Welcome, Guest
You have to register before you can post on our site.

Username
  

Password
  





Search Forums

(Advanced Search)

Forum Statistics
» Members: 6
» Latest member: MaiThao
» Forum threads: 611
» Forum posts: 613

Full Statistics

Online Users
There is currently 1 user online
» 0 Member(s) | 1 Guest(s)

Latest Threads
Chúa Nhật XXIV Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
09-13-2018, 07:21 PM
» Replies: 0
» Views: 13
Chúa Nhật XXIII Thường Ni...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
09-06-2018, 03:16 AM
» Replies: 0
» Views: 13
Chúa Nhật XXII Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-30-2018, 07:45 AM
» Replies: 0
» Views: 15
Chúa Nhật XXI Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-23-2018, 06:05 PM
» Replies: 0
» Views: 16
Chúa Nhật XX Thường Niên ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-16-2018, 10:49 PM
» Replies: 0
» Views: 21
Chúa Nhật XIX Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-09-2018, 04:09 PM
» Replies: 0
» Views: 39
Chúa Nhật XVIII Thường Ni...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
08-02-2018, 08:18 AM
» Replies: 0
» Views: 27
Chúa Nhật XVII Thường Niê...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
07-26-2018, 07:28 AM
» Replies: 0
» Views: 24
Chúa Nhật XVI Thường Niên...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
07-19-2018, 05:29 PM
» Replies: 0
» Views: 27
Chúa Nhật XV Thường Niên ...
Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật
Last Post: LongHai
07-13-2018, 07:50 PM
» Replies: 0
» Views: 19

 
Information Chúa Nhật XXIV Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 09-13-2018, 07:21 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Đức Tin Trọn Vẹn

Đức tin được gọi là "trọn vẹn" được thể hiện qua ba khía cạnh: Tuyên xưng đức tin, Sống đức tin và Loan truyền đức tin.

Đức tin là ơn ban của Thiên Chúa mà chúng ta nhận được khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Vì là một ơn ban hay quà tặng, nên ta có thể gìn giữ hoặc có thể đánh mất đức tin. Thiên Chúa ban đức tin cho mọi người đều giống nhau, tuy vậy, có người có đức tin mạnh mẽ, người khác lại có đức tin yếu kém. Như vậy, đức tin yếu kém hay mạnh mẽ là do cá nhân người đã lãnh nhận. Để được xứng danh người tín hữu, chúng ta phải có một đức tin trọn vẹn.

Đức tin được gọi là "trọn vẹn" được thể hiện qua ba khía cạnh: Tuyên xưng đức tin, Sống đức tin và Loan truyền đức tin. Thiếu một trong ba khía cạnh này, có thể nói chúng ta chưa được một đức tin trọn vẹn.

Để tuyên xưng đức tin, chúng ta phải hiểu nội dung của đức tin như Giáo Hội dạy. Những chân lý đức tin được truyền lại từ bao thế hệ. Qua những "tín điều" được Giáo Hội chính thức tuyên xưng trong kinh Tin Kính, người tín hữu nhận ra sự hiện diện của Chúa trong đời, đồng thời cảm nhận được sự dẫn dắt của Ngài giữa bao sóng gió của trần gian. Đức tin được tuyên xưng cách cá nhân: "tôi tin", và cũng được tuyên xưng cách tập thể, tức là với sự hiệp thông trong Giáo Hội: "chúng tôi tin". Đức tin được tuyên xưng trong phụng vụ, nhưng cũng phải được tuyên xưng trong cuộc sống hằng ngày.

Để sống đức tin, chúng ta phải thực hiện Lời Chúa dạy trong mối tương quan với anh chị em. Nhiều người tín hữu quên mất khía cạnh quan trọng này. Vì thế, đời sống hằng ngày đi ngược với điều họ tuyên xưng trong nhà thờ. Đức tin phải thấm nhập đời sống người tín hữu và thể hiện qua việc làm, để rồi, những người chưa tin Chúa sẽ nhận ra Ngài nơi chính cuộc đời của chúng ta. Nói cách khác, cuộc đời người tín hữu là một "cuốn Tin Mừng thu gọn", diễn tả cuộc đời Chúa Giêsu, làm chứng nhân cho Người giữa đời.

Để loan truyền đức tin, người tín hữu phải hiểu biết Chúa và trình bày giáo huấn của Người cho anh chị em mình. Loan báo Tin Mừng là bổn phận của mỗi Kitô hữu. Tuy vậy, việc loan báo Tin Mừng chỉ đem lại những hiệu quả thiết thực, nếu người loan báo thực sự tuyên xưng và sống đức tin, như đã nói ở trên. Họ như người đã thực sự gặp gỡ Chúa và chia sẻ cho anh chị em về kinh nghiệm gặp gỡ ấy.

Lời Chúa hôm nay giúp ta nhận ra đâu là đức tin trọn vẹn. Thánh Giacôbê khẳng định: Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Đức tin chết có nghĩa là đức tin không được tuyên xưng, không được sống (thực hiện) và không được loan truyền. Đối với những người có đức tin mà không có việc làm, món quà đức tin bị họ giấu kín, thậm chí chôn vùi sâu trong lòng đất, vì thế, đức tin không sinh hoa kết trái.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu bất ngờ đặt cho các môn đệ câu hỏi: "Người ta nói Thầy là ai?". Trước câu hỏi này, các ông tỏ ra lúng túng. Thì ra, mặc dù đã có một thời gian dài làm môn đệ Chúa Giêsu, các ông vẫn chưa hiểu rõ về thân thế Thầy mình. Các ông chỉ biết nói theo lời đồn và theo dư luận: "Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó."

"Thầy là Đức Kitô!". Đó là lời tuyên xưng Đức tin của thánh Phêrô. Phêrô thận trọng để cho những anh em khác trả lời dựa trên dư luận của quần chúng xung quanh chân tính của Đức Giêsu, và ông là người có tiếng nói sau cùng. Cũng có thể lúc đó, ông mới nhận ra điều ông biết về Chúa là điều chắc chắn.

Mặc dù thận trọng như thế, xem ra Phêrô vẫn chưa có một đức tin trọn vẹn. Sau khi các môn đệ có một định nghĩa chính xác về sứ mạng thiên sai của Chúa, Người mới tỏ cho các ông biết, Đấng Kitô phải trải qua cuộc thương khó, nhưng sẽ phục sinh. Mác-cô không ghi lại lời khen của Chúa như Matthêu, nhưng ông cũng nhắc lời Chúa khiển trách Phêrô là Satan, khi ông này muốn can gián Chúa về ý tưởng thập giá và khổ nạn. Kể cả sau khi đã tuyên xưng Đức tin, các môn đệ chưa thể chấp nhận được quan niệm về một Đấng Thiên sai khổ nạn để cứu chuộc con người. Nơi Phêrô cũng như nơi mỗi chúng ta hôm nay, chúng ta vừa tuyên xưng Đức tin vào Chúa, đồng thời cũng vẫn gặp khó khăn khi đối diện với thập giá. Đó là lý do tại sao một số tín hữu ngày nay, tin vào Chúa Giêsu mà khước từ thập giá, hoặc chỉ chọn lựa Chúa Giêsu mà loại bỏ thập giá. Chúa Giêsu không có thập giá không phải Chúa Giêsu của mặc khải và cũng không phải là Đấng Cứu độ trần gian. Thập giá không có Chúa Giêsu chỉ là biểu tượng của sự hận thù, cam chịu và chẳng có giá trị bày tỏ tình yêu. Khi Phêrô có ý khước từ thập giá, Chúa Giêsu đã khiển trách ông nặng lời và gọi ông là Satan.

Thập giá gắn liền với Đức Kitô. Thập giá cũng gắn liền với mỗi Kitô hữu. Tác giả sách Ngôn sứ Isaia đã diễn tả người Tôi tớ đau khổ của Giavê như một nạn nhân bị bạc đãi đến mức tột cùng (Bài đọc I). Sau này, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã trải qua đòn vọt tra tấn giống y như vậy. Dù bị sỉ nhục hành hạ, người Tôi tớ của Đức Giavê vẫn một lòng tín thác ở Thiên Chúa, là Chúa Thượng và là Đấng phù trợ trung thành. Đây cũng là gợi ý cho mỗi chúng ta trong việc tuyên xưng và sống đức tin. Muốn trung thành với Chúa, đòi hỏi phải vượt lên những khó khăn, với lòng tín thác nơi Chúa, luôn xác tín rằng Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta.

Hành trình cuộc đời còn nhiều gian nan vất vả. Đã là người chẳng có ai tránh khỏi những thử thách. Tuy vậy, trước một khó khăn, người có Đức tin cảm thấy lối thoát nhờ Đấng Tối cao; người vô thần cảm thấy như mình đứng trước ngõ cụt. Người tin Chúa tìm thấy sức mạnh và an ủi; người vô tín thấy mình chơi vơi giữa con sóng biển đời. Chúa Giêsu đã đến trần gian, Người không hủy bỏ thập giá nơi kiếp sống con người, nhưng Người cùng vác thập giá với họ để chia sẻ gánh nặng cuộc đời. Con người không còn đơn lẻ trong chặng đường thập giá, vì có Con Thiên Chúa vác cùng. Sau thập giá là vinh quang của phục sinh. Chấp nhận thập giá và kiên cường bước đi, đó là bằng chứng của người tín hữu có đức tin trọn vẹn.

