha; khi cho đi ta sẽ nhận lãnh. Tha thứ sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui, sự thanh thản và yêu đời. Người Việt Nam chúng ta thường nói "đời có vay có trả", "gieo nhân nào gặt quả nấy". Điều này cũng chuyển tải những bài học sâu sắc như câu chuyện dụ ngôn hôm nay.

Trong hành trình cuộc đời, con người sống với và sống cho tha nhân. Chỉ khi nào ý thức được điều này, chúng ta mới tìm được hạnh phúc. Một cuộc sống biết chia sẻ cảm thông sẽ đong đầy niềm vui. Cũng vậy, ý thức sống hay chết đều thuộc trọn về Chúa sẽ giúp chúng ta cảm nhận được tình thương của Ngài giữa những khó khăn trắc trở trong cuộc đời (Bài đọc II). Chúa Giêsu là mẫu gương cho chúng ta về tâm tình phó thác. Người cũng là mẫu mực cho chúng ta triết lý sống vì hạnh phúc của tha nhân. Trên cây thập giá, Chúa đã xin ơn tha thứ cho những kẻ hành hạ mình. Yêu thương và tha thứ cho kẻ thù, đó là đức yêu thương hoàn hảo.

"Cha trên trời cũng đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình". Chúa Giêsu đã kết luận và đưa ra bài học của dụ ngôn. Thiên Chúa Cha là trọng tài anh minh sáng suốt. Ngài sẽ xét xử con người về đời sống và hành vi của họ. "Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con", Chúa cũng dạy chúng ta cầu nguyện như thế, như một tâm niệm nằm lòng về sự tha thứ của Chúa đối với mình và về sự tha thứ của mình đối với anh chị em.

Đừng bao giờ để mình chìm trong thịnh nộ; bởi nó giống như mài thanh kiếm để tự đâm vào ngực mình, hay giết bạn mình (Akhenaton).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng





Print this item

Information Chúa Nhật XXIII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 09-08-2017, 04:40 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Đức Ái Của Người Ngôn Sứ

Việc góp ý sửa lỗi những người bạn bè, phải dựa trên nền tảng của đức bác ái. Bởi lẽ không ai là người hoàn hảo trên trần gian.

Ông Bà chúng ta đã dạy: "Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi". Những lời sửa dạy của ông bà cha mẹ hay bạn bè lối xóm, nếu được thực hiện cách tế nhị và đúng lúc, đúng chỗ, sẽ thể hiện đức ái, và đây là đức ái đích thực.

Con người sinh ra không phải tự nhiên biết mọi sự. Hành trình cuộc đời chính là hành trình của tôi luyện. Để trưởng thành và nên hoàn hảo, mỗi chúng ta phải chấp nhận những tập luyện cố gắng gian nan. Khiêm tốn đón nhận đóng góp ý kiến của người khác, sẽ giúp chúng ta hoàn thiện.

Theo quan niệm Thánh Kinh, nhắc nhở sửa lỗi người khác còn là một bổn phận. Từ thời Cựu ước, Ngôn sứ Êdêkien đã được Chúa trao trách nhiệm khuyến cáo người Do Thái trong cảnh lưu đày. Những người tha hương đang bị cám dỗ quên lãng cội nguồn, bỏ việc thờ phượng Chúa, ngả theo việc thờ lạy các thần ngoại và hấp thụ lối sống phóng túng không phù hợp với truyền thống Lề Luật. Chúa sai ngôn sứ đến với họ. Chúa nói rõ với ông Êdêkien: người được sai đi, tức là vị ngôn sứ, phải lo chu toàn trách nhiệm của mình. Lời kêu gọi và cảnh báo có hiệu quả hay không xem ra không quan trọng, miễn là ông truyền đạt trung thành những gì Chúa đã nói. Nếu dân cứng lòng không nghe, họ phải lãnh cái chết vì tội cứng đầu cứng cổ. Nếu vị ngôn sứ lẩn tránh trách nhiệm, thì ông phải gánh hình phạt của kẻ bất trung. Sứ mạng của vị ngôn sứ này là khuyến cáo dân lưu đày trước những nguy hiểm về đời sống đức tin, và mời gọi họ chấn chỉnh đời sống (Bài đọc I). Êdêkien cũng khẳng định: Thiên Chúa vẫn đang hiện diện giữa cảnh lưu đày để chăm sóc yêu thương họ.

Chúa Giêsu còn chi tiết và cụ thể hơn trong những giáo huấn về việc sửa lỗi anh em. Người dạy chúng ta đi từ nhỏ tới lớn, từ gần tới xa để cố gắng thuyết phục một người anh em lầm lỗi. Việc góp ý sửa lỗi những người bạn bè, phải dựa trên nền tảng của đức bác ái. Bởi lẽ không ai là người hoàn hảo trên trần gian. Mỗi người đều còn mang trong mình nhiều khuyết điểm. Thẳng thắn và chân thành góp ý với người khác, chúng ta cũng phải khiêm tốn đón nhận những đóng góp của họ. Lời góp ý chân thành và theo tinh thần của Tin Mừng khác với những lời gièm pha, hoặc phê phán ác ý. Sửa lỗi anh em cũng không phải là một thái độ trịch thượng kẻ cả khi thấy họ có lỗi. Chỉ những lời xuất phát từ trái tìm mới đến được với trái tim người khác và có tính thuyết phục.

Tin Mừng hôm nay cũng bao gồm lời giáo huấn của Chúa về sự tha thứ mà người môn đệ của Chúa Giêsu phải thực hiện trong mối tương quan với tha nhân. Tha thứ cho người khác là một điều kiện để chúng ta lãnh nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa. Trong cuộc sống thực tế của chúng ta, có những người bị xúc phạm nghiêm trọng đến nỗi họ thề suốt đời không bao giờ tha thứ cho người đã làm tổn thương mình. Tuy vậy, nếu cứ tiếp tục căm ghét hận thù, thì chính chúng ta lại đang hành hạ bản thân mình. Sự hận thù như một loại mối mọt gặp nhấm hủy hoại cuộc đời của chúng ta, khiến chúng ta không tìm được niềm vui trong cuộc sống. Một tâm hồn quảng đại bao dung, khi cầu nguyện thì được Chúa nhận lời. Một tấm lòng đầy ghen ghét thù oán, lời cầu nguyện của họ sẽ trống rỗng mơ hồ. Chính Chúa hiện diện giữa chúng ta, khi chúng ta cầu nguyện chung với nhau. Cầu nguyện chung là thể hiện mối hài hòa với tha nhân.

