Thread Rating:
  • 0 Vote(s) - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Chúa Nhật III Phục Sinh – Năm B
#1
Information 

Chứng Nhân Của Đấng Phục Sinh

Xã hội hôm nay rất đang cần những chứng nhân của Đấng Phục sinh. Giữa đêm đen của thù hận, bạo lực, gian dối và mưu mô mánh lới, cần lắm những ánh sáng đến từ cuộc sống lương thiện, bao dung, trung thực.

Nếu chúng ta hôm nay được hồng phúc lãnh nhận đức tin Kitô giáo, đó là nhờ những chứng nhân Phục sinh đầu tiên, tức là các môn đệ của Chúa Giêsu. Hành trình chứng nhân của họ không đơn giản, vì lúc đầu, chính họ cũng không tin Chúa đã sống lại. Nhiều nơi trong Tân ước, cụ thể là bài Tin Mừng Thánh Luca hôm nay cho thấy điều đó. Khi Chúa Giêsu từ cõi chết đến với họ, họ tưởng Người là một bóng ma. Bằng việc ăn uống trước mặt họ và cho họ rờ tận tay để thấy đây là một thân xác thực sự, Chúa đã chứng minh, Người đã sống lại. Với những bằng chứng ấy, các môn đệ đã tin tưởng và vui mừng. Không những thế, họ còn trở nên những chứng nhân của Đấng Phục sinh.

Đối với khá nhiều Kitô hữu, ý nghĩa và thông điệp của lễ Phục sinh cũng chấm dứt cùng với những lễ nghi được cử hành ồn ào. Tệ hại hơn, có người chỉ coi ngày lễ này như một cuộc tưởng niệm đơn thuần, giống như tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hay một vị anh hùng dân tộc nào đó. Đối với họ, Đức Giêsu Phục sinh cũng chỉ như một "bóng ma", một ảo ảnh hay một vĩ nhân của lịch sử đã qua. Lời Chúa hôm nay muốn giúp chúng ta xác tín vào sự phục sinh của Chúa. Thánh Phêrô đã làm cho cả cử tọa tâm phục khẩu phục, vì chứng minh Thiên Chúa của Đức Giêsu cũng là Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, tức là Thiên Chúa của lịch sử, Đấng đã can thiệp và dẫn dắt các Tổ phụ của dân tộc Do Thái. Phụng vụ cũng muốn khẳng định với chúng ta, Đấng Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta và chúng ta hãy làm chứng nhân cho Người.

"Chính anh em là chứng nhân về những điều này!". Đây là một lệnh truyền của Đấng Phục sinh. Lệnh truyền này cũng là một trong những sứ mạng cốt lõi của đời sống Kitô hữu, là sứ mạng gắn liền với Bí tích Thanh tẩy. Bởi lẽ, Bí tích này trao cho người được thanh tẩy ba sứ mạng: Ngôn sứ, Tư tế và Vua. Chuyên tâm thực thi ba sứ mạng này, chính là làm chứng cho Đấng Phục sinh trong cuộc đời.

Hãy trở lại với những chứng nhân đầu tiên của Đấng Phục sinh, đó là Thánh Phêrô và các tông đồ. Nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, Phêrô đã lược lại lịch sử cứu độ để chứng minh Đức Giêsu chính là Tôi trung của Thiên Chúa. Người đã chịu đau khổ và đã sống lại từ cõi chết. Lời giảng của ông kèm theo lời cam kết chắc chắn: "Về điều này, chúng tôi xin làm chứng". Ông cũng bạo dạn quả quyết rằng, những người đang hiện diện trước mặt ông cũng có một phần trách nhiệm trong cái chết của Chúa Giêsu, nhưng vì thiếu hiểu biết, nên trách nhiệm ấy cũng nhẹ hơn. Từ đó, Ông kêu gọi họ hãy sám hối ăn năn để xin ơn tha thứ. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục vác thánh giá và chịu khổ hình nơi gương mặt của những người bất hạnh, bệnh tật, nghèo đói. Mỗi chúng ta đề có bổn phận quan tâm đến họ. Và thật lạ lùng, khi quan tâm giúp đỡ những người trên đây là quan tâm giúp đỡ chính Chúa Giêsu. Xóa bỏ hận thù, thực thi bác ái, cổ võ hiệp nhất, đó là những việc cần thực thi để xứng đáng là chứng nhân của Đấng Phục sinh.