"Tin là chịu đựng sự khó hiểu của Thiên Chúa suốt đời" (Karl RAHNER, Linh mục dòng Tên và thần học gia người Đức, 1904-1984).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật XXIII Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 09-06-2018, 03:16 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


"Hãy Mở Ra"

"Hãy mở ra". Đó cũng là lời mời gọi Chúa gửi đến với chúng ta hôm nay. Bởi lẽ chúng ta thường có thói quen khép kín trước nỗi đau của tha nhân, dửng dưng với người đồng loại và vô cảm trước nỗi khốn cùng của người bất hạnh.

Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai. Người đến trần gian để khai mở một kỷ nguyên mới. Đó là kỷ nguyên của ơn Cứu độ. Sứ mạng Cứu thế của Chúa Giêsu được chính Chúa Cha xác nhận, khi Người chịu phép rửa bởi tay ông Gioan bên bờ sông Giordano, cùng với những cảnh tượng huyền bí lạ lùng, như một cuộc "thần hiện" trong Cựu ước, tức là trời mở ra và có tiếng phán từ trời, đồng thời hình chim bồ câu đậu xuống trên Chúa Giêsu (x.Mt 3,13-17). Qua biến cố "thần hiện" này, Chúa Cha giới thiệu với toàn thể nhân loại Con yêu Quý của Ngài.

Lời Chúa trong sách ngôn sứ Isaia hôm nay giúp chúng ta kết nối Cựu ước với Tân ước. Vị ngôn sứ loan báo Đấng Cứu thế sẽ đến trong tương lai. Khi Người đến, sẽ có nhiều điều kỳ diệu: người mù sẽ nhìn thấy, người điếc sẽ nghe được, người câm sẽ mở miệng nói được. Thiên nhiên vũ trụ sẽ an hòa, con người sẽ sống với nhau trong tình nhân ái yêu thương. Cảnh hoang tàn sẽ chấm dứt, thay vào đó là cuộc sống thanh bình. Đoạn sách ngôn sứ Isaia hôm nay được viết trong thời lưu đày. Vào lúc khi người Do Thái sống xa quê hương đang đau buồn chán nản, vị Ngôn sứ khích lệ động viên họ: "Can đảm lên, đừng sợ. Này đây Thiên Chúa các ngươi đến để phục thù. Chính Ngài sẽ đến và cứu thoát các ngươi". Chắc chắn những người đang sống tha phương sẽ vui mừng trước những lời này, và cảm nhận rõ quyền năng yêu thương của Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương dân riêng của Ngài.

Thời Thiên sai mà ngôn sứ Isaia loan báo đã đến chưa? Đức tin Kitô giáo trả lời: đến rồi. Đấng Thiên sai là Đức Giêsu thành Nagiaret. Người là Đấng uy quyền trong lời giảng dạy cũng như trong các việc làm. Những gì đã được loan báo trong Cựu ước, nay được thực hiện nơi Đức Giêsu. Câu hỏi về sứ mạng của Đấng Thiên sai cũng là băn khoăn của ông Gioan Tẩy giả. Đang ở trong ngục, ông sai người đến hỏi Chúa Giêsu: "Ngài có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi phải đợi một đấng khác?". Thay cho câu trả lời, Chúa Giê-su bảo họ hãy thuật lại những gì họ thấy, tức là những dấu chỉ của thời Thiên sai mà ngôn sứ Isaia đã loan báo (x. Mt 111,2-6).

Thánh sử Mác-cô hôm nay kể lại phép lạ Chúa chữa cho một người câm điếc. Cách thức Chúa Giêsu chữa lành được diễn tả giống như phương pháp ma thuật thời bấy giờ, tức là không dùng thuốc, mà chỉ dùng quyền uy và sức mạnh của các vị thần linh. Với việc Chúa Giêsu chữa lành đủ mọi chứng bệnh khác nhau, Người chứng minh sứ vụ thiên sai của Người. Đồng thời, người cũng khẳng định, Người là Đấng nhân danh Đấng Tối cao mà đến trần gian. Không chỉ nhân danh Đấng Tối cao, Người còn là Con của Thiên Chúa, đến trần gian để thi hành thánh ý của Ngài.

Ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn đang hiện diện giữa chúng ta. Đây là sự hiện diện thiêng liêng vô hình. Qua Giáo Hội và qua mỗi tín hữu, Chúa Giêsu đang tiếp tục rao giảng Tin Mừng Cứu độ. Người cũng tiếp tục chữa lành các bệnh nhân, đem cho người đau khổ sự ủi an và người bệnh tật ơn chữa lành. Trong bài Thánh ca mang tựa đề "Chính Chúa chọn con" nhạc sĩ Hồng Bính đã diễn tả sứ mạng "thiên sai" của người tín hữu: "Xin dùng con theo ý của Ngài, làm tay chân cho người què cụt, cùng làm tai cho người bị điếc…làm đôi mắt cho người bị mù, làm tiếng kêu cho người bị oan". Khi thực hiện được những nghĩa cử trên đây, mỗi chúng ta trở thành dấu chỉ của Đấng Thiên sai giữa cuộc đời còn nhiều gian khổ đau thương.

"Hãy mở ra!". Đó cũng là lời mời gọi Chúa gửi đến với chúng ta hôm nay. Bởi lẽ chúng ta thường có thói quen khép kín trước nỗi đau của tha nhân, dửng dưng với người đồng loại và vô cảm trước nỗi khốn cùng của người bất hạnh. Thánh Giacôbê đã lấy một hình ảnh trớ trêu và nghịch lý xảy đến ngay giữa một cộng đoàn tín hữu, khi một người nghèo bị coi thường và bị đối xử tàn tệ, trong khi người giàu được cung kính đón rước. Tác giả bài đọc II đã gọi đó là cách cư xử thiên vị, đầy tà tâm. Đây là điều thường thấy trong cuộc sống của chúng ta, kể cả nơi các cộng đoàn tín hữu. Tác giả mời gọi chúng ta hãy nhận ra sự giàu có thiêng liêng nơi người nghèo. Đó chính là sự giàu có mà Thiên Chúa ưu ái ban cho họ và không ai có quyền lấy đi sự giàu có ấy.

"Hãy mở ra!". Đây cũng là lệnh truyền của Chúa cho Giáo Hội của Người. Nếu Giáo Hội muốn trung thành với sứ mạng được trao phó, Giáo Hội phải mở rộng mọi cánh cửa để đến với muôn dân, đem Tin Mừng của Đức Giêsu đến mọi góc khuất của cuộc đời, nơi còn biết bao người đang khao khát được nghe Tin Mừng cứu độ và đón nhận tình thương. Nói đến Giáo Hội, chúng ta thường nghĩ ngay đến một tập thể, xem ra chẳng có liên quan gì đến cá nhân chúng ta. Không phải vậy, Giáo Hội là mỗi người chúng ta. Tách riêng mọi thành phần Dân Chúa, Giáo Hội chỉ còn là một khái niệm rỗng tuếch. Vì vậy, Giáo Hội mở cửa, có nghĩa mỗi người tín hữu đều chia sẻ những thao thức truyền giáo, đồng thời cộng tác nỗ lực vào sứ mạng ấy.

Thời Thiên sai đã đến và chúng ta vinh dự được cộng tác làm cho những giá trị của thời Thiên sai được tỏa lan nơi mọi nẻo đường của cuộc sống, để rồi "Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời". Đó là ước nguyện của Chúa Giêsu, cũng là lời cầu nguyện của chúng ta dâng lên Chúa Cha mỗi ngày.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

  Chúa Nhật XXII Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 08-30-2018, 07:45 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


"Tâm Bất Biến Giữa Dòng Đời Vạn Biến"

"Tâm bình thế giới bình". Tập luyện để có được tâm hồn bình an, đó là điều kiện quan trọng để góp phần xây đắp an bình trong cuộc sống và trong xã hội.