Con người không sống đơn lẻ trên trần gian, nhưng họ sống với, sống cùng và sống cho người khác. Chỉ khi nào ý thức được điều này, chúng ta mới tìm được hạnh phúc, và cuộc sống mới thấm đượm niềm vui. Người Kitô hữu còn được Chúa trao phó cho sứ mạng ngôn sứ, để trở nên "người lính gác nhà Israen" như ngôn sứ Êdêkien, tức là người cộng tác phần mình làm cho cuộc sống được thanh bình, bác ái. Chức năng ngôn sứ chúng ta nhận được qua bí tích Thanh tẩy, để rao giảng Lời Chúa, khích lệ, khiển trách và truyền tải sứ điệp của Ngài. Cũng như các ngôn sứ thời xưa, người tín hữu loan báo sứ điệp Tin Mừng hôm nay chắc chắn sẽ vấp phải những phản đối của người đương thời, nhất là trong một xã hội dửng dưng với Thiên Chúa và chỉ coi vật chất là giá trị tối thượng.

"Yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy" – Thánh Phaolô quả quyết với chúng ta như thế. Vị tông đồ dân ngoại có lý, vì luật yêu thương bao trùm tất cả. Chính tình yêu nâng tâm hồn chúng ta lên với Chúa và giúp ta sống hài hòa với anh chị em mình. Thánh Augustinô cũng nói với chúng ta: "Ama et fac quod vis": Cứ yêu đi rồi sẽ làm được mọi sự". Ở nơi khác, ngài cũng viết: "Tình yêu có đôi chân đến với người nghèo. Tình yêu có đôi mắt để thấy bất hạnh và thiếu thốn. Tình yêu có đôi tai để nghe được tiếng than thở của tha nhân. Đó chính là đức bác ái của người ngôn sứ.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Sửa Lỗi Anh Em

Con người ai cũng có lầm lỗi. Vậy mà thái độ ứng xử trước lầm lỗi của người khác lại không giản đơn. Đối với lỗi lầm của người khác, ta thường có hai thái độ, hoặc quá khắc nghiệt loại trừ, hoặc quá thờ ơ lãnh đạm. Cả hai thái độ đó đều thiếu xây dựng. Quá khắc nghiệt loại trừ sẽ khiến ta can thiệp thô bạo vào đời tư, sẽ gây ra bất mãn, đổ vỡ. Quá thờ ơ lãnh đạm sẽ buông thả mặc cho sự xấu tràn lan, sẽ làm cho xã hội suy thoái.

Giáo Hội là một cộng đoàn những con người. Lầm lỗi là không thể tránh khỏi. Vì thế muốn cộng đoàn phát triển, việc sửa lỗi là cần thiết, nhất là đối với những lầm lỗi công khai ảnh hưởng đến đời sống cộng đoàn.

Tuy nhiên sửa lỗi là việc khó. Không khéo thì lợi bất cập hại. Lời Chúa hôm nay đưa ra những hướng dẫn cần thiết giúp việc sửa lỗi có kết quả.

Muốn sửa lỗi phải quan tâm. Chúa nói: Khi anh em ngươi sai lỗi. Vâng, người sai lỗi đó không phải ai xa lạ. Đó là anh em tôi, là người nhà của tôi, là một thành phần của đời tôi. Nếu lầm lỗi giống như một cơn bệnh, làm sao tôi không lo lắng chạy chữa cho người thân, nhất là cho chính bản thân khi bị mắc bệnh? Nếu lầm lỗi giống như mất mát người thân, làm sao tôi không đau xót lên đường đi tìm ngay tức khắc?

Muốn sửa lỗi cần can đảm. Càng ngày người ta càng muốn tránh đụng chạm, mích lòng. Dại gì nói những chuyện không vui để mua thù chuốc oán vào thân. Vì thế, để sửa lỗi, cần phải can đảm. Can đảm đến với người lầm lỗi. Can đảm nói sự thật về lỗi lầm của họ. Can đảm chấp nhận những rủi ro do việc sửa lỗi đưa đến như sự giận ghét, sự công kích, chấp nhận bị phê bình ngược lại.

Muốn sửa lỗi phải trân trọng. Trân trọng vì người lầm lỗi đó là người anh em tôi, là đáng quí trọng đối với tôi. Trân trọng vì người anh em tuy có lầm lỗi, vẫn có khả năng sửa đổi. Sửa lỗi là tin vào thiện chí, vào mầm mống tốt đẹp Chúa gieo vào lương tâm mỗi người. Sự khinh miệt, lên mặt kẻ cả sẽ chỉ chuốc lấy thất bại.

Muốn sửa lỗi phải rất tế nhị. Tâm hồn người lầm lỗi rất mong manh. Vừa đầy tự ái vừa đầy mặc cảm. Một lời nói không khéo sẽ dẫn đến đổ vỡ. Một thái độ vô tình sẽ càng khơi thêm hố ngăn cách. Vì thế Chúa dạy tôi phải rất tế nhị khi sửa lỗi. Thoạt tiên chỉ gặp riêng một mình. Gặp riêng là một thái độ tế nhị. Sự tế nhị tạo nên cảm giác an toàn, kính trọng và yêu thương. Sự tế nhị tạo ra một bầu khí tín nhiệm thuận lợi cho việc cởi mở tâm tình, khai thông bế tắc. Sự tế nhị sẽ trở thành chiếc cầu đưa người lầm lỗi trở về cộng đoàn.

Sau cùng, muốn sửa lỗi phải kiên trì. Việc sửa lỗi không giản đơn. Không phải làm một lần là thành công ngay. Vì thế phải rất kiên trì và có nhiều phương án. Kiên trì để vẫn tiếp tục dù đã một lần thất bại. Có nhiều phương án để cương quyết đi đến thành công. Hôm nay Chúa đưa ra cho ta ba phương án để chinh phục người anh em: Gặp riêng, gặp có người làm chứng và sau cùng mới đưa ra cộng đoàn.

Như thế, việc sửa lỗi hoàn toàn là một việc làm được thúc đẩy do tình yêu. Chính bầu khí tin yêu đó sẽ khiến cộng đoàn phát triển. Ai cũng mong được sống trong một cộng đoàn yêu thương như thế. Vì khi lầm lỡ ta biết mình không bị loại trừ nhưng sẽ được quan tâm giúp đỡ, một sự giúp đỡ chân thành, tế nhị và đầy yêu thương.