Làm sao có thể làm chứng cho Đấng Phục sinh, nếu chúng ta không thực sự xác tín vào Người? Vì vậy, Lời Chúa mời gọi chúng ta: Hãy sám hối và cố gắng sống thánh thiện. Thánh Gioan đã cho chúng ta những lời khuyên cụ thể và chi tiết: sống trong sạch, không dối trá, trung thành với các giới răn (Bài đọc II). Chỉ khi nào tuân giữ những điều này, chúng ta mới có khả năng làm chứng cho Đấng Phục sinh đang hiện diện trong đời sống hôm nay.

Nếu lúc ban đầu, các tông đồ nghi ngờ sự kiện Phục Sinh, thì sau này, các ông lại sẵn sàng đổ máu để làm chứng cho sự kiện ấy. Cuộc gặp gỡ với Đấng Sống lại đã tiếp sức cho các môn đệ. Từ những người sợ hãi nhút nhát đóng kín cửa vì sợ người Do Thái, các ông trở nên những chứng nhân can đảm, sẵn sàng loan báo Chúa đã sống lại, và còn hân hoan vì được xứng đáng chịu đau khổ vì Chúa (x. Cv 5, 41). Sau này, tất cả các tông đồ đã chấp nhận hy sinh mạng sống để làm chứng về điều họ đã được gặp gỡ, tức là Đấng đã từ cõi chết sống lại.

Xã hội hôm nay rất đang cần những chứng nhân của Đấng Phục sinh. Giữa đêm đen của thù hận, bạo lực, gian dối và mưu mô mánh lới, cần lắm những ánh sáng đến từ cuộc sống lương thiện, bao dung, trung thực. Để có thể trở nên một nhân chứng của Đấng Phục sinh, chúng ta phải gặp gỡ Người, phải xác tín nơi Người và phải cảm nhận niềm vui của Đấng đã sống lại. Như thế, mặc dù không nhìn thấy Đấng Phục sinh bằng con mắt thể lý, những người đương thời có thể nhận ra Người nơi chính cuộc sống của chúng ta.

"Hướng ngược gió, càng hợp để bay, tôi không sợ ngàn vạn người ngăn cản, mà chỉ sợ chính bản thân mình đầu hàng" (Sưu tầm).

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Hải Phòng


Phiền Muộn, Bối Rối, & Bình An

Ngày hôm nay người ta xây được những căn nhà cao hơn, phòng ốc rộng hơn, sân vườn xanh cỏ hơn, nhưng tâm hồn của nhân loại bắt đầu co cụm nhỏ dần héo úa tàn khô.

Ngoài thất vọng, tuần Thánh và tuần Phục Sinh đầu tiên của dòng lịch sử ơn cứu rỗi cũng là hai tuần lễ đong đầy những phiền muộn, bối rối, và lo lắng không lối thoát cho những người môn đệ của Đức Giêsu.

Bắt đầu từ những giây phút bỏ chạy trong Vườn Cây Dầu cho tới giây phút chứng kiến cảnh tảng đá đang lăn tròn che kín ngôi mộ, những người Kitô hữu đầu tiên đã trải qua hết thất vọng này sang thất vọng khác. Thoạt tiên là chuyện Giuđa bán đứng đại sư phụ với một cái hôn, nối tiếp là bản án tử của Đức Giêsu được đóng dấu bởi nhà nước bảo hộ La Mã, theo sau là nhọc nhằn con đường thập giá với đá và sỏi dẫn lên Núi Sọ, tiếp nối là kinh hoàng tiếng đinh xé rách thân xác và sắc nhọn tiếng búa lạc thần đôi mắt của Đức Giêsu. Trong thất vọng, cuối cùng mọi người dẫn nhau ra về sau khi tảng đá đóng lại che kín xác Đức Giêsu.