Một người khi được hỏi: Trên đời sợ gì nhất? đã trả lời: sợ nhất là con người. Con người vừa cao cả vừa thấp hèn, vừa đáng kính vừa đáng sợ. Con người là tác nhân làm nên những kỳ vĩ, nhưng cũng là lý do gây nên bao đau khổ. Trí thông minh của con người có thể đem lại những kỳ tích giúp thăng tiến và phát triển, đồng thời cũng có thể gây tai họa hủy diệt chết chóc hoàng loạt. Con người vừa là điểm kết nối yêu thương, vừa là nguyên nhân gây chia rẽ bất hòa. Chính vì vậy mà con người trở nên "đáng sợ" nhất. Nhiều khi người ta đem hình ảnh ma quỷ ra để đe dọa người khác. Tuy vậy trong thực tế, chưa bao giờ thấy ma quỷ hiện hình giết người, mà chỉ có những người đang sống giết nhau một cách dã man. Lòng đố kỵ, tham lam đã khiến con người đoạt mạng sống của đồng loại một cách không thương tiếc, để lại những hậu quả khôn lường. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy nhận ra đâu là nguồn gốc của tội lỗi. Tội lỗi không phải là điều gì từ bên ngoài, nhưng xuất phát từ trong chúng ta. Chính con người là nguyên nhân gây ra tội lỗi và đau khổ cho bản thân và cho đồng loại. Trong kinh "Cải tội bảy mối" chúng ta thấy những "mối tội đầu" đều đến từ tà ý và ích kỷ của con người: kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, lười biếng việc đạo đức. "Tâm bình thế giới bình". Tập luyện để có được tâm hồn bình an, đó là điều kiện quan trọng để góp phần xây đắp an bình trong cuộc sống và trong xã hội.

Vào thời Chúa Giêsu, một số lớn những kinh sư và người biệt phái thường chú trọng tới những thủ tục bề ngoài mà coi thường tinh thần của lề luật và lãng quên đức bác ái. Chúa đã nhắc lại giáo huấn của ngôn sứ Isaia: "Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta". Rồi Chúa kết luận: "Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm". Kinh sư và biệt phái là những người học hành uyên thâm, họ có uy tín trong các cộng đoàn Do Thái, và có vị trí quan trọng trong các buổi hội họp. Chính những "bậc vị vọng" ấy đang bị Chúa kết án nặng nề và coi họ như những kẻ đạo đức giả. Họ lạm dụng khái niệm thánh thiêng và trần tục, và đã tự đặt ra rất nhiều quy định rườm rà và tỉ mỉ. Những quy định này, thay vì giúp cho con người nên thánh, lại đặt trên vai họ những gánh nặng không kham nổi. Những công việc bình thường hằng ngày như rửa tay, rửa chén, rửa bát, họ đã biến thành những nghi thức tôn giáo để kết tội người dân. Chúa Giêsu đã phê phán quan niệm ấy, và mời gọi họ chú trọng đến nhân vị, tức là chính con người. Bởi lẽ, những quy định, luật lệ được thiết lập là phục vụ con người và giúp họ hướng thượng và nên trọn lành.

Cũng giống như những kinh sư và người biệt phái ngày xưa, nhiều khi chúng ta chỉ chú trọng tới những gì là "xã giao", "lễ nghi", "thủ tục" mà quên đi mục đích quan trọng của lề luật, đó là giúp ta nên thánh trước mặt Chúa và trước mặt anh chị em. Vì quá chú trọng đến những thủ tục và truyền thống, nhiều khi những tương giao của chúng ta trở nên giả hình, gượng ép, thậm chí là giả dối.

Niềm tự hào của dân tộc Do Thái ngày xưa, cũng là niềm vinh dự của người Kitô hữu hôm nay, đó là được Chúa luôn hiện diện giữa cộng đoàn những người tin vào Người. Ông Môisen nhắc người Do Thái đừng quên điều ấy. Giáo Hội hôm nay cũng nhắc chúng ta như vậy. Trải qua những sóng gió trong cuộc lữ hành sa mạc, trên đường về Đất Hứa, người Do Thái càng nhận ra quyền năng của Chúa cũng như tình yêu thương Ngài dành cho họ. Trước tình thương ấy, Ông Môisen đã dặn dò: "Anh em phải giữ và đem ra thực hành những mệnh lệnh của Đức Chúa, vì nhờ đó mà anh em em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh". Nhờ tin vào Chúa mà dân tộc Do Thái trở nên vĩ đại. Hôm nay, Giáo Hội của Chúa như cây nho vươn cành ra khắp thế giới, bao phủ địa cầu và đang sinh hoa kết trái, trở thành một vương quốc vĩ đại của Thiên Chúa.

Biết bao lần chúng ta tham dự các nghi thức phụng vụ mà tâm hồn chúng ta xa Chúa. Có nhiều khi chúng ta giống như những người kinh sư và người biệt phái, chỉ chú trọng đến những nghi thức bề ngoài mà coi nhẹ tâm tình cầu nguyện, là điều cốt lõi để làm thành việc tôn thờ đích thực. Thánh Phaolô đã khuyên chúng ta: "Hãy khiêm tốn đón nhận Lời được gieo vào lòng chúng ta... Hãy đem Lời ấy ra thực hành chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình" (Bài đọc II). Đối với thánh nhân, lòng đạo đức thật phải sinh ra hoa trái là lòng bác ái và dấn thân phục vụ người nghèo, giúp họ tìm được niềm vui trong cuộc sống.

Vì tội lỗi đến từ con người. Nếu mỗi chúng ta chú tâm đến việc canh tân đổi mới cuộc đời, cuộc đời này sẽ bớt đi những mâu thuẫn hận thù và bạo lực. Với tư cách là Kitô hữu, hãy thắp sắng cuộc đời bằng những nhân đức và bằng tình yêu thương, để rồi cuộc sống chan hòa và thấm đượm tinh thần Tin Mừng yêu thương. Trái tim an bình và thánh thiện là điều kiện không thể thiếu để kiến tạo hòa bình xung quanh chúng ta.

Sống không giận, không hờn, không oán trách
Sống mỉm cười với thử thách chông gai
Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai
Sống chan hòa với những người chung sống
Sống là động mà không xao động
Sống là thương mà chẳng vấn vương
Sống hiên ngang danh lợi ta coi thường
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến
(Sưu tầm).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật XXI Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 08-23-2018, 06:05 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Tin Và Trung Thành Với Đức Tin

Đức tin phải đi đôi với lòng trung thành và sự tín thác. Nên thánh chính là trung thành với đức tin đã lãnh nhận, và cố gắng mỗi ngày để đức tin ấy được trọn vẹn tinh tuyền nơi cuộc đời chúng ta.

Tin là chấp nhận một chuỗi những điều xem ra "vô lý" đối với lý trí con người. Chấp nhận sống theo đức tin là giống như người đứng bên này đỉnh đồi lao mình vào vòng tay Thiên Chúa, khi Ngài đứng đỉnh đồi bên kia. Chính vì thế, đức tin phải đi đôi với lòng trung thành và sự tín thác. Nên thánh chính là trung thành với đức tin đã lãnh nhận, và cố gắng mỗi ngày để đức tin ấy được trọn vẹn tinh tuyền nơi cuộc đời chúng ta.

Theo giáo lý của Giáo Hội, "Tín điều" là những điều buộc người tín hữu phải tin. Ai không tin những tín điều đã được Giáo Hội tuyên tín, thì người đó được kể như người không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội. Trong năm Chúa nhật kế tiếp, Phụng vụ giáo huấn chúng ta về Thánh Thể, khẳng định nơi Hình Bánh và Hình Rượu, có sự hiện diện trọn vẹn của Đức Giêsu. Công đồng Tridentinô ở thế kỷ thứ 16 đã khẳng định sự hiện diện này bằng ba trạng từ: đích thực (vraiment), thật sự (réelle) và theo bản thể (substantielle). Trong Bí tích Thánh Thể, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô hiện diện. Sự hiện diện này không thể giải thích bằng lý trí.

Trong lịch sử, đã có những phép lạ Thánh Thể cho thấy sau khi truyền phép, Bánh trở nên thịt thật, và những phân tích khoa học cho thấy phần thịt này có những tế bào như thịt người. Tuy vậy, không chỉ có những trường hợp vừa nêu mới là phép lạ, nhưng mỗi khi linh mục cử hành Thánh lễ, đọc lời "truyền phép", thì phép lạ xảy ra, đó là sự "biến đổi bản thể" của bánh và rượu để trở nên Mình và Máu Chúa Giêsu. Đức tin khẳng định với chúng ta điều ấy.

Cũng trong lịch sử, đã có những ý kiến bất đồng về Thánh Thể và làm cho Bí tích này trở nên một trong những nguyên nhân gây chia rẽ nghiêm trọng giữa các Kitô hữu. Vì Bí tích Thánh Thể là "Mầu nhiệm của đức tin", nên chỉ có đức tin và sự tuân phục mới giúp ta nhận ra sự cao quý của Bí tích này. Ngay khi Chúa Giêsu nói về Bánh hằng sống, người Do Thái, và ngay cả các môn đệ cũng đã có phản ứng rồi. Vì vậy, thời nào cũng có những người tin và những người không tin vào sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu trong Bí tích này.