Lạy Chúa, xin ban cho con tâm hồn bác ái đầy tế nhị của Chúa.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Sửa lỗi anh em, góp ý phê bình, dễ hay khó?
  2. Khi biết anh em lầm lỗi, bạn làm gì? Vạch mặt chỉ tên hay giả điếc làm ngơ?
  3. Trong gia đình, trong xứ đạo bạn, đã có sự góp ý tốt đẹp chưa?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình





Print this item

Information Chúa Nhật XXII Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 08-31-2017, 07:58 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Vấp Ngã Vì Thập Giá

Nếu thập giá là biểu tượng của yêu thương và tha thứ, thì thập giá cũng là cớ vấp ngã đối với nhiều người. Khi đối diện với thập giá, tức là những đau khổ, nhiều người đã phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, đã "hận" Ngài vì nghĩ rằng Ngài gây đau khổ cho họ.

Trong bài huấn từ sau nghi thức ngắm đàng Thánh giá, nhân Ngày quốc tế Giới trẻ tại Balan năm 2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã mở đầu bằng một loạt câu hỏi mà những người của thời đại chúng ta đang đặt ra: "Chúa ở đâu khi các Kitô hữu miền Trung Đông bị sát hại? Chúa ở đâu khi những người vô tội đã chết vì khủng bố? Chúa ở đâu khi những người Syria và Ly Băng phải bỏ quê hương để tìm nơi lánh nạn vì đất nước của họ chiến tranh triền miên? Chúa ở đâu khi hằng năm biết bao người chết hoặc trở nên nghèo đói do thiên tai lũ lụt?". Sau khi đặt câu hỏi, chính Đức Thánh Cha đưa ra câu trả lời: Chúa đang hiện diện trong chính cuộc đời những người đau khổ vừa được nêu, để nâng đỡ họ và giúp họ có nghị lực vươn lên giữa bao thử thách của cuộc đời. Bởi lẽ, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa và là Đấng vô tội, cũng đã vác thập giá, đã chịu đánh đòn và đã chịu chết do bàn tay tàn ác của con người.

Nếu thập giá là biểu tượng của yêu thương và tha thứ, thì thập giá cũng là cớ vấp ngã đối với nhiều người. Khi đối diện với thập giá, tức là những đau khổ, nhiều người đã phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, đã "hận" Ngài vì nghĩ rằng Ngài gây đau khổ cho họ. Nhiều người tín hữu đã chán nản, thậm chí mất đức tin, khi thấy đời mình những đau khổ truân chuyên, gian nan khốn khó. Trước Chúa Giêsu 6 thế kỷ, ngôn sứ Giêrêmia cũng đã nản chí và định bỏ cuộc, vì mỗi khi ông nói Lời Chúa thì bị phản đối và vu khống, thậm chí còn bị đe dọa giết chết. Tuy vậy, vào những lúc ông định bỏ cuộc, thì lòng ông lại nóng như lửa đốt. Ông đã trung thành với sứ mạng ngôn sứ cho đến cùng (Bài đọc I).

Thánh Mátthêu trong Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta về sự yếu đuối của Phêrô. Vừa khi nghe Chúa nói đến cuộc khổ nạn, ông lập tức can ngăn Thày mình. Ông chưa sẵn sàng để hiểu biết và đón nhận việc Chúa chị đau khổ, mặc dù Chúa đã nói rõ: "Ngày thứ ba sẽ sống lại". Vì vậy mà Chúa quở trách ông là Satan, đồng thời Chúa đuổi ông: "Hãy lui lại đàng sau". "Lui lại đàng sau" không chỉ thể hiện vị trí hay nơi chốn trong không gian, nhưng còn nói lên sự yếu đuối và bất xứng với Thày, khi nuôi dưỡng những tư tưởng ngược lại với sứ mạng thiên sai của Thày. Cần nhắc lại là liền trước đó, Chúa đã khen ông vì lời tuyên xưng đức tin: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống", và Chúa cũng vừa trao cho ông quyền ràng buộc và tháo cởi. Ấy vậy mà Chúa lại nặng lời khiển trách ông. Điều đó cũng cho thấy sự yếu đuối và đổi thay nơi mỗi con người chúng ta. Đứng trước thập giá, chúng ta dễ chán nản, ngã lòng và có nguy cơ từ chối Chúa.

Thập giá không chỉ là câu chuyện của lịch sử xa xưa. Thập giá đang đi ngang qua cuộc đời của mỗi chúng ta. Thập giá hiện diện nơi những gia đình ly tán, mâu thuẫn xung đột. Thập giá cũng tồn tại nơi những gương mặt của anh chị em đang đau khổ vì bệnh tật, vì đói nghèo, vì bất an bất ổn. Thập giá cũng đang đi ngang qua cuộc đời của biết bao Kitô hữu bị bách hại trong những nước có chiến tranh, xung đột. Trong xã hội văn minh của chúng ta, vẫn còn đó những cuộc giết chóc dã man, những cuộc hành hình ghê rợn mà các tín hữu vô tội phải gánh chịu, chỉ vì lý do vì họ là Kitô hữu. Suy tư trong nghi thức Ngắm đàng Thánh Giá, Đức Thánh Cha muốn hiện tại hóa mầu nhiệm thập giá trong cuộc sống hôm nay. Ngài mời gọi những người đau khổ hãy nhận ra Chúa đang hiện diện trong cuộc đời họ. Ngài hiện diện để cùng với họ vác thập giá bước đi. Tin vào sự hiện diện của Chúa, thập giá cuộc đời sẽ trở nên nhẹ nhàng, đau khổ sẽ trở thành niềm vui, bị quan sẽ thành niềm hy vọng. Bởi lẽ, con người không chỉ có đời này, mà còn có đời sau, đó là lúc "Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm."

Kitô hữu là người tin Chúa và là người cùng với Chúa vác thập giá đời mình. Chính vì muốn chuẩn bị chúng ta khỏi vấp ngã trước thập giá, mà Chúa đã dạy: "Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống vì Thày, thì sẽ tìm được mạng sống ấy". Chúa còn đưa ra một so sánh để chúng ta thấy đời sống vĩnh cửu quan trọng như thế nào: "Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?". Thánh Inhaxiô Loyola đã trở thành một tu sĩ và người sáng lập Dòng Tên nhờ câu Kinh thánh này. Ngài đã từ bỏ mọi sự, chỉ thao thức làm cho nhiều người biết Chúa và tin Chúa.