Nhưng rất tiếc, đúng như cụ Tiên Điền đã từng nói, “đùng đùng gió giục mây vần,” câu chuyện thất vọng không chịu dừng lại ở chỗ tảng đá được lăn tới chôn lấp một xác chết, nhưng được tiếp nối với một bản tin động trời do những người đàn bà hốt hoảng chạy về thông báo vào sáng sớm thứ Hai của ngày đầu tiên trong tuần lễ. Theo như những người nữ môn đệ, xác Đức Giêsu đã không còn nằm trong ngôi mộ đá nữa. Mà nếu xác Đức Giêsu đã biến mất, không còn trong ngôi mộ, không ai trên cõi đời vào đầu thiên niên kỷ lại dùng niềm tin Phục Sinh để giải thích cho hiện tượng ngôi mộ trống; nhưng, người người từ những em bé cho tới những cụ già, từ những nhà lãnh đạo tôn giáo cho tới chính quyền bảo hộ La Mã đều tin rằng có người đã lẻn vào ngôi mộ đánh cắp mang xác Đức Giêsu đi dấu cho một âm mưu đen tối (Ga 20,2). Bởi thế, khi bản tin xác Đức Giêsu đã biến mất, nhà nước bảo hộ La Mã không chịu nhắm mắt bỏ qua, nhưng sẽ bắt đầu một cuộc tảo thanh, lùng kiếm xác của Ngài trên từng góc phố và trong từng căn nhà của kinh thành Giêrusalem. Khi cuộc săn lùng thi thể của Đức Giêsu bắt đầu, những người nam môn đệ sẽ là những nhân vật đầu tiên nằm trong danh sách bị truy nã, bị săn lùng, và bị tra khảo. Cho nên, không ai lạ chi nếu những cánh cửa của căn nhà nơi những người môn đệ đang ẩn sâu trốn kỹ bắt đầu từ đêm khuya của ngày thứ Năm tuần trước lại càng thêm cửa đóng then cài vào ngày thứ Hai đầu tuần của người Do Thái. Bởi thế, khi nhận được bản tin là xác Đức Giêsu đã biến mất, những người môn đệ của Đức Giêsu đã không đứng dậy hân hoan nhảy múa hét to, “Tạ ơn Chúa! Allelujah! Ngài đã sống lại!”, nhưng mà là ngược lại. Cho nên, vào ngày Phục Sinh đầu tiên, ngoài thất vọng, những người môn đệ lại có dịp nếm thêm mùi vị đắng cay của muộn phiền, bối rối, và hồi hộp chờ đợi giây phút cánh cửa căn nhà bật tung bởi xích xiềng, giáo mác và áo trận La Mã.

Cánh cửa rồi cũng mở ra, nhưng không phải bởi chính quyền La Mã, mà là hai người môn đệ nguyên gốc Emmau. Trong khi những người nam môn đệ của Đức Giêsu đang run sợ, tiếp tục giấu mình sâu hơn nữa vào trong bóng tối của căn phòng kín, hai người môn đệ vừa từ thị trấn Emmau quay về cung cấp một bản tin khác về thi hài của Đức Giêsu, lần này bản tin thật sự đã biến thành trái bom nổ tung và giựt đứt những sợi giây thần kinh căng cứng của những người môn đệ. Theo như hai người môn đệ của thị trấn Emmau, ngôi mộ đá đã trở thành ngôi mộ trống không phải bởi vì người ta cướp mất xác của Đức Giêsu cho những toan tính mờ ám, nhưng bởi vì Ngài đã phục sinh. Và chính Ngài đã hiện ra chuyện trò với họ trên suốt một quãng đường dài mười một cây số.

Trong căn phòng kín của gần hai ngàn năm về trước, bản tin về Đức Giêsu Phục Sinh đồng hành trên con đường Emmau không mang lại tiếng cười hân hoan tiếng hát tạ ơn Thiên Chúa, nhưng bản tin đã khiến cho những người môn đệ của Đức Giêsu lại thêm nặng trĩu đôi vai, hằn sâu vầng trán, thâm đen đôi mắt, bởi vì lo lắng và sợ hãi trước những tin đồn thiệt hư không biết đâu mà kiểm chứng. Vào giây phút hội ngộ giữa Emmau và Giêrusalem, ngoại trừ ông Cleopas và người môn đệ đồng hành, tâm hồn của người người trong căn phòng đóng kín cửa đều tiếp tục ngân vang khúc nhạc cung thứ nốt giáng (b) của những dòng nhạc chán nản, nghi ngờ, và hoang mang.