Đoạn Tin Mừng được đọc trong thánh lễ hôm nay là phần kết thúc cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh hằng sống. Trước những lời tuyên bố của Chúa Giêsu, một số người thấy chói tai và dần dần bỏ đi. Phần lớn những người này đến với Chúa với ước mong được nhận lãnh bánh nuôi sống thể xác, giống như phép lạ ngoạn mục Người mới làm cách đó vài ngày. Ở đây, Chúa lại nói về một thứ bánh thiêng liêng. Ai lãnh nhận Bánh này sẽ được sự sống đời này và sự sống vĩnh cửu đời sau. Khá nhiều người bỏ đi vì họ coi những điều Chúa Giêsu đang nói là ảo tưởng, phi thực tế. Niềm tin vào Bánh hằng sống cũng vấp phải phản ứng của chính một số môn đệ. Thánh Gioan đã viết một cách buồn bã: "Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa". Họ đã ra đi trong thất vọng, vì hình ảnh của họ vốn có về Đấng Thiên sai hoàn toàn khác biệt với sứ mạng và giáo huấn thực sự của Chúa Giêsu. Khi đối diện với những thử thách gian truân, người tín hữu được mời gọi bày tỏ lòng trung thành với Người. Lòng trung thành cần phải có để đón nhận những chân lý cao siêu mặc dù chưa lý giải thỏa đáng.

Thánh Phêrô, vị Tông đồ trưởng, đã chứng tỏ lòng trung thành ấy trong bối cảnh có nhiều người bỏ đi. Người ta thường nói ở đời "phù thịnh chứ không ai phù suy". Phêrô là một người can đảm. Ông đã "phù suy" khi tuyên thệ theo Chúa vào lúc dường như mọi người đã bỏ Người. Ông đã tìm được sự chọn lựa tốt nhất cho đời mình. Theo Chúa là lý tưởng và là sự sống còn của ông, như lời ông nói: "Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời". Có lẽ ông cũng đã đắn đo cân nhắc xem theo Chúa thì được những gì và mất những gì, như có lần ông đã đặt câu hỏi với Thầy mình. Giờ đây, Phêrô như một người từng trải kinh nghiệm chắc chắn trong cuộc đời. Ông khẳng khái tuyên xưng Đức tin vào Chúa, dù mọi người rút lui. Sau này, chúng ta còn được nghe lời tuyên bố của Phêrô trong bữa tiêc ly: "Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng!" (Lc 22,34). Lời tuyên bố này về sau không được tuân giữ, do việc Phêrô chối thày mình ba lần, nhưng không vì thế mà làm giảm lòng nhiệt thành, hăng say và tâm huyết của vị Tông đồ trưởng.

Đời sống Kitô hữu là một lựa chọn. Chúng ta chọn Chúa là lý tưởng của đời sống chúng ta. Trước những cám dỗ và bon chen vì cơm áo gạo tiền, có những lúc chúng ta quên mất sự lựa chọn ấy. Bài đọc I kể với chúng ta, sau khi vào Đất hứa, ông Giôsuê đã tập hợp dân Do Thái ở một nơi gọi là Sikhem để cùng nhau nhìn lại hành trình sa mạc kéo dài 40 năm. Trong hành trình này, người Do Thái gặp nhiều gian nan thử thách. Có nhiều người phạm lỗi với Chúa do kiêu ngạo, ích kỷ và phạm các giới răn. Họ còn thờ lạy thần linh của các dân ngoại. Tại Sikhem, ông Giôsuê kêu gọi một cuộc thanh tẩy toàn dân, để dứt bỏ quá khứ, bước sang một trang sử mới. Vị thủ lãnh mời gọi dân hãy chọn lựa Chúa và sống theo giới luật Ngài đã truyền ban cho các bậc tổ tiên. "Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác". Lời tuyên xưng của dân chúng thật mạnh mẽ quyết liệt, thể hiện sự gắn bó trung thành với Đấng đã cứu họ khỏi Ai Cập và dẫn đưa họ vào Đất hứa.

Có thể vào những lúc đen tối của cuộc đời, Chúa hỏi chúng ta: "Con có muốn bỏ Thầy mà đi không?". Xin cho chúng ta có đủ can đảm để thưa như thánh Phêrô: "Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời". Được như vậy thì thật hạnh phúc cho chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật XX Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 08-16-2018, 10:49 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


"Ta Hãy Lấy Đức Tin Bù Lại"

Con người không thể dùng lý trí mà chứng minh sự hiện diện của Chúa trong Hình Bánh và Hình Rượu. Chính vì vậy, trong bài ca kính Mình Thánh, chúng ta hát: "Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì" (Ca kính Thánh Thể - Tantum ergo).

Trong bốn Chúa nhật liên tiếp, Lời Chúa trong Phụng vụ đều mang nội dung chính là giáo huấn về Bí tích Thánh Thể. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của Bí tích này đối với đời sống của Kitô hữu. Công đồng Vatican II đã khẳng định: "Thánh Thể là nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống Kitô hữu" (GH 11). Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo cũng tiếp nối giáo huấn của Công đồng để tái xác quyết điều này (x. SGLGHCG số 1324). Tuy vậy, không ít Kitô hữu hiểu và ý thức được điều này. Trong một bài chia sẻ về Bí tích Thánh Thể, Phó tế Mike Houghton cho biết, theo kết quả một cuộc thăm dò, có đến trên 50% tín hữu Công giáo không tin sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Điều này dễ hiểu, vì "đây là màu nhiệm đức tin". Con người không thể dùng lý trí mà chứng minh sự hiện diện của Chúa trong Hình Bánh và Hình Rượu. Chính vì vậy, trong bài ca kính Mình Thánh, chúng ta hát: "Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì" (Ca kính Thánh Thể - Tantum ergo).

Những đoạn Tin Mừng được đọc trong bốn Chúa nhật (từ Chúa nhật 16 đến Chúa nhật 20 Thường niên, năm B) đều được trích từ Tin Mừng Thánh Gioan, và khởi đi từ việc Chúa Giêsu làm "dấu lạ" cho bánh hóa ra nhiều. Từ năm cái bánh lúa mạch và hai con cá của một bé trai mang theo, Chúa đã nhân ra nhiều và nuôi năm ngàn người ăn no nê dư thừa, không kể phụ nữ và trẻ em. Việc nhân bánh ra nhiều được những người đương thời đón nhận nhiều cách khác nhau. Trước tình trạng này, Chúa Giêsu đã tranh luận với người Do Thái về đề tài "bánh hằng sống". Khởi đi từ bánh vật chất và manna trong hành trình sa mạc, Chúa Giêsu đã từng bước mạc khải cho họ về Bánh Trường sinh và quả quyết: "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống". Nếu chỉ căn cứ vào ngôn từ, đây quả là một điều mạo phạm và kiêu ngạo. Người Do Thái đã lập tức phản ứng trước lời tuyên bố này: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?". Với những lời lẽ khôn ngoan và đầy uy quyền, Chúa Giêsu đã chứng minh cho họ sự khác biệt giữa manna và Bánh Hằng Sống mà Người sẽ ban. Tổ tiên của người Do Thái đã ăn manna và đã chết. Những ai ăn Bánh Hằng Sống là Thịt của Người thì sẽ được trường sinh. Nhờ kết hợp với Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, các tín hữu được hiệp thông trong tình yêu viên mãn của Ba Ngôi Thiên Chúa.

"Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?". Đây cũng là vấn nạn được đặt ra, mỗi khi chúng ta nói về Bí tích Thánh Thể. Bởi lẽ điều mà chúng ta nhìn thấy sau khi truyền phép, không là gì khác một tấm bánh và một ly rượu bình thường. Tuy vậy, Thiên Chúa quyền năng đã sáng tạo mọi sự từ hư vô, có lẽ nào Người không làm cho bánh hóa thành Thịt và rượu hóa thành Máu của Người? Như thế, sự hiện của Chúa Giêsu chỉ có thể được đón nhận bằng đức tin và lòng yêu mến. Tin vào quyền năng vô biên của Chúa và vào tình thương của Người. Tình thương ấy đã thể hiện qua việc trao ban chính thân mình làm của ăn của uống cho con người. Chính vì vậy, "ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì". Nếu giác quan thể lý bất lực trước huyền nhiệm Thánh Thể, thì đức tin lại khẳng định với chúng ta: "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (Lc 1,37).

Thánh Thể là bữa tiệc Chúa dọn sẵn cho chúng ta. Tác giả sách Châm ngôn đã diễn tả bữa tiệc chính Đức khôn ngoan thết đãi những ai thiện chí và thành tâm kiếm tìm Chúa. Ai đến với bàn tiệc này sẽ được hạnh phúc no nê (Bài đọc I). Người Kitô hữu vừa cung kính tôn thờ Thánh Thể, vừa sống ý nghĩa của Thánh Thể trong cuộc đời. "Hãy làm việc này mà nhớ đến Thày". Đó là lời căn dặn của Chúa Giêsu khi Người lập Bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu đã trao ban chính bản thân mình cho chúng ta. Chúng ta cũng phải noi gương Người để sống tinh thần chia sẻ, cảm thông và liên đới với tha nhân, nhất là những người nghèo khổ cô đơn và bất hạnh. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông thư "Mane Nobiscum Domine – lạy Chúa, xin ở lại với chúng con" đã viết: "Mỗi lần ta dự phần vào Mình và Máu Người, chúng ta đã thực sự gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta không thể giữ lại cho riêng mình niềm hân hoan mình đã cảm nghiệm. Việc gặp gỡ riêng tư với Chúa Kitô cách thường xuyên được tăng triển và đào sâu trong Bí tích Thánh Thể khơi lên trong Giáo Hội và nơi mỗi tín hữu một lời mời gọi khẩn thiết cho việc làm chứng và rao giảng Tin Mừng" (Mane Nobiscum Domine, số 24).