Trong "Hạnh các Thánh tử đạo Việt Nam", có chép về một Thánh tử đạo là Augustinô Nguyễn Văn Mới. Quan dụ dỗ: "Nếu anh bước qua thập giá thì ta cho một nén bạc". Người anh hùng đức tin không trả lời. Quan nói tiếp: "Vậy thì một nén vàng" - "Dạ bẩm quan chưa đủ". "Vậy anh muốn bao nhiêu?" - "Bẩm quan lớn, quan lớn muốn cho tôi quá khoá thì quan lớn phải cho tôi đủ vàng bạc để tôi mua được một Linh hồn khác! Vâng làm sao mà có đủ vàng bạc để mua được một linh hồn". Vị Thánh của chúng ta đã thấm nhuần lời Chúa dạy: "Được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì có lợi gì?". Lời ấy đã giúp ngài trung thành với Chúa đến cùng, và như lời khuyên của Thánh Phaolô, ngài đã trở nên "của lễ sống động và thánh thiện đẹp lòng Thiên Chúa" (Bài đọc II).

"Anh em hãy canh tân lòng trí, để hiểu biết đâu là thánh ý Chúa, biết điều gì tốt lành đẹp lòng Chúa và hoàn hảo". Xin cho chúng ta biết nhìn thập giá với cái nhìn mới mẻ. Một khi đón nhận thập giá với tâm tình yêu mến và cậy trông, chúng ta vừa có thể vác thập giá đời mình, đồng thời giúp anh chị em trong hành trình thập giá của họ. Amen.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Mất Trước Được Sau

Ở đời ai cũng muốn được và sợ mất. Nhưng làm thế nào để được và không mất thì không phải ai cũng biết cách làm. Vì không phải cứ thu vào là được. Không phải cứ buông ra là mất. Trái lại rất nhiều khi phải chịu mất trước rồi mới được sau. Mất nhỏ để được lớn. Mất ít để được nhiều. Đó hầu như là qui luật trong đời sống hằng ngày. Ta dễ hiểu điều này trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay. Nhà đầu tư muốn được lợi nhuận cao, sẽ không giữ kỹ tiền của trong nhà, buộc chặt lại rồi đem chôn giấu đi, trái lại phải huy động hết vốn liếng hiện có trong nhà đổ vào đầu tư. Vốn lớn thì lời mới lớn.

Muốn được phải chịu mất trước. Đời sống đạo đức không đi ra ngoài qui luật đó. Chúa Giêsu dạy ta: "Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mà theo".

Đi theo Chúa là đi vào con đường của Chúa.

Con đường của Chúa là con đường từ bỏ. Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc từ bỏ không ngừng. Từ bỏ trời để xuống đất. Từ bỏ địa vị Thiên Chúa để làm người. Từ bỏ cuộc sống an nhàn nơi thôn làng để đi vào cuộc phiêu lưu rao giảng Tin Mừng. Từ bỏ cứu thế bằng con đường dễ dãi do ma quỉ xúi giục, để đi vào con đường chật hẹp khó khăn theo ý Đức Chúa Cha. Cuộc từ bỏ cam go nhất chính là từ bỏ ý riêng mình. Đó là một cuộc chiến khốc liệt khiến Người phải toát mồ hôi máu. Nhưng Người đã đi đến cùng con đường từ bỏ. Hình ảnh Người chết trần trụi trên thánh giá là hình ảnh một người từ bỏ tất cả đến tận cùng. Không còn một chút hơi thở. Không còn một giọt máu. Không còn một chút danh dự. Không còn gì cả.

Con đường của Chúa là con đường thánh giá. Người đã ôm lấy thánh giá và vác. Không phải chỉ là thánh giá gỗ trên đường lên Núi Sọ, nhưng là thánh giá cuộc sống trải dài suốt đời người. Thánh giá kiếp người. Thánh giá kiếp nghèo. Thánh giá bị chống đối. Thánh giá bị hiểu lầm. Thánh giá bị bỏ rơi. Thánh giá bị phản bội. Thánh giá thách thức. Thánh giá thất bại. Thánh giá oan ức. Thánh giá tủi nhục. Thánh giá cô đơn. Thánh giá nặng lắm nên nhiều lần Người đã ngã xuống. Thánh giá ghê sợ lắm nên Người đã có lần muốn chối bỏ. Nhưng rồi Người lại đứng lên tiếp tục vác đi cho đến cùng, cho trọn con đường.

Nhưng nếu đường của Chúa Giêsu chỉ dừng tại đây thì đó là một con đường bế tắc. Nếu định mệnh của Chúa Giêsu kết thúc tại Núi Sọ thì đó là một định mệnh diệt vong. Không! con đường của Chúa còn là con đường phục sinh. Định mệnh của Chúa là một định mệnh vinh quang.

Con đường thánh giá là con đường dẫn đến phục sinh. Con đường từ bỏ là con đường dẫn tới vinh quang. Phải qua sự chết mới đến sự sống. Phải qua tủi nhục mới đến vinh quang. Phải qua gian khổ mới đến hạnh phúc. Thánh Phaolô đã hiểu biết tường tận con đường của Chúa nên đã nói: "Chúa Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chuá mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: "Chúa Giêsu Kitô là Chúa" (Pl 2, 6-11).

Cũng thế, khi mời gọi ta bước theo Người, Người không muốn ta đi vào tàn lụi diệt vong, nhưng muốn ta triển nở đến viên mãn. Nên Người nói tiếp: "Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy".

Như thế từ bỏ không phải để mất mà để được, được lại một cách sung mãn, hoàn hảo và cao cả phong phú hơn gấp bội. Mất hiện tại để được tương lai. Mất đời này để được đời sau. Mất phàm tục để được thần thiêng. Mất tạm bợ để được vĩnh cửu.

Thánh Phanxicô Khó Nghèo đã cảm nghiệm sâu xa chân lý này nên đã thốt lên lời ca bất hủ: "Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời".

Lạy Chúa, xin cho con biết từ bỏ mình để được chính Chúa, nguồn mạch hạnh phúc của con.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Mất trước được sau. Bạn áp dụng câu này trong đời sống đạo thế nào?
  2. Chúa Giêsu mời gọi: "Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo". Bạn nghĩ sao về đòi hỏi này của Chúa, có quá khắt khe không?
  3. Hạnh phúc không có sẵn nhưng phải phấn đấu mới đạt được. Bạn có tâm đắc điều này không?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình





Print this item

Information Chúa Nhật XXI Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 08-24-2017, 06:42 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Đức Tin và Cuộc Sống

Tin vào Đức Kitô không dừng lại những công thức ngoài môi miệng, nhưng phải được thực hiện trong cuộc sống hằng ngày, bằng một cuộc sống ngay lành, chân thực và bác ái.