Không trách chi, khi Đức Giêsu với thể xác thần khí hiện ra, đứng giữa căn phòng đóng kín cửa, các người môn đệ của Đức Giêsu tin rằng họ đã thấy ma. Không biết có người nào té ra bất tỉnh hay không, nhưng nếu Đức Giêsu không chúc “Bình An cho các con” và trấn an họ bằng cách ngồi ăn cá nướng với những người môn đệ thân thương, có lẽ nhiều người đã bị máu cơ tim nhồi lên mà chết bởi biến cố Phục Sinh mà họ đang chứng kiến tận mắt trong căn phòng kín.

Suy Niệm

Trong ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, lời chúc bình an của Đức Kitô Phục Sinh vẫn là một điều mà bạn và tôi đang cần đến. Thế giới đã tiến vào thiên niên kỷ thứ ba với bao nhiêu tiện nghi vật chất phục vụ cho những nhu cầu cần thiết của con người. Nhưng những tiện nghi vật chất này cũng có khả năng biến thành một con dao hai lưỡi cắt đứt tay nhân loại khiến cho thế giới tiếp tục đói khát bình an.

Nhân loại ngày hôm nay đã chế được hỏa tiễn và phi thuyền bay cao lên không gian. Đồng hành với những bay cao và bay xa vào trong vũ trụ là những hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân có khả năng sát hại không biết bao nhiêu mạng người chỉ trong chớp mắt.

Ngày hôm nay người ta đã xây dựng được bao nhiêu đường xa lộ siêu tốc dẫn nối từ thành phố này sang phố thị khác, từ quốc gia này sang vương quốc kia, nhưng con đường ngăn ngắn nho nhỏ dẫn sang nhà hàng xóm cỏ hoang mọc dày che kín lối đi.

Ngày hôm nay người ta xây được những căn nhà cao hơn, phòng ốc rộng hơn, sân vườn xanh cỏ hơn, nhưng tâm hồn của nhân loại bắt đầu co cụm nhỏ dần héo úa tàn khô.

Nhân loại ngày hôm nay bay vào trời xanh thường xuyên hơn, nhiều hơn, nhưng yêu thương ít hơn, bù lại cỏ dại của toan tính, hiềm khích, và chỉ trích tiếp tục lún phún mọc cao trong từng mảnh tâm hồn.

Ngày hôm nay nhân loại có nhiều tiền bạc mua sắm nhiều hơn, nhưng hạnh phúc và bình an, hai món hàng cần thiết như hơi thở trong không gian như lương thực cho cơ thể không mấy người mua sắm được. Thiếu vắng bình an, cây hạnh phúc trong tâm hồn rũ tàn chết khô, cây bối rối và cây phiền muộn xum xuê vươn cánh đơm bông nở nhụy. Khi hai tòa nhà cao ngất trời của Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế của thành phố New York hóa ra tro bụi vào một buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001, mọi người trên thế giới đã biết rằng, không còn nơi nào trên quả địa cầu còn được gọi là vùng đất của bình an. Thật vậy, thế giới càng văn minh, nhân loại càng mất bình an chính vì đời sống tâm linh ngày càng trở nên khan hiếm hoặc héo úa trong từng mảnh tâm hồn của nhân loại. Tương tự như những người môn đệ của thuở xưa, bởi không có tâm thương yêu, tâm tha thứ, bởi không có niềm tin và Đức Giêsu hiện diện trong căn phòng kín của tâm hồn, bạn và tôi sẽ tiếp tục thất vọng, lo lắng, phiền muộn, và bối rối với cuộc sống và với chính mình. Vào những lúc bạn cảm thấy phiền muộn, bối rối, thất vọng với chính mình và với cuộc sống, mời bạn, chúng ta cùng hướng về căn phòng đóng kín cửa với Đức Giêsu Phục Sinh đang hiện diện ở giữa căn phòng, và nói với Ngài:

Lời Nguyện

Lạy Chúa, trong Mùa Phục Sinh, xin chúc lành trên con lời chúc bình an năm xưa để con thôi không còn lo lắng, phiền muộn, và bối rối như những người môn đệ trong căn phòng đóng kín cửa. Lạy Chúa, những khi con thất vọng với chính con, với những sa ngã, với những lỗi lầm của con và của anh chị em con, xin ban cho con lời chúc bình an của Chúa năm xưa, để tâm hồn của con thôi lo lắng, buồn phiền, nhưng ngập tràn hạnh phúc, và bình an.

Lm. Nguyễn Trung Tây
Trích từ nguồn: Tòa Giám Mục Thái Bình
Reply


Forum Jump:


Users browsing this thread: 1 Guest(s)