Thánh Thể vừa nuôi dưỡng đức tin của chúng ta, vừa giúp chúng ta canh tân đổi mới để nên giống Chúa. Sự canh tân này cần có nỗ lực cộng tác từ phía chúng ta. Thánh Phaolô khuyên mọi người hãy tận dụng thời gian hiện tại, từ bỏ mọi nết xấu như chơi bời say sưa, rượu chè trụy lạc. Hãy dùng thời gian để cầu nguyện và tôn vinh Chúa bằng những bài thánh ca cùng Thánh vịnh. Đây chính là một hình ảnh lý tưởng của cộng đoàn tín hữu, được thấm nhuần tâm tình cầu nguyện và tình bác ái huynh đệ. Bí tích Thánh Thể là mối dây liên kết mọi người trong tình hiệp nhất yêu thương, vì mọi người đều được nuôi dưỡng bằng một lương thực thiêng liêng là thịt và máu Đức Kitô.

"Ta không được để đời mình xa lìa Thánh Thể. Làm như thế, ta sẽ suy nhược. Người ta hỏi: 'Các sơ tìm đâu ra sức mạnh và niềm vui để phục vụ ?' - Trong Thánh lễ không phải chỉ có việc rước lễ, mà thánh lễ còn làm dịu đi cơn đói của Chúa Giêsu. Người nói: 'Hãy đến với Ta'. Người đói chính linh hồn ta" (Mẹ Têrêsa Calcutta – được trích trong Youtcat, Tr. 176).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật XIX Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 08-09-2018, 04:09 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Thần Lương Ban Sức Mạnh

Giữa cuộc đời đầy xáo trộn bất an, người tín hữu rất cần có nguồn trợ lực siêu nhiên, để có thể đứng vững trước phong ba bão tố dồn dập bủa vây. Rất nhiều chứng từ cho thấy nhờ sức mạnh của Thánh Thể, mà người tin Chúa tìm được sức mạnh và hy vọng.

Thân xác con người cần phải được bồi bổ để đủ sức tồn tại và lớn lên mỗi ngày. Cũng vậy, đời sống linh hồn cần được nuôi dưỡng bằng lương thực thiêng liêng. Người tín hữu tin vào sức mạnh được Chúa ban qua bí tích Thánh Thể, là Thần Lương trợ lực để sống an bình, nhất là để vượt thắng mọi khó khăn thử thách. Nhờ Thần Lương này, người tín hữu còn được nếm trước vinh quang đời sau, tức là hạnh phúc Chúa dành cho các thiên thần và các thánh trên thiên đàng.

Bài đọc I kể lại việc ngôn sứ Elia trên đường chạy trốn trước sự rượt đuổi của vua Akháp. Ông mệt mỏi vì đường xa, lại thêm sự sợ hãi vì bị săn đuổi, nên ông đã buồn rầu và xin Chúa cho chết. Chúa đã sai thiên sứ mang cho ông bánh và nước. Nhờ thần lương này, ông đã đủ sức đi đến núi của Thiên Chúa, và nơi đây, ông được gặp gỡ Ngài. Hành trình của Elia cũng giống như hành trình của chúng ta. Mỗi ngày, chúng ta phải đối diện với biết bao thử thách gian nan. Có những lúc tưởng chừng chúng ta bị đè bẹp trước sức nặng của cuộc đời. Như Elia trong lúc kiệt sức, chúng ta hãy đón nhận lương thực thiêng liêng Chúa ban để lấy lại nghị lực, tiếp tục bước đi trong hành trình cuộc đời. Lương thực ấy là Thánh Thể, là Thần Lương giúp ta bền sức đi đến đích.

Tin Mừng trong Phụng vụ hôm nay tiếp tục ghi lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh trường sinh. Chúa Giêsu nhấn mạnh tới khía cạnh thần linh của bánh mà Người đang nói tới. Cũng như người Do Thái chỉ nhận ra nơi Chúa Giêsu là con ông Giuse thợ mộc, nên họ khó nhận ra bánh mà Đức Giêsu hứa ban. Đây là bánh từ trời, cũng như Đức Giêsu từ trời xuống, vì thế, bánh này là lương thực thiêng liêng Chúa ban. Nếu ngày xưa, Thiên Chúa nuôi dân trong hành trình sa mạc bằng Manna, thì nay, chính Chúa Giêsu là Manna từ trời xuống. Cũng như bánh cần thiết cho sự sống thân xác, bánh thiêng liêng là Chúa Giêsu cần thiết cho sự sống thần linh nơi chúng ta. "Bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống". Nếu chúng ta có mặt lúc bấy giờ, chắc hẳn chúng ta cũng sẽ ngạc nhiên như những người Do Thái, khi nghe Chúa Giêsu nói về thịt của Người. Nếu màu nhiệm nhập thể dẫn tới việc "Ngôi Lời đã trở thành xác thịt" (Ga 1,14", thì nay, "xác thịt đã trở thành Bánh" (Ga 6,51). Khi nghe Chúa Giêsu nói, Người sẽ lấy thịt mình cho họ ăn, người Do Thái coi đây là sự mạo phạm. Liên hệ với cuộc khổ nạn và được soi sáng bởi mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu, người Kitô hữu nhận ra nơi Thánh Thể chính là thịt và máu Chúa Giêsu, Đấng Cứu nhân độ thế, là Thần Lương giúp chúng ta được tăng trưởng mỗi ngày.

Giữa cuộc đời đầy xáo trộn bất an, người tín hữu rất cần có nguồn trợ lực siêu nhiên, để có thể đứng vững trước phong ba bão tố dồn dập bủa vây. Rất nhiều chứng từ cho thấy nhờ sức mạnh của Thánh Thể, mà người tin Chúa tìm được sức mạnh và hy vọng. Khi chúng ta ăn uống và hưởng dùng lương thực phần xác, thì những thứ thực phẩm được nghiền nát, được tiêu hóa và trở thành chất bổ dưỡng nuôi cơ thể. Như thế lương thực trở thành máu thịt của ta. Tuy vậy, đối với bí tích Thánh Thể thì ngược lại: Khi ta rước lễ, Thánh Thể biến đổi tâm hồn ta để làm cho ta nên giống Chúa Giêsu, tức là làm cho ta trở nên "Thánh Thể" ngay trong đời sống hằng ngày. Thánh Augustinô viết: "Ta là thức ăn của người mạnh, hãy lớn lên và ăn Ta. Nhưng con không biến đổi Ta trong con như biến đổi một thức ăn, mà đúng ra là con sẽ được biến đổi thành Ta". Qua cách giải thích của Thánh Augustinô, chúng ta tin rằng con người được thần linh hóa, được nên giống Chúa nhờ việc năng lãnh nhận Bí tích này. Thánh Tôma Aquinô cũng khẳng định: "Hiệu quả đích thực của Bí tích Thánh Thể là chuyển đổi con người thành Thiên Chúa". Nhờ năng kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể, cuộc sống của chúng ta sẽ được canh tân đổi mới và có thể sống như Thánh Phaolô khuyên dạy: "Anh em hãy đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô. Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta" (Bài đọc II). Như Đức Giêsu đã trao ban chính bản thân mình, người tín hữu được mời gọi bắt chước Chúa, dấn thân phục vụ, sống vì tha nhân, để trở nên những cánh tay nối dài của Người giữa trần gian.

"Bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi để cho thế gian được sống". Với lý trí tự nhiên và theo suy luận của con người, đây là điều không tưởng và khó chấp nhận. Chẳng có ai có thể làm cho thịt mình thành bánh tặng người khác. Chỉ có Thiên Chúa quyền năng mới có thể làm được điều kỳ diệu ấy. Đức Giêsu là Ngôi Lời nhập thể, là Thiên Chúa quyền năng, nên đối với Người, mọi sự đều có thể. Thánh Thể là "Mầu nhiệm đức tin", nghĩa là chỉ có đức tin mới giúp ta chấp nhận và tôn thờ Đấng Cao Cả đang ngự trong Hình Bánh và Hình Rượu. Người đang hiện diện giữa chúng ta. Hãy đến đón nhận để rồi chúng ta được Thần Lương ban sức mạnh trong cuộc lữ hành trần thế. Với nghị lực siêu nhiên được trao ban qua Bí tích Thánh Thể, như ngôn sứ Elia, chúng ta sẽ đến "núi của Thiên Chúa" để gặp gỡ và chiêm ngắm vinh quang của Ngài.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật XVIII Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 08-02-2018, 08:18 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Cơn Đói Của Con Người Và Quyền Năng Của Thiên Chúa

Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, nhưng còn bởi Lời Thiên Chúa. Qua lời tuyên bố này, Chúa khẳng định với chúng ta, cùng với sự đói khát lương thực, con người luôn luôn cần được dưỡng nuôi bởi Lời Chúa. Đó là cơn khát thiêng liêng của con người trải qua mọi thời đại. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể lấp đầy những khát vọng sâu thẳm của con người, vì Ngài là Đấng quyền năng và là Chủ tể mọi loài.