Tuyên xưng đức tin và sống đức tin, đó là đặc tính căn bản của người Kitô hữu. Nhờ tin vào Chúa, chúng ta sẽ sống thánh thiện và hoàn hảo hơn. Tuy vậy, đức tin của chúng ta thường bị chao đảo trước những giông bão của cuộc đời. Nhiều khi những đam mê trần tục lôi kéo chúng ta, làm cho chúng ta quên Chúa và sống như thể Ngài không hiện diện. Tin vào Đức Kitô không dừng lại những công thức ngoài môi miệng, nhưng phải được thực hiện trong cuộc sống hằng ngày, bằng một cuộc sống ngay lành, chân thực và bác ái.

Trước câu hỏi của Chúa Giêsu: "Người ta bảo Con Người là ai?", các môn đệ tỏ ra lúng túng. Điều này chứng tỏ, các ông chưa hiểu rõ Thày mình, mặc dù chấp nhận đi theo làm môn đệ Người. Phêrô đã tuyên xưng: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Đức tin vừa là một ân ban đến từ Thiên Chúa, vừa là nỗ lực cố gắng của con người để đón nhận và gìn giữ cách trung thành. Vì là ân ban của Thiên Chúa, nên người này có thể được ban, người khác lại không. Vì là nỗ lực của con người, nên người ta có thể khước từ hay đón nhận, có thể trung thành hay phản bội đức tin đã lãnh nhận.

Từ việc tuyên xưng đức tin của thánh Phêrô, Chúa Giêsu đã trao cho ngài quyền "tài thẩm" hay còn gọi là "quyền ràng buộc và tháo cởi". Điều này giải thích lý do tại sao có cơ chế và quyền hành trong Giáo Hội. Để thiết lập trật tự, chính Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội mà người đứng đầu là thánh Phêrô quyền tha thứ hay ràng buộc. Giáo Hội nhân danh Chúa Giêsu để thi hành quyền này. Tuy vậy, Giáo Hội không cai trị bằng quyền lực thế gian, mà bằng đức yêu thương, vì yêu thương là cốt lõi của Đạo Chúa. Giáo Hội luôn phải đặt đức yêu thương làm đầu, noi gương Chúa Giêsu, đấng đã đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mình làm giá cứu chuộc con người. Trong Cựu ước, Chúa đã trao chìa khóa nhà Đavít cho ông Eliaqim, để ông đóng và mở (Bài đọc I). Tuy vậy, quyền bính này chỉ là quyền bính thế gian. Quyền bính mà Chúa Giêsu trao cho thánh Phêrô là "chìa khóa nước trời". Đây là một sứ mệnh cao cả, vì đó chính là sứ mệnh của Thiên Chúa, Đấng có quyền ban thưởng cho thánh nhân hay trừng phạt người tội lỗi. Hơn hai ngàn năm qua, Giáo Hội vẫn thi hành quyền bính được trao phó. Mặc dù có những lạm dụng về quyền bính nơi một số cá nhân, nhưng không vì thế mà Giáo Hội đánh mất căn tính và nhiệm vụ của mình, đó là phục vụ con người và đem ơn cứu độ của Chúa Giêsu cho mọi dân tộc.

Hành trình đức tin của người Kitô hữu là một hành trình liên lỉ, trải dài trong suốt cuộc đời và có nhiều khó khăn thử thách. Tuy vậy, chúng ta không bước đi một mình. Có Chúa đi cùng chúng ta, để rồi "mọi sự đều do Người, nhờ Người và trong Người" (Bài đọc II). Xác tín điều này, chúng ta sẽ thấy tâm hồn thanh thản an vui và kiên vững trên đường đời.

Thánh Phêrô trong Tin Mừng hôm nay đã bị Chúa Giêsu quở trách là "Sa tan", vì ông định can ngăn Chúa khi Người thông báo cuộc khổ nạn đã gần kề. Vừa trước đó, Chúa khen ngợi ông là "người có phúc" vì ông tuyên xưng: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Thánh Phêrô được khen ngợi vì đã nhận rõ sứ mạng thiên sai của Chúa. Ấy vậy mà sau đó Chúa lại trách ông là Sa tan. Sa tan là kẻ luôn quấy phá và làm hỏng kế hoạch của Thiên Chúa. Sa tan cũng là kẻ gian dối và là nguyên nhân của biết bao chia rẽ hận thù. Nhiều lúc chúng ta cũng có quan niệm lệch lạc như Phêrô, tức là hiểu sai sứ mệnh cứu thế của Chúa Giêsu. Điều này cũng cho thấy, để duy trì và gìn giữ một đức tin tinh tuyền, cần phải luôn tỉnh thức và thận trọng, để tránh những sai lầm và ngộ nhận. Hiện nay, có nhiều nhóm tín hữu mệnh danh là "được Chúa mạc khải" để tuyên truyền những điều sai lạc về đức tin, kèm theo những lời đe dọa cho những ai khước từ điều họ tuyên truyền. Những người này nhân danh Chúa để gây chia rẽ và làm cho nhiều người lung lạc đức tin. Trước những trao lưu này, người tín hữu phải cẩn trọng và tuân giữ những gì thuộc về đức tin tinh tuyền.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tự vấn lương tâm về cách thức sống đức tin của mỗi người. Có nhiều người chuyên cần trong những bổn phận đạo đức, nhưng lại gian dối và thủ đoạn trong mối tương quan với anh chị em. "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!". Ước chi đó là lời tuyên xưng của mỗi cá nhân chúng ta. Cùng với lời tuyên xưng này, chúng ta cố gắng thực hiện bổn phận của người Kitô hữu, để xây dựng nước trời ngay trên trần gian và trong cuộc sống của chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Hội Thánh Của Chúa

"Con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy".Với lời này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh. Lời Chúa cho ta thấy những đặc tính của Hội Thánh.

Đó là một Hội Thánh cho con người.

Chúa Giêsu xây dựng Hội Thánh trên nền đá Phêrô. Phêrô vốn là một người yếu đuối. Đời ông nhiều thất bại hơn thành công, nhiều yếu đuối hơn mạnh mẽ. Đã từng ra khơi suốt đêm để sáng sớm trở về tay trắng. Đã từng chìm xuống khi muốn đi trên mặt nước. Đã từng ngủ mê khi phải canh thức với Thầy trước giờ tử nạn. Và tệ hại nhất là đã từng chối Thầy ba lần khi Thầy chịu khổ nạn. Nền tảng tượng trưng cho cả toà nhà. Nền tảng Phêrô là một con người yếu đuối cũng như cả Hội Thánh gồm những con người mỏng giòn. Những thất bại của Phêrô thường diễn ra trong bóng đêm. Đánh cả suốt đêm không được gì. Chìm xuống mặt nước lúc ban đêm. Ngủ gật trong vườn Cây Dầu khi trời tối. Chối Thầy trong bóng đêm. Đó là hình ảnh Hội Thánh còn phải lần mò đi trong đêm tối thử thách của thế giới với những yếu đuối của con người. Chúa dùng người yếu đuối để qui tụ những con người yếu đuối. Chúa sử dụng những phương tiện của con người để nâng đỡ con người.

Đó là một Hội Thánh của Thiên Chúa.

Tuy Hội Thánh dành cho con người, gồm những con người yếu đuối, nhưng đó lại là Hội Thánh của Thiên Chúa. Hội Thánh của Thiên Chúa vì chính Thiên Chúa thiết lập. Chúa Giêsu xác định đây là "Hội Thánh của Thầy". Hội Thánh của Thiên Chúa nên sống bằng sức sống của Thiên Chúa chứ không bằng sức sống của con người. Thật vậy, Hội Thánh rất yếu đuối. Có những yếu đuối khi phải đương đầu với những khó khăn thử thách bên ngoài. Biết bao vua chúa đã muốn triệt hạ Hội Thánh khi Hội Thánh chỉ là một nhóm những người bé nhỏ nghèo hèn. Có những yếu đuối từ trong nội bộ. Biết bao lần chia rẽ, phân ly. Biết bao lỗi lầm tai hại tưởng như khiến Hội Thánh đổ nát tan tành. Nhưng Hội Thánh vẫn đứng vững với thời gian. Vì đó là Hội Thánh của Thiên Chúa.

Hiểu biết như thế, ta phải có thái độ thích hợp.

Vì Hội Thánh là chính chúng ta, những con người mỏng giòn, nên ta cần khiêm nhường. Khiêm nhường nhận biết mình yếu đuối. Khiêm nhường nhận biết Hội Thánh còn chưa thánh thiện. Khiêm nhường như thánh Phêrô suốt đời cầu xin lòng thương xót của Chúa. Khiêm nhường như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công khai lên tiếng xin lỗi về những sai sót của Hội Thánh. Ta không chỉ khiêm nhường khi đấm ngực chuẩn bị dâng thánh lễ, mà còn phải khiêm nhường trong đời sống hằng ngày.

Vì Hội Thánh là cho con người nên ta cần có thái độ cảm thông. Biết mình yếu đuối, tôi sẽ dễ cảm thông với những yếu đuối của anh em. Cảm thông không phải để mặc anh em chìm xuống, những để giúp anh em vượt lên. Như lời Chúa dạy Phêrô: "Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh" (Lc 22, 32)

Vì Hội Thánh là của Chúa nên ta phải hoàn toàn tin tưởng vào Chúa. Biết mình u mê, ta sẽ phó thác cho Chúa hướng dẫn cuộc đời. Biết mình yếu đuối, ta sẽ không còn cậy dựa vào sức riêng, nhưng hoàn toàn tin tưởng vào Chúa, làm việc bằng sức mạnh của Chúa. Như thánh Phêrô giảng đạo trong ngày lễ Ngũ Tuần nhờ ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn.

Chính Chúa là sức mạnh của Hội Thánh. Phêrô là Đá Tảng nhưng chính Chúa làm cho Đá Tảng vững bền. Phêrô giữ chìa khóa nhưng chính Chúa gìn giữ tòa nhà.

Lạy Chúa, xin thánh hoá Hội Thánh Chúa. Amen.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình





Print this item

Information Chúa Nhật XX Thường Niên – Năm A
Posted by: LongHai - 08-17-2017, 04:53 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Kiên Trì và Vững Tin

Câu chuyện người đàn bà trong Tin Mừng hôm nay muốn dạy chúng ta về sự kiên trì trong lời cầu nguyện. Thiên Chúa không ngủ say. Ngài cũng không dửng dưng trước nỗi khổ của con người. Trái lại, Ngài vẫn ra tay cứu giúp những ai cầu nguyện với tấm lòng chân thành và sự bền bỉ kiên trì.

"Con tưởng rằng con vững tin...". Lời bài thánh ca quen thuộc muốn nói với chúng ta rằng, những lúc gặp thử thách gian nan, chúng ta mới giật mình ngộ ra rằng đức tin của mình còn non yếu và mờ nhạt. Như vậy, những gian nan thử thách cũng là dịp để chúng ta chứng minh đức tin vào Chúa và niềm tín thác nơi Ngài.

Trong thực tế, dường như Chúa ít khi nhận lời chúng ta cầu nguyện. Bởi thế, chúng ta thấy những gì chúng ta xin với Chúa không được Ngài nhận lời. Câu chuyện người đàn bà trong Tin Mừng hôm nay muốn dạy chúng ta về sự kiên trì trong lời cầu nguyện. Thiên Chúa không ngủ say. Ngài cũng không dửng dưng trước nỗi khổ của con người. Trái lại, Ngài vẫn ra tay cứu giúp những ai cầu nguyện với tấm lòng chân thành và sự bền bỉ kiên trì. Cũng có thể Ngài cho chúng ta một ơn khác, mang lại điều tốt lành ơn cho chúng ta.

"Lạy Thày, xin thương xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm!". Lời cầu nguyện xuất phát từ tấm lòng người mẹ. Bà có thể hy sinh mọi sự cho con mình. Bà chấp nhận mọi điều phiền toái, thậm chí cả những điều xỉ nhục, miễn là con gái bà được chữa khỏi. Trước lời kêu van này, dường như Chúa Giêsu vẫn dửng dưng. Hơn nữa, Người còn sánh ví người đàn bà như một con chiên lạc, thậm chí như một chó con. Bà không buồn vì điều đó, lại khiêm tốn khẳng định mình chỉ xin làm một con chó con chờ đón những mụn bánh rơi xuống từ bàn ăn. Cách lý luận ấy ẩn chứa một đức tin vững vàng và một kỳ vọng chắc chắn nơi quyền năng của vị ngôn sứ mà bà kêu cầu với danh hiệu "Con vua Đavít". Sự bền bỉ kiên trì của bà đã sinh hoa trái: Chúa đã nhận lời cầu xin và con gái bà được chữa lành.