Những người đã trải qua đói khát trong tù, hoặc khi bị lạc trong rừng thường kể lại những cảm giác kinh hoàng. Đó là lúc họ phải đối diện với sự chết. Vì thế, họ có thể ăn bất cứ thứ gì để bớt cơn đói. Những lúc đó mới thấy nhu cầu lương thực cần thiết như thế nào đối với đời sống con người. Đó cũng là kinh nghiệm mà dân Do Thái đã trải qua trong hành trình sa mạc. Tác giả sách Xuất hành (Bài đọc I) đã kể lại tình trạng đói khát của dân. Trong lúc túng cực đó, họ đã phàn nàn kêu trách hai anh em ông Môisen và ông Aaron. Họ tiếc nuối thời còn sống trong Ai Cập, vì ở đó họ được ăn thịt no nê. Lúc này, họ sẵn sàng đánh đổi lương thực để tái chấp nhận cảnh sống nô lệ cơ cực. Bánh ăn luôn là cơn cám dỗ ngọt ngào, làm cho con người có thể đánh đổi mọi sự, kể cả mạng sống để đạt được thứ làm cho họ khỏi đói. Sự đói khát nơi những người nghèo khổ cũng là một thách đố lớn của mọi thời đại xã hội. Trong bối cảnh khó khăn đói khát, người ta kêu trách Chúa, thậm chí phủ nhận sự hiện hữu và quyền năng của Ngài.

Cám dỗ về bánh ăn cũng là kinh nghiệm Chúa Giêsu đã trải qua trong sa mạc. Sau thời gian chay tịnh, ma quỷ đã thách thức Chúa hãy làm cho đá biến thành bánh. Chúa Giêsu đã khước từ lời cám dỗ này, và tuyên bố: con người không chỉ sống bằng cơm bánh, nhưng còn bởi Lời Thiên Chúa. Qua lời tuyên bố này, Chúa khẳng định với chúng ta, cùng với sự đói khát lương thực, con người luôn luôn cần được dưỡng nuôi bởi Lời Chúa. Đó là cơn khát thiêng liêng của con người trải qua mọi thời đại. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể lấp đầy những khát vọng sâu thẳm của con người, vì Ngài là Đấng quyền năng và là Chủ tể mọi loài.

Mặc dù dân Do Thái kêu trách ông Môisen, người đại diện của Chúa, Chúa vẫn ra tay cứu giúp họ. Man-na và chim cút là lương thực Chúa gửi đến nuôi dân đang tiến về Đất hứa. Chắc chắn đây không phải là hiện tượng tự nhiên, nhưng là phép lạ Chúa làm, vừa để tỏ bày quyền năng Chúa, vừa tỏ lòng thương xót của Ngài đối với dân. Trong suốt thời gian dân Do Thái lữ hành sa mạc, mỗi ngày Thiên Chúa đều nuôi dưỡng họ bằng hai thứ lương thực này, cho đến khi họ đã đến đất định cư, thì không còn man-na và chim cút nữa.

Câu chuyện man-na và chim cút trong sa mạc in sâu nơi tiềm thức mỗi người dân Do Thái. Họ coi đó là bằng chứng của lòng thương xót Chúa dành cho dân riêng Ngài chọn. Khi nhắc lại sự kiện này, Chúa Giêsu muốn giới thiệu những bằng chứng hùng hồn hơn về tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Đó là Bánh Trường Sinh mà Chúa Giêsu ban tặng. Bánh ấy không đơn thuần là vật chất, mà là chính Thịt và Máu Chúa Giêsu, là lương thực thiêng liêng để nuôi sống con người và biến đổi làm cho cho họ được trở nên thần linh, được tham dự vào sự sống của Đấng Tối cao. Cuộc tranh luận với người Do Thái trong Tin Mừng Thánh Gioan (chương 6) cũng là mạc khải từng bước giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể. "Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ". Đây vừa là lời khích lệ, vừa là lời hứa cho những ai thành tâm đón nhận lương thực thiêng liêng trong đức tin chân thành và tâm tình yêu mến.

Con người hôm nay không chỉ đói lương thực, nhưng còn đói khát kiến thức, văn hóa, và nhất là đói khát tình thương. Điều nghịch lý là trong khi của cải càng ngày càng phong phú, kỹ nghệ máy móc càng ngày càng tinh vi, thì tình người càng ngày càng nghèo đi. Sự nghèo về tình người dẫn đến nghèo về cơm bánh, vì khi người ta sống ích kỷ thì không có sự chia sẻ giúp đỡ nhau. Giáo Hội luôn kêu mời và cổ võ những hoạt động thiết thực nhằm giải phóng con người khỏi đói nghèo, dốt nát và hận thù. Sống màu nhiệm Thánh Thể cách đích thực là cảm thông chia sẻ với người nghèo đói, để họ được sống theo đúng phẩm giá con người và phẩm giá của con Thiên Chúa. Qua Giáo Hội và qua mỗi Kitô hữu, Thiên Chúa vẫn đang đến cứu giúp những người nghèo khó bất hạnh, để nâng đỡ họ và giúp họ vững bước trong đường đời.

Như dân Do Thái xưa trong hành trình sa mạc, chúng ta đang sống trong cuộc lữ hành trần gian. Cuộc sống đan xen những vui buồn, và đầy những gian nan trắc trở. Giữa những buồn vui trắc trở ấy, chúng ta cần được Chúa dưỡng nuôi thêm sức. Bánh trường sinh mà Chúa Giêsu đã hứa, chính là bản thân Người, tự hiến để nên của ăn của uống thiêng liêng cho chúng ta. Thánh Phaolô khuyên chúng ta, một khi lãnh nhận của ăn thiêng liêng là Mình và Máu Chúa, cuộc đời của chúng ta phải được biến đổi: "Anh em hãy cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em và mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện". Con người mới mà Thánh Phaolô nói tới, chính là con người được thần linh hóa nhờ việc kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể, nhờ vậy, chúng ta nên một với Người và hình ảnh của Người tỏa sáng nơi cuộc đời chúng ta.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật XVII Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 07-26-2018, 07:28 AM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Hãy Dọn Cho Họ Ăn

"Hãy dọn cho họ ăn", lời mời gọi không dừng lại ở sự chia sẻ vật chất, nhưng nhắc đến mọi khía cạnh đa dạng của cuộc sống. Thánh Gioan Phaolô II đã mong ước mỗi cộng đoàn Kitô hữu trở nên những "Cộng đoàn Thánh Thể", tức là cộng đoàn lấy Thánh Thể làm trung tâm cho mọi hoạt động, liên kết với nhau trong tình bác ái yêu thương để diễn tả hình ảnh sống động của Giáo Hội, là Thân Thể Đức Kitô và là phác thảo đời sau.

Thời nào cũng vậy, con người luôn có nhu cầu cần lương thực. Đó là nhu cầu căn bản của con người, như người ta thường nói: "Có thực mới vực được đạo". Vì yêu thương, Thiên Chúa đã tạo thành con người và đặt họ trong vũ trụ. Ngài cũng dùng những sản phẩm từ thiên nhiên để nuôi sống con người. Nếu biết sử dụng đúng mức và công bằng, trái đất này không bao giờ thiếu lương thực nuôi sống con người. Tuy vậy, trong thực tế, mức sống của mọi người lại khác nhau. Hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo càng ngày càng trở nên nghiêm trọng. Trên thế giới luôn có những người nghèo khổ đói ăn, trẻ em suy dinh dưỡng, người bệnh không có thuốc, trong khi đó lại có những người giàu ăn tiêu phung phí. Trong bối cảnh đó, Lời Chúa hôm nay kêu mời chúng ta: "Hãy dọn cho họ ăn". Đây là lời mời gọi chia sẻ tinh thần và vật chất để xoa dịu nỗi đau của đồng loại và xây dựng một xã hội công bằng.

"Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?". Khi viết lại câu hỏi của Chúa Giêsu, Tác giả Gioan còn ghi chú thêm: Người có ý hỏi thử ông Philipphê, vì chính Người biết việc Người sắp làm. Việc Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng, vừa chứng minh quyền năng thiên sai của Người, vừa nói lên sự quan tâm chăm sóc của Chúa dành cho những ai nhiệt tâm theo Người vào tận sa mạc. Qua đó, Chúa khẳng định: những ai tin cậy phó thác nơi Chúa, Người sẽ không bỏ rơi họ. Đời sống cá nhân của mỗi tín hữu chúng ta ít nhiều đã chứng minh điều đó. Có những lúc ngặt nghèo túng quẫn, Chúa đã ra tay phù giúp chúng ta. Nhiều khi chúng ta không nhận ra sự can thiệp diệu kỳ của Chúa, mà lại coi đó như một điều ngẫu nhiên. Hôm nay cũng như trong suốt lịch sử, Thiên Chúa vẫn đồng hành với chúng ta và vẫn sẵn sàng ban cho chúng ta những ơn cần thiết trong cuộc đời.