Nếu chúng ta cậy trông tin tưởng nơi Chúa, là vì chúng ta tin Ngài là Đấng nhân hậu và Cha của muôn dân tộc. Giáo huấn về Thiên Chúa là Cha của nhân loại được nhấn mạnh trong các tác phẩm ngôn sứ và văn chương Cựu ước. Tuy vậy, một số người Do Thái, nhất là những luật sĩ và biệt phái, thì lại chủ trương ngược lại với giáo huấn này. Chúa Giêsu muốn phá đổ những hàng rào ngăn cách do chủng tộc, địa vị xã hội và tôn giáo, hầu xây dựng một xã hội hợp nhất trong tương lai, như một chủ chiên và một đàn chiên. Nếu Thiên Chúa đã khẳng định qua ngôn sứ Isaia: "Nhà Ta là nhà cầu nguyện cho muôn dân" (Bài đọc I), thì Giáo Hội hôm nay chính là Nhà Chúa, là điểm quy tụ muôn dân để thực thi công bình và xây dựng hiệp nhất yêu thương. Một số người công giáo vẫn còn giữ thói quen kỳ thị khinh miệt những người khác vì họ mắc ngăn trở, hoặc vị địa vị của họ hèn kém trong làng xã. Họ cũng giống như những người biệt phái xưa kia trong Tin Mừng, tự coi mình là hoàn hảo và loại trừ người khác. Cộng đoàn giáo xứ là hình ảnh của Giáo Hội thu nhỏ. Mục đích và đường hướng hoạt động của cộng đoàn này phải luôn theo sát và phù hợp với định hướng chung của Giáo Hội hoàn vũ, tức là trở nên ánh sáng muôn dân, là điểm quy tụ mọi người trong tình hiệp thông và là phương tiện chuyên chở con người về với Chúa.

Câu chuyện người phụ nữ Canaan vừa dạy chúng ta bền chí trong lời cầu nguyện, vừa nhắc chúng ta quan tâm đến người khác, vì hết thảy đều là anh chị em con một nhà và đều được Thiên Chúa yêu thương. Chúa Giêsu đã khen đức tin của người phụ nữ này rất mạnh mẽ và kiên trì. Đức tin của chúng ta sẽ như thế nào, nếu như một ngày kia chúng ta phải đối diện với những thử thách cám dỗ, nhất là những lúc chúng ta cảm thấy dường như bị Thiên Chúa lãng quên?

"Nếu người ngoại bang theo Chúa để phụng sự Chúa và mến yêu danh Người, để trở nên tôi tớ Chúa, tất cả những ai giữ ngày Sabát, không hề sai lỗi và trung thành với giao ước của Ta, Ta sẽ dẫn chúng lên núi thánh, và Ta sẽ cho chúng niềm vui trong nhà cầu nguyện" (Bài đọc I). Những lời ngọt ngào trên đây đã chứng minh Thiên Chúa yêu thương mọi dân tộc và hết thảy những ai kêu cầu Danh Ngài được được đón nhận.

Là người được trao phó sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, Thánh Phaolô trân trọng và cần mẫn trong trách nhiệm. Đối với thánh nhân, việc dân ngoại nhận biết Chúa là niềm vui lớn lao, nên ngài sẵn sàng chấp nhận mọi gian lao, tù đày và nhục nhã để sứ vụ này mang lại những kết quả (Bài đọc II). Chắc chắn còn những mâu thuẫn, phân bì, nhưng lòng đạo đức, tâm tình cầu nguyện và nghĩa cử bác ái của mọi thành phần Dân Chúa, sẽ góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng Giáo Hội của Chúa Kitô.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Tin Yêu Sống Bí Tích Thánh Thể Theo Gương Đức Mẹ

Đoạn Tin Mừng hôm nay thật lôi cuốn. Lôi cuốn trước hết ở diễn tiến bất ngờ của phép lạ. Bất ngờ đầu tiên: người phụ nữ ngoại đạo dám đến xin phép lạ cho con mình. Người ngoại với người Do Thái không bao giờ liên hệ với nhau. Với người phụ nữ ngoại giáo, khoảng cách càng xa diệu vợi. Thế mà người phụ nữ này dám vượt qua hết những rào cản để đến với Chúa. Bất ngờ thứ hai: Chúa đã có thái độ từ chối quyết liệt. Từ chối bằng im lặng không trả lời. Từ chối thẳng thừng bằng lời nói quyết liệt: "Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel thôi". Và căng thẳng đến tàn nhẫn: "Không được lấy bánh của con cái mà ném cho lũ chó con". Bất ngờ thứ ba: người phụ nữ chấp nhận tất cả những thử thách, và đã có câu trả lời thông minh: "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống". Thật là khiêm tốn, nhưng cũng đầy tin tưởng. Thật bất ngờ mà cũng thật đẹp đẽ.

Lôi cuốn ở nét đẹp tâm hồn người phụ nữ. Ẩn sâu trong vẻ đẹp của thái độ người phụ nữ ngoại đạo, ta thấy nổi bật hai phẩm chất cao quí đó là: Tin và Yêu. Yêu con tha thiết nên bà không thể nhẫn tâm ngồi nhìn ma quỷ hành hạ đứa con yêu quí. Yêu con tha thiết nên bà không ngần ngại đi tìm thầy tìm thuốc ở khắp mọi nơi, kể cả những nơi bị coi là cấm kỵ. Yêu con tha thiết nên bà chấp nhận tất cả, không chỉ sự mệt nhọc tìm kiếm mà cả sự dửng dưng lạnh nhạt và nhất là sự khinh khi nhục mạ. Yêu con nên bà tin Chúa. Tin Chúa có quyền năng thống trị ma quỷ. Tin Chúa có lòng thương xót sẽ ra tay cứu chữa. Tin Chúa có trái tim rộng mở sẽ không phân biệt người ngoại kẻ đạo. Tin và Yêu giống như đôi cánh đã giúp người phụ nữ bay lên rất cao và bay đi rất xa. Cao lên tới Thiên Chúa. Xa khỏi những ngăn cách trắc trở. Tin và Yêu giống như giòng thác nước. Càng gặp đập ngăn cản càng dâng lên cao. Càng dâng lên cao sức mạnh càng tăng. Và khi đổ ào xuống sẽ phát sinh công hiệu quả lớn. Tin và Yêu giống như chiếc chìa khoá vạn năng có thể mở được mọi cánh cửa. Mở được cánh cửa Nước Trời. Mở được cả tâm hồn Thiên Chúa.

Trong bối cảnh của Năm Thánh Thể, thái độ người phụ nữ ngoại đạo khiến ta liên tưởng đến Đức Mẹ, người phụ nữ Thánh Thể. Người phụ nữ ngoại đạo này là một bà mẹ hiền. Vì thương con đói khổ nên bà đã lặn lội đi tìm tấm bánh về nuôi con. Vì thương con nên bà chấp nhận tất cả mọi vất vả, khổ cực, nhục nhã. Và Chúa đã thưởng công bà. Bà chỉ mong tìm được những mẩu bánh vụn dư thừa từ bàn chủ rơi xuống. Nhưng Chúa đã ban cho bà trọn vẹn tấm bánh thơm ngon của những đứa con. Bà chỉ mong được như lũ chó con chực chờ thức ăn dư thừa từ bàn chủ rơi xuống. Nhưng Chúa đã cho bà và con gái bà được đồng bàn với con cái Chúa. Chúa đã ban cho bà tấm bánh hạnh phúc. Đó là tấm bánh cứu độ. Cho bà được gia nhập gia đình Chúa, trở nên con cái Chúa. Bà đã mở được đường lên Nước Trời, đã làm cho Chúa thay đổi chương trình, thu nhận dân ngoại vào Nước Chúa.

Cũng thế, Đức Mẹ là người mẹ rất hiền từ. Vì thương yêu chúng ta nên Mẹ cũng lặn lội đi tìm cho ta tấm bánh hạnh phúc. Mẹ đã trao ban cho ta tấm bánh cứu độ. Đó chính là Chúa Giêsu Kitô. Nếu hiểu rằng Thịt Máu Chúa Giêsu Thánh Thể cũng chính là thịt máu Mẹ đã cưu mang trong lòng, ta mới rõ Đức Mẹ là người Mẹ hiền đã tìm cho con cái tấm bánh cứu độ thơm ngon hạnh phúc. Và để có được tấm bánh đó, Đức Mẹ đã phải chịu rất nhiều vất vả, đau đớn, khổ nhục như lời tiên tri Simêon tiên báo: "Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà". Chính nhờ Mẹ, ta được ăn bánh các thiên thần, được đồng bàn với thần thánh, được nên con Thiên Chúa.

Không những ban cho ta tấm bánh cứu độ, Đức Mẹ còn dạy ta sống bí tích Thánh Thể trong đức tin và tình yêu.

Đức Mẹ dạy ta hãy tin thật Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, noi gương Mẹ khi xưa nghe lời thiên thần truyền tin đã hoàn toàn tin rằng bào thai trong lòng Mẹ là Con Thiên Chúa.

Đức Mẹ dạy ta hãy tin vào quyền năng của Chúa. Như xưa tại tiệc cưới Cana, Mẹ đã bảo các gia nhân: "Người bảo gì thì hãy cứ làm theo". Hôm nay, trong Năm Thánh Thể, Đức Mẹ cũng muốn nói với ta: Nếu Chúa đã dạy: "Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy", thì hãy sốt sắng tin tưởng cử hành bí tích Thánh Thể. Hãy vững tin vì Đấng đã có thể biến nước lã hoá thành rượu ngon cũng có thể làm cho bánh và rượu trở nên Thịt Máu Người.

Đức Mẹ dạy ta hãy luôn hướng về bí tích Thánh Thể như xưa Mẹ đã theo Chúa Giêsu trên mọi bước đường, dù gian nan khổ cực.

Đức Mẹ dạy ta dâng mình làm hy lễ. Như xưa Mẹ đã đứng dưới chân Thánh giá, cùng Chúa Giêsu dâng hiến những đau khổ làm hy lễ dâng Thiên Chúa Cha.

Và cũng như xưa Đức Mẹ đã đem Chúa Giêsu đến với bà Elisabet, đem lại niềm vui lớn lao cho bà, vì đã cho Thánh Gioan Baotixita được khỏi tổ tông truyền khi còn trong lòng mẹ, Đức Mẹ cũng dạy ta khi sống bí tích Thánh Thể, hãy trở nên những nhà tạm sống động đem Chúa Giêsu Thánh Thể đến khắp mọi nơi, đem ơn cứu độ đến cho mọi người.

Hôm nay khi cho người phụ nữ ngoại đạo được tấm bánh của con cái, được đồng bàn với con cái Chúa, Chúa cho bà được gia nhập dân riêng Chúa. Điều đó nhắc nhở ta khi sống bí tích Thánh Thể cũng hãy chăm lo việc truyền giáo, đi quy tụ nhiều người về bàn tiệc Thánh Thể, vào dự tiệc Nước Trời. Đức Mẹ La Vang luôn quan tâm đến việc truyền giáo, nên Mẹ không ngừng yêu thương và ban ơn lành cho những lương dân chạy đến với Mẹ. Trong những buổi cử hành sắp tới, ta sẽ được nghe những chứng từ rất sống động về tình thương của Mẹ.

Đức Mẹ là thầy dạy về bí tích Thánh Thể một cách tuyệt hảo. Chính vì thế, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị khuyên mời ta hãy đến nơi trường của Đức Mẹ. Hôm nay, họp nhau đông đảo về đây, ta hãy tạ ơn Mẹ La Vang đã ban cho ta Chúa Giêsu là tấm bánh cứu độ hạnh phúc. Ta hãy xin Mẹ dạy ta biết sống bí tích Thánh Thể trong cuộc đời. Hãy noi gương Mẹ đem Thánh Thể đến khắp các nẻo đường, quy tụ một dân đông đảo về dự tiệc Thánh Thể, dự tiệc Nước Chúa.

Lạy Mẹ La Vang xin nhận lời chúng con. Amen.

Gợi Ý Chia Sẻ
  1. Bí quyết nào khiến bà mẹ ngoại đạo đạt được ước nguyện?
  2. Người phụ nữ ngoại đạo nêu gương cầu nguyện cho ta thế nào?
  3. Đức Mẹ đã sống đức tin vào tình yêu thế nào trong cuộc đời?
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình





Print this item