"Hãy dọn cho họ ăn", đó là lời mời gọi chia sẻ với tha nhân. Xã hội văn minh hôm nay đang tạo ra những "cỗ người máy", sống vô cảm trước nỗi đau của người khác. Một số người làm ăn phát đạt giàu có lại khép lòng trước người nghèo và những hoạt động công ích. Sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn gửi gắm chúng ta qua việc hóa bánh ra nhiều, đó là sự chia sẻ với tha nhân. Những chuyên viên nghiên cứu khẳng định rằng, nếu của cải vật chất trên trần gian này được phân phối đồng đều, thì sẽ không còn người đói khát và nghèo khổ. Chúng ta vui mừng vì những năm gần đây, ngày càng có nhiều người quan tâm đến những hoạt động từ thiện, giúp đỡ người nghèo khó bất hạnh và nạn nhân thiên tai. Đó là những điểm sáng bừng lên giữa đêm đen, khẳng định rằng, trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn có những tấm lòng nhân ái. Bên cạnh đó, hằng năm đều có những người cán bộ lợi dụng chức quyền ăn chặn tiền hỗ trợ dành cho người nghèo, làm mất niềm tin và ảnh hưởng đến quyền lợi của người nghèo.

Có người đặt câu hỏi: "Tại sao Chúa không tiếp tục nhân bánh ra nhiều để nuôi con người như được thuật lại trong Tin Mừng?". Chúng ta nhớ lại lời Chúa quở trách người Do Thái, vì họ tìm Chúa không phải vì lòng yêu mến hay vì thấy những dấu lạ, nhưng vì đã được ăn bánh no nê hôm trước (x. Ga 6, 26). Người không muốn biến đức tin của con người thuần túy vì mục đích trần tục. Thiên Chúa cũng không phải là một người giữ kho, ai cần thì đến xin phát chẩn. Hơn nữa, Chúa Giêsu có thể phán một lời để có số bánh nuôi dân chúng, nhưng Người lại làm bánh ra nhiều khởi đi từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá một bé trai mang theo. Qua đó, Chúa muốn dạy chúng ta: những điều kỳ diệu khởi đi từ sự sẻ chia của con người, nhờ quyền năng của Thiên Chúa.

"Hãy dọn cho họ ăn", giáo huấn về quyền năng của Thiên Chúa và lời mời gọi chia sẻ xuyên suốt bề dày lịch sử cứu độ. Ngôn sứ Elisê, với hai mươi chiếc bánh lúa mạch, đã nuôi hằng trăm người ăn no, nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Phép lạ kỳ diệu này đến từ lòng xác tín và cậy trông của Elisê. Ông tin chắc điều ông xin sẽ được Chúa nhận lời, và quả đúng như vậy (Bài đọc I).

Phép lạ nhân bánh được cả bốn Tin Mừng kể lại, như hình ảnh báo trước Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu sẽ thiết lập trong bữa Tiệc ly. Nếu ngày xưa, Chúa Giêsu đã hóa bánh ra nhiều để nuôi năm ngàn người trong sa mạc, thì hôm nay, trên bàn thờ khắp thế giới, Chúa vẫn đang tiếp tục hiến mình làm của nuôi sống các tín hữu. Nhờ của ăn thiêng liêng là Bí tích Thánh Thể, chúng ta được nuôi dưỡng và tăng thêm sức mạnh. Bí tích Thánh Thể cũng cho chúng ta được hiệp thông với Chúa và hiệp thông với anh chị em mình. Tình hiệp thông giữa các tín hữu được so sánh với một thân thể con người, gồm nhiều bộ phận mà làm nên sự duy nhất, nhờ vậy mà mọi tín hữu có cùng một đức tin, một phép rửa, một niềm hy vọng, vì cùng là con Thiên Chúa, Đấng là Cha chung của chúng ta (Bài đọc II).

"Hãy dọn cho họ ăn", lời mời gọi không dừng lại ở sự chia sẻ vật chất, nhưng nhắc đến mọi khía cạnh đa dạng của cuộc sống. Thánh Gioan Phaolô II đã mong ước mỗi cộng đoàn Kitô hữu trở nên những "Cộng đoàn Thánh Thể", tức là cộng đoàn lấy Thánh Thể làm trung tâm cho mọi hoạt động, liên kết với nhau trong tình bác ái yêu thương để diễn tả hình ảnh sống động của Giáo Hội, là Thân Thể Đức Kitô và là phác thảo đời sau.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật XVI Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 07-19-2018, 05:29 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Vị Mục Tử Chạnh Lòng Thương

Giữa mớ hỗn độn của cuộc sống đời thường, Lời Chúa hôm nay nhắc chúng ta: hãy tìm định hướng cho cuộc đời mình. Hãy chọn lựa và đi theo Chúa vì Ngài là Mục tử của đời ta. Hình ảnh người mục tử chăm sóc đàn chiên giúp chúng ta tìm thấy ý nghĩa cuộc sống, thêm an tâm tin tưởng và phó thác nơi Ngài, vì Ngài là Cha nhân hậu và là Đấng giàu lòng xót thương.

Cuộc sống xung quanh ta đầy rẫy những bon chen tính toán. Những quay cuồng vật lộn, những lo toan cơm áo gạo tiền dễ làm ta lạc đường mất hướng. Có những lúc giật mình nhìn lại, ngỡ ngàng không biết mình sống cho ai, để làm gì và sẽ đi về đâu. Giữa mớ hỗn độn của cuộc sống đời thường, Lời Chúa hôm nay nhắc chúng ta: hãy tìm định hướng cho cuộc đời mình. Hãy chọn lựa và đi theo Chúa vì Ngài là Mục tử của đời ta. Hình ảnh người mục tử chăm sóc đàn chiên giúp chúng ta tìm thấy ý nghĩa cuộc sống, thêm an tâm tin tưởng và phó thác nơi Ngài, vì Ngài là Cha nhân hậu và là Đấng giàu lòng xót thương.

Người mục tử là một hình ảnh rất thân thương và gần gũi đối với dân tộc Do Thái, là dân chuyên sống bằng nghề du mục. Ảnh hưởng của người mục tử rất quan trọng, liên quan đến sự tồn vong của đàn chiên. Qua lời ngôn sứ Giêrêmia, Thiên Chúa khẳng định, chính Ngài là mục tử của vương quốc Israen, cũng là Vua lãnh đạo dân tộc này. Ngài chăm sóc, hướng dẫn và chúc lành cho dân. Lịch sử nhân loại cũng là lịch sử cứu độ. Từng trang sử đều in đậm dấu ấn do quyền năng và tình yêu thương của Chúa đối với nhân loại, đặc biệt đối với dân riêng Ngài đã chọn, tức là dân Do Thái. Dầu vậy, Thiên Chúa vẫn hứa ban cho dân Israen một vị vua trong tương lai. Vị vua này sẽ dẫn dắt dân trong sự công chính. Người sẽ là vị Vua Hòa Bình. Nhờ Người, Thiên Chúa và con người sẽ giao hòa, muôn nước sẽ sống trong bình an. Người ta không còn dùng gươm giáo để tiêu diệt nhau nữa, nhưng cùng nắm tay nhau xây dựng một thế giới nhân ái yêu thương.

Vị vua tương lai mà ngôn sứ Giêrêmia loan báo là chính Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể và Đấng Cứu độ trần gian. Tiếp nối giáo huấn của Cựu ước, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh người mục tử và đàn chiên, để nói về quyền năng của Người. "Ta là Mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành hiến mạng sống mình vì đàn chiên", Chúa Giêsu đã khẳng định như thế. Người là Mục tử tốt và cũng là Mục tử đích thực. Hai đặc tính này đi đôi với nhau và diễn tả sứ mạng Thiên sai của Người. Trong lịch sử cũng như ngày hôm nay, đã và đang có những mục tử giả hiệu, những mục tử không tốt. Những mục tử này, thay vì phục vụ đàn chiên, lại hành hạ và giết chết đàn chiên. Chúa Giêsu là Mục tử tốt và thật. Vị Mục tử Giêsu vừa quan tâm đến những người cộng tác là các môn đệ, vừa lo lắng cho đám đông dân chúng. Khi thấy các môn đệ mệt mỏi, Người đã bảo họ đi nghỉ ngơi cầu nguyện tĩnh dưỡng. Khi thấy dân chúng đông đảo đi theo Người, Người chạnh lòng thương trước nỗi khốn cùng về thể xác cũng như tinh thần của họ. Không chỉ những người đi theo Chúa vào tận nơi hẻo lánh, mà còn cả nhân loại đang đói khát tình thương, cũng đang rất cần sự nâng đỡ của Chúa, vì chỉ có Chúa mới có thể lấp đầy những khát vọng thâm sâu của con người.

Trước nỗi khốn cùng của cuộc sống, nhiều người đã chọn những giải pháp trần gian mà họ quên chạy đến với Chúa để xin Ngài hướng dẫn, chỉ lối đưa đường. Cũng có những người mù quáng đi theo những mục tử giả, tức là những cá nhân hoặc những trào lưu buông thả, vô thần, chủ trương lối sống duy vật chất và phủ nhận những giá trị thiêng liêng. "Chúa là Mục tử chăn dắt tôi", đó vừa là lời tuyên xưng đức tin, vừa là tâm tình phó thác của chúng ta, với tư cách là Kitô hữu. Trải qua hai mươi thế kỷ, biết bao sói dữ đã trở thành chiên lành, nhờ chuyên tâm đi theo vị Mục tử nhân lành dẫn dắt. Biết bao con chiên lạc đã trở về chính lộ nhờ thiện chí đón nhận lời giáo huấn của Người. Ý thức mình là con chiên trong đàn chiên đông đảo của Chúa, chúng ta hãy chân thành lắng nghe lời Người dạy và thực hiện lời Người nhủ khuyên. "Đường đi có Chúa chông gai con có sợ chi", tin vào sự dẫn dắt của Chúa giúp chúng ta vượt thắng mọi gian khó trên đường đời.

Hình ảnh vị Mục tử nhân lành cũng nhắc nhở những ai được Chúa trao nhiệm vụ lãnh đạo các cộng đoàn tín hữu, tức là Giám mục, linh mục, phải noi gương Đức Giêsu, Đấng đã đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống vì tha nhân. Bất kể thời nào và ở đâu, Giáo Hội luôn cần những mục tử tài đức, khiêm tốn và sẵn sàng phục vụ đàn chiên Chúa đã trao phó. Những vị lãnh đạo này rất cần đến sự nâng đỡ, cộng tác và cầu nguyện của các tín hữu.

Ngôn sứ Giêrêmia đã loan báo một vị Vua công chính đến để kiến tạo hòa bình, đó là Đức Giêsu Kitô. Thánh Phaolô tiếp tục quảng diễn sứ vụ thiên sai của Đức Giêsu, tức là giao hòa thế gian với Thiên Chúa và giao hòa con người với nhau. Người đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa dân Do Thái với các dân, tiêu diệt mối thù nghịch, liên kết mọi người và làm thành gia đình của Thiên Chúa (Bài đọc II). Gia đình này là đàn chiên đông đảo, không còn phân biệt nguồn gốc, ngôn ngữ hay mọi dị biệt. Mỗi cộng đoàn đều là hình ảnh của gia đình ấy. Sự hiệp thông gắn bó, tình đoàn kết yêu thương giữa mọi cá nhân trong một cộng đoàn, chính là lời chứng hùng hồn cho sự dẫn dắt yêu thương của vị Mục tử nhân lành, luôn chạnh lòng thương và chúc lành cho những ai tin tưởng phó thác nơi Người.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item

Information Chúa Nhật XV Thường Niên – Năm B
Posted by: LongHai - 07-13-2018, 07:50 PM - Forum: Những Bài Giảng Lễ Chúa Nhật - No Replies


Lên Đường

Một khi được sai đi, người ngôn sứ không thể ù lỳ bất động, nhưng phải lên đường. Cuộc lên đường nào cũng đòi hỏi phải chấp nhận hy sinh, thoát ra khỏi vỏ bọc ích kỷ để đến với người khác.

Cuộc sống quanh ta muôn màu muôn vẻ. Mỗi ngày sống chỉ có ý nghĩa khi đem lại niềm vui và hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân. Cuộc sống cũng như dòng chảy, luôn mang theo sức sống đến với mọi người ta gặp gỡ và mọi nơi ta hiện diện. Thiếu niềm vui, cuộc sống sẽ trở nên nghèo nàn đơn điệu vô nghĩa. Cuộc sống cũng luôn là cuộc lên đường, mở rộng tầm nhìn, khám phá những điều kỳ diệu Thiên Chúa đang không ngừng thực hiện mỗi ngày, để ca tụng tôn vinh và loan báo tình thương của Ngài đối với nhân loại. Đối với người tin Chúa, mỗi ngày sống là một cuộc lên đường. Càng nhiệt thành lên đường, ta càng nhận ra cuộc đời này tươi đẹp.

Tiếp nối tư tưởng sứ mạng "ngôn sứ" được diễn giải trong Chúa nhật trước, Lời Chúa hôm nay muốn phác họa chân dung người ngôn sứ trong cuộc sống hiện tại. Ngôn sứ là người được sai đi nói lời của Chúa. Một khi được sai đi, người ngôn sứ không thể ù lỳ bất động, nhưng phải lên đường. Cuộc lên đường nào cũng đòi hỏi phải chấp nhận hy sinh, thoát ra khỏi vỏ bọc ích kỷ để đến với người khác. Đến với người khác là chấp nhận họ cùng với những khiếm khuyết và bất toàn của họ trong nhân cách cũng như mối tương giao.

Chẳng có ai sinh ra lập tức đã là ngôn sứ, nhưng phải rèn luyện bản thân và thiện chí học hỏi. Ngôn sứ Amos đã được Chúa gọi "bất thình lình" khi ông đang đi theo đàn chiên. Ông tự nhận mình không phải là một ngôn sứ cha truyền con nối. Nhưng một khi đã được Chúa gọi, ông làm hết sức mình để chuyển tải lời giáo huấn của Chúa cho dân (Bài đọc I). Chúa có quyền tự do chọn lựa và gọi những ai Ngài muốn. Tất cả đều có thể cộng tác với Ngài để thi hành nhiệm vụ ngôn sứ. Không có ai lấy cớ, sức khỏe, học vấn, địa vị xã hội... để khước từ sứ mạng cao quý này. Hiệu quả của nhiệm vụ ngôn sứ không đến từ sự khôn ngoan loài người, nhưng do Chúa làm nên. Ngôn sứ Giona đã lên đường với toan tính kiểu con người, tức là trốn tránh trách nhiệm Chúa trao vì quá nặng nề, nhưng kết cục, ông vẫn phải đến nơi Chúa muốn sai ông đến. Trong Cựu ước, có những vị ngôn sứ vì sợ cường quyền hoặc ham muốn bổng lộc, đã làm sai lệch ý Chúa. Những vị này đã phải chuốc lấy thất bại, vì tội bất trung.

Mỗi người tín hữu là một ngôn sứ được sai vào lòng đời. Thánh Mác-cô thuật lại việc Chúa Giê-su sai các môn đệ lên đường. Hành trang các ông mang theo trước hết là quyền năng và sức mạnh thần thiêng của Chúa. Nhờ quyền năng này, các ông có thể xua trừ ma quỷ, đẩy lui sự tấn công của thần ô uế và những mãnh lực tăm tối. Những người được sai đi không làm việc đơn lẻ, nhưng trong tình hiệp thông và liên kết với anh em mình. Đó là lý do tại sao Chúa sai "từng hai người đi". Sự liên kết này vừa tạo sức mạnh trong việc loan báo, vừa là một chứng từ sống động để giúp người khác nhận ra sứ điệp của Chúa.

Nhờ bí tích Thanh tẩy, chúng ta trở nên những ngôn sứ của Giao ước mới. Thánh Phao-lô khẳng định: Thiên Chúa đã chọn chúng ta từ trước khi tạo dựng thế gian, với mục đích để chúng ta nên thánh thiện và tinh tuyền trước mặt Ngài (Bài đọc II). Đây chính là vinh dự của người Ki-tô hữu. Vinh dự này đem lại cho chúng ta ân sủng và niềm vui. Ý thức mình được Thiên Chúa yêu thương cũng thúc bách chúng ta hãy loan báo tình yêu thương ấy cho mọi người. Đó chính là nhiệm vụ ngôn sứ mà chúng ta đã lãnh nhận khi được thanh tẩy.

Nhiệm vụ ngôn sứ gắn liền với những khó khăn chống đối và thử thách trăm chiều. Chúa Giê-su là vị Ngôn sứ vĩ đại khôn ngoan, đã chấp nhận những phản đối từ phía đồng bào của Người và đã phải chết trên thập giá, do sự ghen tương thù nghịch của họ. Những ngôn sứ tiếp nối Chúa Giê-su không thể khước từ thập giá, vì thập giá là con đường Chúa đã đi, là phương tiện Chúa đã sử dụng và là phong cách Chúa qua đó Chúa thể hiện tình thương vô biên của Chúa Cha đối với nhân loại.

Thi hành nhiệm vụ ngôn sứ qua lời rao giảng. Đó là điều đương nhiên. Tuy vậy, người Ki-tô hữu còn phải thực hiện chức năng này qua chính cuộc sống hằng ngày. Sự thân thiện, cởi mở, bao dung, nhân hậu, hiếu hòa, độ lượng... đều là những chứng từ tuyệt vời khẳng định chúng ta là môn đệ của Chúa Giê-su. Khi cố gắng trau dồi những đức tính trên đây, mặc dù chúng ta chẳng đi đâu xa, nhưng vẫn đang lên đường mỗi ngày. Với thiện chí của bản thân và ân sủng của Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ đem lại những hoa trái và thành công.

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng

Print this item